Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú (Phần 5)

 

Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú

(Phần 5)

地藏菩薩本願經科注

Đường Tam Tạng sa-môn Thật Xoa Nan Đà dịch kinh

唐三藏沙門實叉難陀譯

Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa soạn

古鹽匡菴青蓮苾芻靈椉父輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

(theo bản in tháng Bảy năm 2017

của Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội, Đài Loan)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

 

Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú

Quyển Trung

 

3.2.2.3. Thị nghiệp báo sai biệt (chỉ dạy nghiệp báo sai biệt)

3.2.2.3.1. Phẩm đề (tên gọi của phẩm kinh này)

          (Kinh) Địa ngục danh hiệu, phẩm đn.

          ()地獄名號品第五

          (Kinh: Phẩm thứ năm: Danh hiệu của địa ngục).

 

3.2.2.3.2. Phẩm văn (kinh văn trong phẩm này)

3.2.2.3.2.1. Phổ Hiền thỉnh thuyết (ngài Phổ Hiền xin nói [danh hiệu của địa ngục])

          (Kinh) Nhĩ thời, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Địa Tạng Bồ Tát ngôn: – Nhân giả! Nguyện vị thiên long tứ chúng, cập vị lai, hiện tại nhất thiết chúng sanh, thuyết Sa Bà thế giới cập Diêm Phù Đề tội khổ chúng sanh, sở thọ báo xứ, địa ngục danh hiệu, cập ác báo đẳng sự.

          ()爾時普賢菩薩摩訶薩白地藏菩薩言仁者願為天龍四眾及未來現在一切眾生說娑婆世界及閻浮提罪苦眾生所受報處地獄名號及惡報等事。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch cùng Địa Tạng Bồ Tát rằng: – Thưa nhân giả! Xin hãy vì trời, rồng, tứ chúng, và hết thảy chúng sanh trong đời vị lai nói danh hiệu của địa ngục là chỗ thọ báo của chúng sanh tội khổ trong thế giới Sa Bà và Diêm Phù Đề, và những chuyện ác báo v.v…)

          Kế đó, sau phần nghiệp duyên và nghiệp cảm, bèn hỏi tướng nghiệp báo sai biệt trong địa ngục; vì thế nói là “nhĩ thời” (lúc bấy giờ). Trong tiếng Phạn, danh xưng Bật Thâu Bạt Tha (Viśva-bhadra), hoặc Tam Mạn Bạt Đà (Samantabhadra), dịch sang tiếng Hán là Phổ Hiền. Theo kinh Bi Hoa (Karunā-pundarīka-sūtra), Ngài chính là vương tử thứ năm của vua Vô Tránh Niệm (Araṇasmṛti) trong quá khứ, tên là Vô Sở Úy (Vaiśāradyāni). Do hạnh thù thắng hơn các vị Bồ Tát khác, nên được Phật Bảo Tạng (Ratnagarbha) đổi tên thành Phổ Hiền. Sách Pháp Hoa Văn Cú viết: “Đạt tột đỉnh của phục đạo[1], do nhân trọn khắp, nên gọi là Phổ. Sau khi đoạn đạo, gần với bậc cực thánh, nên nói là Hiền”. Kim Quang Minh Kinh Sớ viết: “Địa vị tương tự Chân, mỗi địa vị đều thuận theo, không địa vị nào chẳng có. Như ngài Phổ Hiền tu trọn vẹn hạnh Phổ Hiền, địa vị gần với đấng tôn quý tột bậc, địa vị tương tự ấy cao lắm”. Pháp Hoa Văn Cú Ký viết: “Đã chứng thì gọi là Chân, chưa chứng thì gọi là Tự (tương tự)”. Đức Phổ Hiền là bậc Đẳng Giác, do so với địa vị cực thánh (Phật) mà gọi là Tự, cho nên đặt tên là Hiền.

          Phẩm này nhờ ngài Phổ Hiền phát khởi, vì kiến hạnh đã trọn khắp pháp giới thì bi nguyện mới có thể đặc biệt to lớn. Do ngài Phổ Hiền tin tưởng Như Lai Tạng, lại còn biểu thị đã chứng Xuất Triền Pháp Thân (Pháp Thân hiển lộ sau khi lìa khỏi phiền não), vì khiến cho hết thảy chúng sanh thấu đạt “toàn thể y báo và chánh báo của A Tỳ ở ngay trong tự tâm của bậc cực thánh. Thân và cõi của đức Tỳ Lô Giá Na chẳng vượt khỏi một niệm của phàm phu hạ căn” thì mới thấu hiểu bổn nguyên, thành tựu cực trí (trí của bậc cực thánh, Phật trí). Quán chiếu ngược lại Phật trí, sẽ thấy chẳng khác sơ tâm. Nhưng phẩm đức và địa vị của hai vị Đại Sĩ (Địa Tạng và Phổ Hiền) ngang nhau, trí hạnh bình đẳng, lẽ đâu [đức Phổ Hiền] chẳng biết danh hiệu và chuyện trong địa ngục hay sao? Ấy là vì đức Địa Tạng phân thân trong cõi âm, giáo hóa Nê Lê, Ngài nêu bày [những sự thật về địa ngục] trước mặt mọi người, chẳng ai không tin nhận. Do vậy, [đức Phổ Hiền] đặc biệt nêu câu hỏi.

          “Nhân giả” (仁者) [là từ ngữ] tôn xưng đấng Từ Dục (慈育, nuôi nấng chúng sanh bằng lòng Từ). Nhân từ chính là tổng thể của tâm đức (các phẩm đức của tâm), do đức to lớn của trời đất là Sanh. Con người do coi trọng sự sống, tự nhiên sẽ có lòng trắc ẩn, từ ái, đối với mọi loài sẽ đều là mùa Xuân. Vì thế, xét theo ý nghĩa, chữ Nhân (仁) do Nhân (人) và Nhị (二) ghép thành. “Nhị” biểu thị trời trên, đất dưới. Con người có thể chế ngự những dục vọng của chính mình, sẽ hòa lẫn thành một Thể với trời đất, rỗng rang, tột bậc công chánh. Trời tượng trưng cho chư Phật, đất tượng trưng cho chúng sanh. Tâm con người xen lẫn, kết hợp vào đó, thẳng thừng khiến cho chúng sanh và Phật có cùng một Thể. Vì thế, gọi là “nhân giả” (đấng có lòng nhân).

          “Nguyện vị thiên, long đẳng” (Xin hãy vì hàng trời, rồng v.v…): Do nghe nói chẳng cần biết là nam, nữ v.v… hễ đã tạo tội, sẽ cảm nghiệp, sẽ đều cùng hứng chịu [khổ quả] như nhau. Vì thế, [địa ngục ấy] được gọi là Vô Gián. Sau đó, lại nghe nói “nhất thiết chúng sanh vị giải thoát đẳng” (hết thảy chúng sanh chưa giải thoát…), cho nên nguyện xin đức Địa Tạng hãy vì những kẻ như thế mà nói. “Chúng sanh tội khổ” chính là những kẻ thọ báo. Chỗ để thọ báo nói chung là lục đạo, nói riêng thì chỉ có địa ngục. Những chuyện ác báo  chính  là  cảnh  phải  trải

qua khi thọ báo. Nói đại lược, có chín loại:

          – Nếu nghe pháp mà nói lưỡi đôi chiều, gây rối người khác, sẽ đọa làm loài chó cụp tai.

          – Nghe pháp mà tâm không suy ngẫm pháp vị, đọa làm con lừa tai dài.

          – Keo tham, ăn một mình (không chia sẻ với người khác), đọa trong ngạ quỷ. Sanh làm người, sẽ là kẻ nghèo đói.

          – Cho người khác ăn những thứ dơ bẩn, sẽ đọa làm lợn, bọ hung.

          – Cướp đoạt đồ vật của người khác, sẽ đọa làm dê, bị người ta lột da, ăn thịt.

          – Thích trộm đồ vật của người khác, sẽ đọa làm trâu, ngựa; sanh làm người thì làm tôi tớ.

          – Thích bịa chuyện, đồn đãi chuyện xấu của người khác, sẽ đọa địa ngục, bị nước đồng sôi rót vào miệng, bị kéo lưỡi ra để cày bừa.

          – Thích uống rượu say sưa, sẽ đọa trong Phí Thỉ (沸屎, phân sôi) Nê Lê, thoát khỏi địa ngục sẽ làm con tinh tinh (chimpanzee), làm người thì là kẻ ương bướng, ngu xuẩn.

          – Làm người trên mà đánh đập kẻ dưới, khiến họ không kêu vào đâu được, sẽ đọa vào địa ngục. Thoát ra bèn làm trâu cày, bị xỏ mũi, chở nặng, hòng đền trả tội ương.

          Nếu nói rộng ra, sẽ là vô lượng!

          (Kinh) Sử vị lai thế Mạt Pháp chúng sanh, tri thị quả báo.

          ()使未來世末法眾生知是果報。

          (Kinh: Khiến cho chúng sanh đời Mạt Pháp trong thuở mai sau biết những quả báo ấy).

          Từ chữ “sử vị lai” (khiến cho đời mai sau) trở đi, nói rõ ý nghĩa chánh yếu của [việc thưa hỏi danh hiệu] địa ngục: Sở dĩ chúng sanh chịu khổ là vì họ chẳng biết quả báo. Phàm “không, vô sở hữu, vô tướng, vô nguyện” là trí huệ trọng yếu trong đạo, nhưng chẳng thể nói với kẻ mới học! Họ nghe nói “vô sở hữu” bèn buông tuồng cái tâm, chẳng còn tu giới nữa. Đã nói “hết thảy đều không”, cần gì phải làm [lành, tránh ác] chi nữa? Phàm là bậc thiện tri thức muốn dạy kẻ mới học, phải nói dần dần về ma sự để tạo nhân duyên ngăn ngừa ma; [cũng như nói] chuyện tội khổ trong đường sanh tử, năm đường rành rành, khiến cho họ tin tội phước. Đã hiểu rõ mọi chuyện thì  mới  có  thể  nói [không, vô tướng, vô

tác v.v…] Do đó, phải khiến cho vị lai chúng sanh biết quả báo!

3.2.2.3.2.2. Địa Tạng thừa đáp (ngài Địa Tạng vâng theo lời hỏi mà giải đáp)

3.2.2.3.2.2.1. Khiêm cung hứa thuyết (khiêm cung, hứa sẽ trả lời)

          (Kinh) Địa Tạng đáp ngôn: – Nhân giả! Ngã kim thừa Phật oai thần, cập Đại Sĩ chi lực, lược thuyết địa ngục danh hiệu, cập tội báo, ác báo chi sự.

          ()地藏答言仁者我今承佛威神及大士之力略說地獄名號及罪報惡報之事。

          (Kinh: Địa Tạng đáp rằng: “Thưa nhân giả! Tôi nay nương vào oai thần của đức Phật và sức của Đại Sĩ, nói đại lược danh hiệu của địa ngục và các chuyện tội báo, ác báo”).

          “Thừa Phật oai thần” (Nương vào oai thần của đức Phật): Đấng giáo chủ cực thánh, nương nhờ vào Ngài là chuyện đương nhiên, nhưng nói “và sức của Đại Sĩ” là vì lẽ nào? Ngài Phổ Hiền là đích tử của Phật, tôn quý không ai bằng, sức hạnh nguyện sâu xa; do vậy, tôn xưng Ngài là Đại Sĩ. Truyện (phần chú giải kinh Dịch) viết: “Thông cổ kim, nhiên biện phủ? Vị chi Sĩ” (Thông hiểu xưa nay, biện định đúng sai thì gọi là Sĩ). “Sĩ” (士) là sự, do chữ Thập (十), biểu thị “có nhiều sự việc, mọi chuyện trong vũ trụ đều thuộc về phận sự của ta”, [ghép với] chữ Nhất (一), hàm nghĩa “một và khác đều quán thông”. Vì thế, Khổng Tử nói: “Thôi nhất hợp thập vi Sĩ” (Sĩ là người có thể từ một mà suy ra mười). Nay vạn hạnh của ngài Phổ Hiền cũng thế, do một mà thành mười, cho đến do ngàn mà thành vạn, hiểu rõ vạn hạnh có cùng một tánh, độ chúng sanh bằng nhất tâm. Do có thể kiến lập chuyện cực đại, cho nên gọi là Đại Sĩ. “Lược thuyết” (nói đại lược) là từ ngữ khiêm tốn.

3.2.2.3.2.2.2. Đáp thích ngục báo (trả lời, giải thích về những báo ứng trong địa ngục)

3.2.2.3.2.2.2.1. Đáp địa ngục danh hiệu (trả lời về danh hiệu địa ngục)

3.2.2.3.2.2.2.1.1. Tổng thị ngục xứ (nói chung về nơi chốn của địa ngục)

          (Kinh) Nhân giả! Diêm  Phù  Đề  Đông  phương  hữu  sơn, hiệu viết Thiết Vi. Kỳ sơn hắc thúy, vô nhật nguyệt quang.

          ()仁者閻浮提東方有山號曰鐵圍。其山黑邃無日月光。

          (Kinh: Thưa nhân giả! Phía Đông Diêm Phù Đề có núi tên là Thiết Vi (Cakravāda). Núi ấy tối tăm, không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng).

 

          Trong phẩm Địa Ngục của kinh Thế Ký thuộc quyển mười chín của Trường A Hàm, đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Thử tứ thiên hạ hữu bát thiên thiên hạ vi nhiễu. Kỳ ngoại, phục hữu đại hải thủy, châu biến vi nhiễu bát thiên thiên hạ. Phục hữu Đại Kim Cang sơn, nhiễu đại hải thủy. Kim Cang sơn ngoại, phục hữu đệ nhị Đại Kim Cang sơn. Nhị sơn trung gian, yểu yểu minh minh. Nhật, nguyệt, thần, thiên hữu đại oai lực, bất năng dĩ quang chiếu cập ư bỉ bát đại địa ngục, cố vân hắc thúy” (Trong tứ thiên hạ này, có tám ngàn thiên hạ vây quanh. Phía ngoài lại có biển nước lớn, vây quanh trọn khắp tám ngàn thiên hạ. Lại có núi Đại Kim Cang (Vajra-parvata) vây quanh biển cả. Ngoài núi Kim Cang, lại có rặng núi Đại Kim Cang thứ hai. Khoảng giữa hai núi, tối tăm mờ mịt. Mặt trời, mặt trăng, thần hoặc trời có đại oai lực chẳng thể dùng quang minh chiếu thấu tám đại địa ngục trong ấy. Vì thế nói là “tối tăm”).

          “Thúy” (邃) là sâu thẳm. Đã tối tăm, lại còn sâu thăm thẳm. Do vậy, luận Lập Thế A Tỳ Đàm nói: “Đức Thế Tôn nói có đại địa ngục tên là Hắc Ám. Ở phía ngoài mỗi thế giới đều có [địa ngục ấy], đều là không che phủ. Chúng sanh trong ấy tự giơ tay lên, nhưng mắt chẳng thể thấy. Dẫu cho mặt trời, mặt trăng, và các vị có oai thần to lớn, tất cả quang minh đều chẳng thể chiếu thấu nơi đó. Chư Phật xuất thế thì đại quang minh chiếu trọn khắp. Do quang minh ấy, họ mới trông thấy nhau. Phần thế giới ở giữa hai rặng núi đó và ở ngoài núi Thiết Vi được gọi là Giới Ngoại”. Do ở phía Đông Diêm Phù Đề, nên nói là “Đông phương hữu sơn” (phía Đông có núi) v.v…

3.2.2.3.2.2.2.1.2. Biệt khai ngục danh (nêu tên từng địa ngục riêng biệt)

3.2.2.3.2.2.2.1.2.1. Chánh chủ địa ngục (địa ngục chánh yếu)

          (Kinh) Hữu đại địa ngục, hiệu Cực Vô Gián. Hựu hữu địa ngục, danh Đại A Tỳ.

          ()有大地獄號極無間。又有地獄名大阿鼻。

          (Kinh: Có đại địa ngục tên là Cực Vô Gián. Lại có địa ngục, tên là Đại A Tỳ).

          Hai đại địa ngục Vô Gián và A Tỳ, [được các kinh luận] nói gộp lại, hoặc nói tách ra, từ xưa đã khó biện định. Theo kinh Trường A Hàm và kinh Quán Phật Tam Muội, thì nói gộp thành một ngục. Kinh tự hỏi đáp: “Vì sao tên là địa ngục A Tỳ?” Phương này dịch là địa ngục Vô Gián. Kinh này và kinh Lăng Nghiêm coi đó là hai ngục. Kinh [Lăng Nghiêm] nói: “Cửu tình nhất tưởng, hạ đỗng hỏa luân. Thân nhập phong hỏa nhị giao quá địa, khinh sanh hữu gián, trọng sanh Vô Gián. Thuần tình, tức trầm nhập A Tỳ ngục” (Chín phần tình, một phần tưởng, bèn trầm luân, lọt qua hỏa luân. Thân đi vào chỗ lửa và gió giao xen, tội nhẹ thì sanh vào ngục có gián đoạn, tội nặng thì sanh vào địa ngục Vô Gián. Thuần tình thì chìm xuống, vào trong địa ngục A Tỳ). Chuyện này do kinh nói khác biệt, các vị dịch sư mỗi người dịch mỗi khác, khiến cho hai ngục được gộp lại hay tách ra khác nhau. Riêng tôi cho rằng: Ví như hai họ cùng sống trong một căn nhà, ra vào cùng bằng một cửa. Mỗi họ có quyến thuộc riêng. Người ngoài nhìn vào, không ai chẳng cho là giống nhau hay khác nhau. Cùng ra bằng một cửa, nói là một thì có trở ngại gì? Đã là hai họ, chẳng ngại nói là hai! Do hai ngục cùng ở một chỗ, chịu tội đại lược như nhau, cho nên là một hay hai không nhất định.

          A là Vô, Tỵ (Vici) là Giá (遮, ngăn che), hoặc là Cứu. Nói gộp lại là Vô Giá, Vô Cứu (không ngăn trở, không cứu giúp). Theo kinh Thập Luân, tội Ngũ Nghịch là cực ác nhất. Lại có bốn loại tội lớn, giống như bốn tội nghịch, phạm tội căn bản v.v… Nếu kẻ nào phạm một tội [trong các tội] đó, sau khi thân hoại, mạng hết, đều đọa vào địa ngục A Tỳ. Đức Phật bảo Tăng Hộ: “Hữu cửu chủng nhân thường xử A Tỳ đại địa ngục trung: Nhất, thực Tăng vật; nhị, Phật vật; tam, sát phụ; tứ, sát mẫu; ngũ, sát A La Hán; lục, phá hòa hợp Tăng; thất, phá tỳ-kheo tịnh giới; bát, phá phạm tịnh hạnh ni; cửu, tác Nhất Xiển Đề. Thị cửu chủng nhân hằng tại địa ngục” (Có chín loại người thường ở trong đại địa ngục A Tỳ: Một, ăn đồ của Tăng; hai, ăn vật cúng Phật; ba, giết cha; bốn, giết mẹ; năm, giết A La Hán; sáu, phá hòa hợp Tăng; bảy, phá tịnh giới của tỳ-kheo; tám, phá tỳ-kheo-ni tịnh hạnh; chín, là kẻ Nhất Xiển Đề. Chín loại người ấy thường ở trong địa ngục).

          Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói sự khổ trong địa ngục A Tỳ hơn ngàn lần mười đại địa ngục trước đó, thọ mạng cả một kiếp. Kinh Quán Phật Tam Muội Hải lại nói: “A Tỳ địa ngục tung quảng bát thiên do-tuần, thất trùng thiết thành, thất tằng thiết võng, đao lâm, kiếm lâm đẳng, các các thất trùng, các hữu thập bát Hàn Băng đẳng ngục” (Địa ngục A Tỳ có kích thước mỗi bề là tám ngàn do-tuần, bảy lớp thành sắt, bảy tầng lưới sắt, rừng đao, rừng gươm v.v… mỗi thứ đều có bảy tầng. Mỗi mỗi đều có mười tám ngục như Hàn Băng v.v…) Đấy chính là các ngục như Tứ Giác, Phi Đao v.v… trong phần kinh văn tiếp theo, đều là quyến thuộc của A Tỳ. Vì thế, trong bộ luận Lập Thế A Tỳ Đàm, sau khi giảng giải chuyện sanh vào tám địa ngục xong, phẩm thứ chín bèn nói tới các địa ngục ở rìa ngoài, như Nhiệt Hôi (熱灰, tro nóng), Phẩn Thỉ (糞屎, phân tiểu) v.v… đều ở nơi đó, tức là như trong phần sau, sẽ đặt ra một khoa riêng cho các địa ngục quyến thuộc. Đó là cách biện định mẫu mực, các hậu hiền chớ nên không biết!

3.2.2.3.2.2.2.1.2.2. Quyến thuộc đẳng ngục (các địa ngục quyến thuộc)

3.2.2.3.2.2.2.1.2.2.1. Ngục số vô hạn (số lượng địa ngục vô hạn)

3.2.2.3.2.2.2.1.2.2.1.1. Liệt danh (kể tên)

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Tứ Giác.

          ()復有地獄名曰四角。

          (Kinh: Lại có địa ngục, tên là Bốn Cạnh).

          [Trong các đoạn kế tiếp] đều nói “phục hữu” (lại có), do các ngục ấy đều là quyến thuộc của đại địa ngục A Tỳ. Loại này rất nhiều, cho nên dùng hai chữ ấy để chỉ ra. Tứ Giác là như kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Hữu nhân thật phi sa-môn, tự vị sa-môn. Nhược văn phụ nữ ca, vũ, hý, tiếu, trang nghiêm cụ thanh, bất thiện quan sát, tâm sanh ái nhiễm, lậu thất bất tịnh, thân hoại, mạng chung, đọa ư Hợp đại địa ngục thiết mạt hỏa xứ (thị Hợp địa ngục đệ thập lục xứ). Sở vị nhiệt thiết Tứ Giác địa ngục, châu vi thiết bích ngũ bách do-tuần, tùng thượng vũ hỏa, vũ thiết. Nhất thiết thân phần phân tán vi mạt, thường chử, thường thiêu” (Có người thật sự chẳng phải là sa-môn mà tự cho là sa-môn. Nếu nghe âm thanh ca, múa, vui cười, hoặc [tiếng va chạm từ] các vật trang sức… của phụ nữ mà chẳng khéo quan sát, tâm sanh ái nhiễm, rò rỉ chất bất tịnh (xuất tinh) thì khi thân hoại, mạng hết, sẽ đọa trong Hợp đại địa ngục (địa ngục ép lại) ở chỗ Vụn Sắt Bốc Lửa (tức là chỗ thứ mười sáu trong Hợp địa ngục). Đó gọi là địa ngục Bốn Cạnh Sắt Nóng, chung quanh toàn là vách sắt, rộng đến năm trăm do-tuần. Từ trên tuôn xuống lửa và sắt, hết thảy thân thể [của tội nhân] tan nát thành vụn, thường bị nấu, thường bị đốt).

          Theo Lập Thế A Tỳ Đàm Luận, trong địa ngục Hắc Thằng (黑繩, dây đen) hết thảy đều bằng sắt, ngày đêm thiêu đốt. Tội nhân trong ấy bị ngục tốt truy bắt, quăng cho nằm sóng soài trên mặt đất. [Ngục tốt] căn theo chỗ những sợi dây màu đen giăng mắc để chặt [thân thể tội nhân] bằng búa to, hoặc thành hình bát giác, hoặc thành lục giác, hoặc thành bốn đoạn. Lại có khi chặt vụn từ đầu đến chân như từng đốt mía. Đấy là do khi xưa làm người, [những tội nhân đó] đã tự tay hoặc bảo kẻ khác chặt, xẻo tay, chân, mũi, tai, chặt ngang lưng, xẻo thịt v.v… [người khác] nên thọ sanh trong đó!

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Phi Đao.

          ()復有地獄名曰飛刀。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Đao Bay).

          Phi Đao (đao bay) là địa ngục Đao Luân (刀輪, vầng đao). Kinh Quán Phật Tam Muội Hải quyển năm nói: “Đao Luân địa ngục giả, tứ diện đao sơn. Ư chúng sơn trung, tích đao như chuyên. Hư không trung hữu bát bách vạn ức cực đại đao luân, tùy thứ nhi hạ, do như vũ trích” (Địa ngục Đao Luân bốn phía là núi đao. Trong các quả núi, chứa đao như ngói. Trong hư không, có tám trăm vạn ức vầng đao hết sức to, lần lượt rơi xuống giống như giọt mưa). Luận Lập Thế gọi chúng là “mưa gươm, mưa búa rìu” v.v… Chúng rơi xuống chỗ nào, các phần thân thể bị chặt đứt, đầu đứt rời như chẻ củi, tung tóe, hỗn độn. Đó là do xưa kia làm người, [các tội nhân ấy] theo đuổi việc chiến đấu, hoặc cho kẻ khác vũ khí, sai họ chiến đấu, tụ tập nhiều người, tùy ý sát hại. Do nghiệp căn ấy, bèn sanh trong đó.

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Hỏa Tiễn.

          ()復有地獄名曰火箭。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Tên Lửa).

          Theo kinh Quán Phật Tam Muội, Hỏa Tiễn (tên lửa) chính là năm trăm ức địa ngục Thiết Cơ (鐵機, máy sắt): Có một cái giường sắt, kích thước mỗi bề vừa đúng bốn trăm do-tuần; trên đó, cắm đầy kim tua tủa. Giữa các mũi kim, đều có vạn ức nỏ sắt. Trên cái lẫy của nỏ sắt, có trăm ức lưỡi đao bén nhọn. Tội nhân sanh [vào địa ngục này, sẽ nằm] trên cái máy sắt đó, vạn ức cây kim sắt từ dưới đưa lên, các mũi kim đều ngửa lên, hay cắm xuống. Vô lượng nỏ sắt đồng thời đều kéo căng, mỗi mũi nỏ sắt đều bắn vào tim tội nhân. Một ngày, một đêm, sáu trăm ức lần sống chết. Luận Lập Thế nói: “Chúng sanh ngu si trong thế giới, vì tham dục mà bất hiếu với cha mẹ, chẳng kính trọng sư trưởng, chẳng vâng theo sự dạy dỗ tốt lành, giết hại chúng sanh, nuôi nấng những kẻ gian trá, cho nên hứng chịu báo này”.

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Giáp Sơn.

          ()復有地獄名曰夾山。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Núi Kẹp).

          Giáp Sơn (núi kẹp lại): Luận Tam Pháp Độ[2] viết: “Địa ngục Chúng Hợp: Chúng sanh mắc tội, do sợ hãi ngục tốt, vô lượng trăm ngàn người chạy vào giữa núi. Đã vào rồi, tự nhiên trước sau bốc lửa ngăn chặn họ, hai bên núi tự ép lại như cối xay. Máu tuôn như sông, xương, thịt tan nát hết sạch. Những kẻ sanh trong ấy là do thích cầm đầu giày vò chúng sanh”. Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Nhị sơn kiên tiên, thiết diễm hỏa nhiên, lưỡng sương tác thế, nhất thời câu lai, tạt địa ngục nhân. Tạt dĩ, ma chi, kỳ thân tán tận, vô vật khả kiến. Như thị ma dĩ, nhi phục hoàn sanh. Phục dĩ nhị sơn, như tiền tạt ma. Như thị phục tạt, phục ma, vô lượng bách thiên niên tuế. Thử do chúng nghiệp sở trí” (Hai quả núi ép cứng ngắc, lửa sắt nóng cháy bừng. Hai vách núi hình thành thế gọng kìm, cùng lúc ép lại, kẹp tội nhân trong địa ngục. Kẹp rồi chà xát, thân họ vỡ tan, chẳng còn vật gì để thấy. Chà như thế xong, họ sống lại [thân thể hồi phục]. Lại bị hai quả núi kẹp chặt, chà xát như trước. Cứ kẹp chặt, xay xát như thế trong vô lượng trăm ngàn năm. Đó là do các nghiệp mà ra).

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Thông Thương.

          ()復有地獄名曰通槍。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Thương Đâm).

          “Thông thương” (giáo đâm): Thương (槍) là cái giáo dài. Lại nữa, vót nhọn gỗ để tổn thương bọn trộm cắp thì gọi là Thương. Luận Lập Thế nói: “Tội nhân đã qua địa ngục Phấn Thỉ, thấy địa ngục Kiếm Diệp (lá gươm) bèn dấy lòng yêu đắm. Như rừng cây Am La chính là con đường rừng gươm, có những mũi gai nhọn hoắt, dao găm, dao cạo, đao, gươm, lưỡi dao bén ngót trải khắp mặt đất. Tội nhân đi vào con đường rừng ấy, chịu đủ mọi nỗi khổ đâm thọc, xuyên qua v.v… Do nghiệp báo sát sanh tăng thượng và cầm đầu chiến đấu mà cảm vời”.

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Thiết Xa. Phục hữu địa ngục, danh viết Thiết Sàng.

          ()復有地獄名曰鐵車。復有地獄名曰鐵牀。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Xe Sắt. Lại có địa ngục tên là Giường Sắt).

          “Thiết Xa” (xe sắt): Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Tư báo kết tức, tắc vi hỏa xa” (Quả báo của Tư [tâm sở pháp] là thừa dịp hơi thở ra vào kết thúc, bèn thành xe bốc lửa). Theo kinh Hiền Ngu, đức Phật Thích Ca bắt đầu khởi từ tâm là lúc Ngài đang ở trong địa ngục [bị phạt kéo xe bốc lửa].

          “Thiết Sàng” (giường sắt): Theo kinh Lăng Nghiêm, “dâm tập, tắc hữu thiết sàng, đồng trụ” (do tập khí dâm dục mà có giường sắt, trụ đồng). Kinh Tạp Tạng nói: “Kim thân dâm dật, tử nhập địa ngục, ngọa chi thiết sàng, hoặc bão đồng trụ. Ngục quỷ nhiên hỏa, dĩ thiêu kỳ thân” (Thân hiện tại dâm dật thì lúc chết, sẽ đọa vào địa ngục, nằm trên giường sắt, hoặc ôm cột đồng. Quỷ canh ngục đốt lửa thiêu thân kẻ đó). Vì thế, kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Tội nhân mạng chung, tọa thiết sàng thượng. Như nhạn vương tường, lạc hắc ám xứ. Đao luân thượng hạ, trảm tỏa kỳ thân” (Tội nhân chết đi, nằm trên giường sắt. Như nhạn chúa bay lượn, rơi vào chỗ tối tăm. Các vầng đao trên dưới chặt chém thân kẻ đó).

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Thiết Ngưu. Phục hữu địa ngục, danh viết Thiết Y.

          ()復有地獄名曰鐵牛。復有地獄名曰鐵衣。

          (Kinh: Lại có địa ngục, tên là Trâu Sắt. Lại có địa ngục, tên là Áo Sắt).

 

          “Thiết Ngưu” (trâu sắt) sẽ nói tường tận trong phần sau. “Thiết Y” (áo sắt): Theo luận Lập Thế, có lúc ngục tốt chửi bới, đe dọa người chịu tội. Kẻ ác đứng lên, tuy đứng, nhưng chẳng thể cử động. Khi đó, vô lượng tội nhân hết sức hoảng hốt, run rẩy dựa dẫm, [cả đám người tội chao đảo] giống như rừng phan. Lúc ấy, vô số ngàn vạn áo ca-sa bằng sắt nóng đỏ và áo sắt nóng đỏ từ trên hư không rơi xuống. Tội nhân kêu gào: “Áo đến rồi, áo đến rồi!” Các tấm áo ấy rơi đến nơi, mỗi tấm quấn phủ [tội nhân], da, thịt, gân, xương đều cháy nát xong, áo sắt tự biến mất.  

Đó là do khi xưa làm người, đánh đập, đấm đá chúng sanh có sanh mạng. Lại có kẻ xuất gia phá giới, hưởng dụng y phục và dây thắt lưng[3] của quốc gia. Do nghiệp báo ấy, phải thọ sanh trong đó. Cổ đức nói: “Hiện kiến ca-sa ly thể, tương lai thiết điệp triền thân” (Nay thấy có [những tỳ-kheo] áo ca-sa lìa thân, trong tương lai áo sắt quấn thân) chính là nói về chuyện này.

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Thiên Nhận.

          ()復有地獄名曰千刃。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Ngàn Mũi Nhọn).

          Thiên Nhận (một ngàn mũi nhọn): Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Tự hữu chúng sanh, bất thuận sư giáo, hưng ác nghịch tâm, bất tri ân dưỡng, đạo sư, hại sư, ô sư tịnh thực, tọa sư sàng tòa, tróc sư bát vu, mạ sư, báng sư, đả sư, sát sư, dĩ chư độc dược, trì dĩ ẩm sư. Nhược sa-môn, Bà-la-môn, tác chư phi pháp, vô hữu tàm quý, bác tượng, phá tháp, kiếp pháp bảo vật, sát bá, thúc, phụ mẫu, huynh, đệ, tỷ, muội. Như thị tội nhân, mạng chung tọa ư đại kiếm sàng thượng, bách ức kiếm nhận. Nhận giai xuất hỏa, thiêu thích kỳ thân. Không trung hỏa luân, tùng thượng nhi hạ, trực phách kỳ đảnh, kỳ thân toái liệt, vi sổ thiên đoạn” (Có chúng sanh chẳng nghe theo lời thầy dạy, dấy lòng ác nghịch, chẳng biết ơn dưỡng dục, trộm cắp của thầy, hại thầy, làm bẩn thức ăn thanh tịnh của thầy, ngồi lên giường, tòa của thầy, đoạt bát của thầy, chửi thầy, hủy báng thầy, đánh thầy, giết thầy, lấy các thứ thuốc độc đưa cho thầy uống. Nếu sa-môn, Bà-la-môn làm những chuyện phi pháp, chẳng có tâm hổ thẹn, bóc [vàng, bạc, hay các bảo thạch khảm] tượng, phá tháp, cướp bảo vật trong tháp, giết bác, chú, cha, mẹ, anh em trai, chị em gái, kẻ tội nhân như thế mạng chung, sẽ ngồi trên giường gươm to lớn. Trăm ức mũi gươm bén, mỗi mũi gươm đều bốc lửa, đốt, đâm thân kẻ đó. Trong hư không, có từng vầng lửa từ trên rơi xuống, bửa thẳng vào đỉnh đầu kẻ đó. Thân kẻ đó vỡ vụn thành mấy ngàn mảnh).

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Thiết Lư.

          ()復有地獄名曰鐵驢。     

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Lừa Sắt).

          Thiết Lư (lừa sắt) sẽ được giải thích trong phần sau.

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Dương Đồng. Phục hữu địa ngục, danh viết Bão Trụ.

          ()復有地獄名曰烊銅。復有地獄名曰抱柱。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Nước Đồng Sôi. Lại có địa ngục tên là Ôm Cột).

          “Dương Đồng” (nước đồng sôi) như đã nói trong phần trên. “Bão Trụ” (ôm cột): Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Thế gian ngu si chúng sanh, nhiễm ái tà dâm, mạng chung sanh đồng trụ đầu, mãnh hỏa diễm xí, phần thiêu kỳ thân. Kinh bố hạ thị, kiến thiết sàng thượng, hữu đoan chánh nữ. Nhược thị nữ nhân, kiến đoan chánh nam, tâm sanh ái trước, tùng đồng trụ thượng, dục đầu ư địa. Đồng trụ quán thân, thiết võng lạc cảnh. Thiết tủy chư trùng, thiếp thực kỳ khu. Lạc thiết sàng thượng, nam nữ câu thời lục căn hỏa khởi. Hữu thiết chủy trùng, tùng nhãn nhi nhập, tùng nam căn xuất. Nhược ô giới giả, biệt hữu vạn ức chư tiểu trùng bối, như tiếu thư trùng. Trùng hữu thập nhị chủy, chủy đầu xuất hỏa, thiếp thực kỳ khu. Thử tà dâm báo, nhất nhật, nhất dạ, cửu bách sanh tử” (Chúng sanh ngu si trong thế gian, yêu đắm tà dâm, mạng hết bèn sanh nơi đầu cột đồng, lửa mạnh cháy hừng hực, thiêu đốt thân họ. Họ sợ hãi nhìn xuống, thấy trên giường sắt có người nữ đoan chánh. Nếu là nữ nhân thì thấy người nam đoan chánh. Tâm sanh yêu đắm, bèn từ trên cột đồng, muốn buông mình xuống đất. Cột đồng xuyên qua thân, lưới sắt thít chặt cổ. Các con trùng có mỏ bằng sắt đục khoét thân họ. Rơi xuống giường sắt, nam nữ đều sáu căn bốc lửa. Có trùng mỏ sắt từ mắt chui vào, từ nam căn chui ra. Nếu là kẻ làm ô uế người giữ giới, sẽ riêng có vạn ức các con trùng nhỏ giống như loài giòi. Mỗi con trùng có mười hai cái mỏ, đầu mỏ bốc lửa, đục khoét thân kẻ đó. Quả báo tà dâm ấy trong một ngày, một đêm, chín trăm lần chết đi, sống lại).

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Lưu Hỏa.

          ()復有地獄名曰流火。

          (Kinh: Lại có địa ngục, tên là Lửa Trôi Nổi).

          Theo Tam Pháp Độ Luận, Lưu Hỏa (tung lửa, lửa trôi nổi thành từng vầng) chính là địa ngục Đại Khiếu (大哭, gào khóc to lớn), tức là trong núi sắt lớn, lửa cháy khắp nơi, chặn đường bốn phía, không có chỗ đi. Ngục tốt ác độc, chẳng nhân từ, giận dữ hỏi: “Ngươi muốn đi đâu?” Vô duyên, vô cớ dùng lửa nung chày sắt, phang vỡ đầu tội nhân. Những kẻ trong cõi này làm cho muôn dân khốn khổ, sẽ sanh vào đó. Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, trong hai tướng của vị báo (quả báo do Vị), tướng thứ hai là phun khí thành lửa dữ bay lơ lửng, đốt tan xương, tủy [tội nhân], chính là ngục này vậy.

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Canh Thiệt. Phục hữu địa ngục, danh viết Tỏa Thủ.

          ()復有地獄名曰耕舌。復有地獄名曰剉首。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Cày Lưỡi. Lại có địa ngục tên là Chặt Đầu).

 

          Canh Thiệt (cày lưỡi) như trong phần sau sẽ giải thích. Tỏa Thủ (chặt đầu): Tam Pháp Độ Luận nói: “Hoạt địa ngục là ngục tốt dùng đao hay búa bén để mổ xẻ, chặt, chém chúng sanh thọ tội như chặt, chém đầu dê, tách rời da thịt”. Luận Lập Thế nói: “Xưa kia, khi họ làm người đã bửa vỡ toang đầu chúng sanh có mạng sống, hoặc [bổ vỡ đầu] loài cá, rắn, rết v.v… đủ mọi nghiệp, nên bị quả báo vỡ toang đầu”.

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Thiêu Cước.

          ()復有地獄名曰燒腳。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Đốt Chân).

          Theo luận Lập Thế, Thiêu Cước (đốt chân) chính là địa ngục Nhiệt Hôi (熱灰, tro nóng). Tội nhân từ đại địa ngục thoát ra, thấy phía ngoài của Nhiệt Hôi như chỗ đất trống bằng phẳng. Do thấy hình tướng ấy bèn nghĩ: “Ta nên đến đó”. Do vậy, tội nhân đến nơi đó rồi, chân giẫm lên tro nóng, da thịt liền nứt nẻ ví như khối sáp rơi vào trong lửa mạnh. Hễ giở chân lên, da thịt trở lại như cũ. Hoặc là lún đến gối, đến eo, đến cổ, hoặc chìm lỉm, chẳng hiện. Đó là do xưa kia làm người, bắt chúng sanh có sanh mạng bỏ vào lửa, hoặc trong tro nóng, hay trong cát nóng. Hoặc là tà dâm vợ người khác, coi thường phép tắc thế gian, hoặc là xuất gia mà phá giới, đi, đứng, nằm, ngồi trong chốn già-lam, hoặc giẫm đạp cảnh giới Tứ Chi Đề (Caitiya)[4], hoặc giẫm lên bóng của Chi Đề. Do nghiệp báo ấy, thọ sanh trong đó.

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Đạm Nhãn. Phục hữu địa ngục, danh viết Thiết Hoàn.

          ()復有地獄名曰啗眼。復有地獄名曰鐵丸。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Ăn Mắt. Lại có địa ngục tên là Hòn Sắt).

          Đạm Nhãn (ăn mắt): Kinh Khởi Thế nói: “Đao diệp lâm tiểu địa ngục trung, dĩ vô lượng chư bất thiện nghiệp quả báo, cố hữu thiết chủy ô, hốt nhiên sanh xuất, phi hướng địa ngục chúng sanh lưỡng bác chi thượng. An lập cước dĩ, tức dĩ thiết tủy trác bỉ tội nhân lưỡng nhãn nhi khứ” (Trong tiểu địa ngục rừng lá đao, do quả báo của vô lượng nghiệp bất thiện, cho nên có quạ mỏ sắt bỗng dưng sanh ra. Chúng nó bay tới hai vai của chúng sanh trong địa ngục, đã đặt chân vững rồi, liền dùng mỏ sắt khoét hai mắt của tội nhân mà bay đi). Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Tội nhân nhập đại kiếm thụ thiết lâm chi trung, hữu thiết thứu điểu, trác phá kỳ nhãn, nhi ẩm kỳ trấp. Thị bổn dữ tửu ác nghiệp quả báo” (Tội nhân vào trong rừng sắt có cây cối đầy gươm to, có chim ưng sắt mổ vỡ mắt họ để uống chất dịch. Đấy là do quả báo của ác nghiệp đem rượu cho cho người khác). Thiết Hoàn như trong phần trước đã nói.

          (Kinh) Phục hữu địa ngục, danh viết Tránh Luận. Phục hữu địa ngục, danh viết Thiết Phu. Phục hữu địa ngục, danh viết Đa Sân.

          ()復有地獄名曰諍論。復有地獄名曰鐵鈇。復有地獄名曰多嗔。

          (Kinh: Lại có địa ngục tên là Tranh Cãi. Lại có địa ngục tên là Rìu Sắt. Lại có địa ngục tên là Nhiều Sân Hận).

          “Thiết Phu” (rìu sắt): Kinh Trường A Hàm nói: “Xuất Thiết Hoàn địa thiết, chương hoảng trì tẩu, cầu tự cứu hộ, túc đối sở khiên, bất giác hốt chí Cân Phủ địa ngục, tung quảng ngũ bách do-tuần. Ngục tốt nộ tróc tội nhân, phác nhiệt thiết thượng. Dĩ nhiệt thiết cân phủ, chước kỳ thủ, túc, nhĩ, tỵ, thân thể, khổ độc, tân toan, bi hào khiếu hoán” (Ra khỏi thành sắt của địa ngục Thiết Hoàn (viên sắt), tội nhân kinh hoảng rảo chạy, cầu được cứu giúp, che chở. Do oán đối đời trước dẫn dắt, bất giác bỗng tới địa ngục Búa Rìu, kích thước mỗi bề năm trăm do-tuần. Ngục tốt giận dữ, bắt tội nhân quăng lên sắt nóng, dùng búa rìu bằng sắt nung nóng, bửa vỡ toang chân, tay, tai, mũi, thân thể. Khổ sở, cay đắng, kêu khóc, gào thét). Kệ rằng: “Phù sĩ chi sanh, phủ tại khẩu trung, sở dĩ trảm thân, do kỳ ác ngôn. Ưng hủy giả dự, ưng dự giả hủy, khẩu vi ác nghiệp, thân thọ kỳ tội” (Phàm người sanh ra, búa rìu nơi miệng! Sở dĩ chém thân, do vì nói ác. Đáng chê lại khen, đáng khen lại chê, miệng tạo ác nghiệp, thân hứng tội ấy).

          Tránh Luận (tranh cãi) và Đa Sân (nhiều sân hận) tuy chia thành hai ngục, nhưng do cùng một nhân mà thành. Tranh cãi do tham lam, ghen ghét mà ra. Do vì tham lam, ganh ghét, bèn lắm nỗi nóng giận. Do nhân cảm quả, nên sanh trong ấy. Tam Pháp Độ Luận nói: “Lại do tội ác, tay tự nhiên sanh ra móc sắt, sắc bén như lưỡi đao, có hình dạng như nửa vầng trăng. Ai nấy đều sanh ý kết oán: ‘Gã kia từng áp bức ta, ta nay chèn ép hắn lại’. Do vậy, sanh lòng nóng giận, vồ chụp, cấu xé nhau như cắt đốn tre, lau. Đó là những kẻ ở trong thế gian này, tâm kết oán hận mà chết, nên sanh trong đó”. Cần phải biết hết thảy đều là hư huyễn, lừa dối. Chúng sanh ngu si, sân hận chửi bới, làm hại, thậm chí đoạt mạng. Ngũ Ấm đều là Không, không ta, không người, [thế mà cứ] đấu đá lẫn nhau, ngang ngược độc hại. Do khởi lên tội nặng ấy, đọa trong tam đồ, chịu vô lượng khổ. Vì thế, Bồ Tát bảo chúng sanh rằng: “Các ngươi đừng nên đấu đá nơi những cái xét về căn bản là rỗng không. Thân người còn chẳng thể được, huống hồ gặp gỡ Phật! Nay đã đọa địa ngục, hối hận thì đã trễ rồi!”

 

3.2.2.3.2.2.2.1.2.2.1.2. Chỉ quảng (nói rộng)

         

          (Kinh) Địa Tạng bạch ngôn: “Nhân giả! Thiết Vi chi nội, hữu như thị đẳng địa ngục, kỳ số vô hạn”.

          ()地藏白言仁者鐵圍之內有如是等地獄其數

無限。

          (Kinh: Ngài Địa Tạng bạch rằng: “Thưa nhân giả! Trong Thiết Vi, có những địa ngục như thế, số đến vô hạn”).

          “Như thị đẳng” (như thế đó) là nói các địa ngục trong Thiết Vi như vừa thuật trong phần trên. “Số vô hạn”: Trong mỗi ngục đều có các tiểu ngục chẳng thể kể trọn. Nói là “có” vì phàm phu hư vọng dấy lên ái thủ (yêu mến, nắm giữ), chấp có cảnh. Vì thế, có nhân, có quả, có khổ, có lạc. Do đó, Duy Thức Luận nói: “Hết thảy [những cảnh tượng] như địa ngục, thấy giống như có ngục tốt v.v… có thể làm chuyện bức bách, đều là do cái tâm ác nghiệp của tội nhân hiện ra, trọn chẳng phải là ngoài tâm thật sự có những chuyện như chó đồng, rắn sắt v.v…” Hết thảy sự và pháp trong thế gian cũng đều giống như thế.

3.2.2.3.2.2.2.1.2.2.2. Ngục danh bất đồng (tên địa ngục khác nhau)

3.2.2.3.2.2.2.1.2.2.2.1. Liệt danh (kể tên)

          (Kinh) Cánh hữu Khiếu Hoán địa ngục, Bạt Thiệt địa ngục, Phẩn Niệu địa ngục.

          ()更有叫喚地獄拔舌地獄糞尿地獄。

          (Kinh: Cũng có địa ngục kêu gào, địa ngục kéo lưỡi, địa ngục phân tiểu).

 

          Theo Trường A Hàm, Khiếu Hoán (kêu gào) được xếp vào tám đại địa ngục nóng. Ngục thứ tư trong số ấy là Khiếu Hoán, thứ năm là Đại Khiếu Hoán, mỗi ngục đều có mười sáu du tăng (các địa ngục phụ ở bốn phía địa ngục chính). Do ngục tốt bắt lấy tội nhân, quăng vào chảo to, đun sôi sùng sục. Lại quăng lên vỉ sắt nướng to, lăn qua, lăn lại nung, nướng. Vì thế, tội nhân kêu rú, gào thét. Lại còn có ngục Đại Hào Đào Khiếu Hoán (ngục kêu rú, gào thét lớn). Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Hắc Thằng địa ngục, hữu xứ danh Đẳng Hoán, bỉ xứ ác thiêu, thọ khổ vô gián. Cử tại hiểm ngạn, vô lượng do-tuần. Nhiệt viêm hắc thằng, thúc phược hệ dĩ, hậu thôi đọa thiết đao, nhiệt địa chi thượng, thiết cẩu đạm thực. Nhất thiết thân phần, phần phần phân ly, xướng thanh hống hoán” (Địa ngục Hắc Thằng có chỗ tên là Đẳng Hoán. Chỗ đó bị đốt dữ dội, chịu khổ chẳng gián đoạn. Toàn thể chỗ ấy ở nơi bờ dốc hiểm trở vô lượng do-tuần. Sợi dây màu đen nung đỏ chằng trói [tội nhân] chặt chẽ. Sau đó, [ngục tốt] đẩy tội nhân té xuống cuộc đất nóng rực có đao sắt, chó sắt ăn nuốt. Hết thảy các phần trên thân thể, từng phần chia lìa, rống thét, gào rú). Theo đó, hai ngục Khiếu Hoán chỉ ở trong ngục [nóng] thứ hai là Hắc Thằng (dây đen). Nói chung, tám ngục liên tiếp, cho nên nói gộp chung như vậy. Kinh Trường A Hàm nói: “Do sân khuể, hoài độc, tạo chư ác hạnh, cố đọa Khiếu Hoán địa ngục. Do tập chúng tà kiến, vị ái võng sở khiên, tạo dị lậu hạnh, đọa Đại Khiếu Hoán địa ngục” (Do sân hận, ôm lòng độc dữ, tạo các hạnh ác, cho nên đọa vào địa ngục Khiếu Hoán. Do quen theo các tà kiến, bị lưới ái lôi kéo, tạo các hạnh khác lạ, thô tháp, sẽ đọa vào địa ngục Đại Khiếu Hoán). Bạt Thiệt và Phẩn Niệu như trong phần sau [sẽ giải thích].

          (Kinh) Đồng Tỏa địa ngục, Hỏa Tượng địa ngục.

          ()銅鎖地獄火象地獄。

          (Kinh: Địa ngục xiềng đồng, địa ngục voi lửa).

 

          “Đồng Tỏa” (xiềng xích bằng đồng): Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Hắc Thằng địa ngục giả, bát bách thiết tỏa, bát bách thiết sơn, thụ đại thiết tràng, lưỡng đầu hệ cảnh. Ngục tốt, La Sát, khu hới tội nhân, linh phụ thiết sơn, thiết thằng thượng tẩu, bất thắng lạc địa, đọa hoạch thang trung, La Sát khu khởi. Khát cấp, ẩm thiết, thôn thạch. Nhất nhật, nhất dạ, kinh lịch thị khổ cửu thập vạn biến. Thử do ngu si chúng sanh, thất chúng đệ tử, cửu thập lục chủng Phạm Chí đẳng, pháp thuyết phi pháp, phi pháp thuyết pháp, hoặc phạm khinh giới, cửu bất sám hối sở trí nhĩ” (Địa ngục Hắc Thằng: Tám trăm xiềng sắt, tám trăm núi sắt, dựng tràng sắt lớn, hai đầu buộc vào cổ [tội nhân]. Ngục tốt, La Sát xua đuổi, quát tháo tội nhân, bắt họ vác núi sắt đi trên dây sắt. Tội nhân không tránh khỏi rơi xuống đất, ngã vào vạc đang đun sôi. La Sát lùa họ đứng dậy. Do quá khát, bèn uống nước sắt, nuốt đá. Một ngày, một đêm, trải qua nỗi khổ ấy chín mươi vạn lần. Đấy là do chúng sanh ngu si, bảy chúng đệ tử, và chín mươi sáu loại Phạm Chí v.v… đối với pháp bèn nói là phi pháp, bảo phi pháp là pháp, hoặc phạm giới nhẹ, lâu ngày chẳng sám hối mà ra!)

          Hỏa Tượng (voi lửa) là như Tăng Hộ[5] tiến về phía trước, thấy một con voi trắng bị lửa rừng rực đốt thân. Đức Phật bảo: “Nhữ kiến tượng giả, thị địa ngục nhân. Ca Diếp Phật thời, thị xuất gia nhân, vị tăng đương trù. Chư đàn-việt đẳng, tương chư cúng dường, hướng tự thí tăng, hoặc thực hậu lai. Đàn-việt bạch ngôn: ‘Đại đức! Nhật do vị cố, khả đả kiền chùy, tập tăng thí thực’. Tỳ-kheo ác khẩu, đáp bạch y ngôn: ‘Chư tỳ-kheo đẳng do như bạch tượng, thực bất năng bão. Hướng thực dĩ cánh, đình lưu nhật hậu’. Dĩ thị nhân duyên, nhập ư địa ngục, thọ bạch tượng thân. Hỏa thiêu thọ khổ, chí kim bất tuyệt” (Ngươi thấy con voi ấy chính là kẻ ở trong địa ngục. Thời đức Phật Ca Diếp, kẻ đó là người xuất gia, trông coi bếp núc cho tăng chúng. Các vị thí chủ đem các thứ cúng dường đến chùa để cúng thí chư tăng, có khi đến sau bữa ăn. Thí chủ thưa rằng: “Thưa đại đức! Ngày chưa qua hết, có thể đánh kiền chùy nhóm tăng để dâng cúng thức ăn hay không?”. Vị tỳ-kheo ấy ác khẩu, trả lời những người tại gia: “Lũ tỳ-kheo giống như voi trắng, ăn chẳng thể no được! Nay giờ ăn đã qua rồi, để lại đó cho ngày hôm sau!” Do nhân duyên ấy, vào trong địa ngục, thọ thân voi trắng. Lửa đốt chịu khổ tới nay chẳng dứt).

          Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ lại nói: “Nhược nhân tác như thị tâm, tượng nhược túy thời, năng đa sát nhân, ngã tắc đắc thắng. Vi lệnh tượng đấu, dữ tửu linh ẩm; đọa Khiếu Hoán ngục trung, hữu đại tượng sanh, thân giai diễm nhiên, nhất thiết thân phần giai năng đả xúc, thủ bỉ nhân dĩ, xúc phá thân phần, phá toái đọa lạc, xướng thanh đại hoán, cố sanh hỏa tượng dã” (Nếu có kẻ nghĩ như thế này: “Nếu khi voi say, sẽ có thể giết nhiều người, ta sẽ thắng lợi”. Bèn cho voi ra đấu, cho nó uống rượu, kẻ ấy sẽ đọa vào ngục Khiếu Hoán, có con voi lớn sanh ra, thân toàn là lửa cháy rực. Hết thảy các phần trên thân thể của nó đều có thể húc chạm. Nó bắt lấy kẻ ấy rồi húc vỡ thân thể, [tội nhân] tan nát rơi rớt, kêu gào, rú thét. Vì thế, sanh làm con voi lửa).

          (Kinh) Hỏa Cẩu địa ngục, Hỏa Mã địa ngục, Hỏa Ngưu địa ngục.

          ()火狗地獄火馬地獄火牛地獄。

          (Kinh: Địa ngục chó lửa, địa ngục ngựa lửa, địa ngục trâu lửa).

          Hỏa Cẩu (chó lửa): Kinh Khởi Thế nói: “Nhiệt phí hôi hà lưỡng ngạn, sở hữu chư cẩu, thân hắc tử sắc, cấu nị khả úy, đạm bỉ địa ngục chúng sanh thân nhục, luyến luyến giảo thực” (Hai bên bờ sông tro sôi sùng sục, tất cả những con chó thân có màu tím đen, bẩn thỉu đáng sợ, ăn thịt nơi thân của chúng sanh trong địa ngục, cắn xé, nuốt từng miếng một). Tam Pháp Độ Luận nói: “[Ngục tốt] xua chúng sanh phạm tội vào chỗ đất bằng sắt có lửa thiêu đốt để quay cho họ chín rục. Đã chín rồi, lại đuổi ra cho chó ác ăn. Chó ăn hết sạch thịt xong, gió thổi qua khiến cho [tội nhân] sống lại, [thân thể] trở lại như cũ. Do trong cõi này (ở trong nhân gian) đã nuôi tằm, nấu, nướng, cho nên sanh vào nơi ấy”.

          Hỏa Ngưu, Hỏa Mã (trâu lửa, ngựa lửa): Theo kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, có kẻ nào nếu trông thấy âm hộ của trâu cái, ngựa cái v.v… sanh tâm phân biệt: “Chỗ ấy chẳng khác gì phụ nữ”, bèn làm chuyện dâm dục với chúng. Do vậy, đọa vào Hợp đại địa ngục, sanh trong chỗ tròn xoe, trông thấy những con trâu, ngựa, sẽ giống như trước mà nghĩ nhớ, tưởng như phụ nữ trong loài người, dục tâm lừng lẫy, chạy đến chỗ trâu, ngựa. Người đó đã đến gần âm hộ của trâu, ngựa, do nghiệp nhân ác, đi vào trong âm hộ của chúng, lọt vào bụng của chúng, lửa nóng đầy dẫy, chịu khổ trong ấy.

          (Kinh) Hỏa Sơn địa ngục, Hỏa Thạch địa ngục.

          ()火山地獄火石地獄。

          (Kinh: Địa ngục núi lửa, địa ngục đá lửa).

 

          Hỏa Sơn, Hỏa Thạch (núi lửa, đá lửa): Theo kinh Khởi Thế, địa ngục tên là Chúng Hợp. Chúng sanh sống giữa hai núi tên là Bạch Dương, miệng ăn những ngọn lửa rực cháy cực mạnh. Bọn họ vào trong núi ấy, hai quả núi cùng nghiền, cùng ép, cùng chà xát vào nhau. Chập lại, nghiền, ép, chà xát như thế xong, [những quả núi ấy] trở về chỗ cũ, ví như Tỳ Khư Nậu và Ra Tỳ Khư Nậu (đây là tên của của hai thứ sét) chập vào nhau, cùng nghiền, cùng chà xát, cùng ép xong, đều trở về chỗ cũ. Đã thế, kẻ giữ ngục dùng tảng đá to bằng sắt bốc lửa mạnh cháy rực quăng vào chúng sanh trong địa ngục, khiến cho họ té ngửa trên đá sắt nóng, rồi lấy tảng đá khác chặn bên trên. Giống như cối xay trong thế gian, [hai tảng đá ấy] nghiền tới, nghiền lui như cối xay. Cối xay to đã vụn rồi, lại dùng cối xay nhuyễn hơn, nghiền lần nữa thành bụi. Chỉ thấy máu mủ tuôn ra, chẳng có vụn xương, tủy sót lại!

          (Kinh) Hỏa Sàng địa ngục, Hỏa Lương địa ngục.

          ()火牀地獄火梁地獄。

          (Kinh: Địa ngục giường lửa, địa ngục kèo lửa).

 

          Hỏa Sàng (giường lửa) giống như Thiết Sàng (giường sắt) trong phần trước. Hỏa Lương (kèo rường lửa): Trong địa ngục có kèo sắt, cột sắt, không gì chẳng phải là lửa. Hoặc bắt tội nhân treo lên rường để đốt, hoặc dùng kèo sắt đè thân để thiêu.

          (Kinh) Hỏa Ưng địa ngục, Cứ Nha địa ngục.

          ()火鷹地獄鋸牙地獄。

          (Kinh: Địa ngực ưng sắt, địa ngục cưa răng).

          Hỏa Ưng giống như Thiết Ưng trong phần trước. Theo kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, [nơi ấy] tên là Ô Khâu Sơn. Núi ấy bốc lửa, ngọn lửa cao năm ngàn do-tuần. Nơi đó có cây bằng sắt, trên cây có quạ sắt. Thân con quạ tóe lửa khắp cả cây ấy. Tội nhân đến đó, con quạ lửa mổ vỡ toang đầu người, ăn óc, ăn mắt, ăn mũi, ăn má, ăn tim, ăn phổi, ăn ruột non, ruột già. Những con quạ ấy ăn người trong địa ngục, phần thân thể nào cũng đều ăn. Do nghiệp lực của tội lỗi, [tội nhân] đã bị ăn hết bèn sống lại. Chuyện chim ưng và quạ [hành hạ tội nhân] giống như nhau.

          Cứ Nha (cưa răng): Kinh Khởi Thế nói: “Thủ ngục giả, thủ bỉ chúng sanh, phác trước nhiệt thiết địa thượng. Dĩ thiết hắc thằng, biền độ kỳ thân, tức dĩ thiết cứ, cứ bỉ thân phá. Phá dĩ phục phá, nãi chí đại phá” (Kẻ giữ ngục bắt chúng sanh đó quăng lên chỗ đất bằng sắt nóng. Dùng dây đen bằng sắt, đo đạc thân họ, liền dùng cưa sắt, cưa xẻ thân họ. Đã cưa rồi lại cưa nát hơn, cho đến nát vụn). Đã cưa thân thể họ, lẽ nào chẳng cưa răng họ? Ngục này là do bốn ác nghiệp nơi miệng cảm vời.

          (Kinh) Bác Bì địa ngục, Ẩm Huyết địa ngục.

          ()剝皮地獄飲血地獄。

          (Kinh: Địa ngục lột da, địa ngục uống máu).

          Bác Bì (lột da): Luận Lập Thế nói: “Ở giữa hai ngục Cánh Sanh (sống lại, tức Đẳng Hoạt) và Hắc Thằng, có địa ngục tên là Đại Hạng (ngõ lớn). Nếu có tội nhân, bị lột da trên đất, lại còn xẻo thịt kẻ ấy, chất lên trên da. Xưa kia làm người, tội nhân đã làm nghề mổ, chặt, giết dê, lợn, trâu, nai để tự nuôi thân, hoặc săn bắt cá, chim v.v… Do nghiệp báo ấy, sẽ thọ sanh trong đó”.

          Ẩm Huyết (uống máu): Theo kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, có một chỗ riêng biệt thứ tám trong Hợp địa ngục, tên là Châu Tru Châu Tru. Nếu kẻ nào trộm cắp, tà hạnh, hoặc do không có người nữ, bèn hành dâm với dê, hoặc lừa. Hoặc [hành dâm] nơi phù-đồ (tháp thờ Phật), hoặc gần phù-đồ. Do ác nghiệp ấy, đọa vào chốn ác, thường có ác trùng tên là Châu Tru Châu Tru ăn nuốt thịt, uống máu kẻ ấy. Đã uống huyết xong, lại làm đứt gân để uống tủy; hoặc bắt tội nhân tự uống máu mình. Như kinh đã nói địa ngục vọng ngữ có mười tám chỗ, ngục thứ mười bảy tên là Huyết Tủy Ẩm (血髓飲, uống máu và tủy). Chỗ ấy có sông tên là Nhiệt Huyết Dương Thủy. Sông ấy nóng sôi lên, dùng nước đồng nóng, nước sáp trắng cùng tích tụ trong đó (kinh Trường A Hàm gọi nó là địa ngục Nùng Huyết (膿血, máu mủ). Tự nhiên máu mủ nóng sôi sùng sục, trào ra. Tội nhân chạy đuổi theo để tự ăn những thứ đó).

          (Kinh) Thiêu Thủ địa ngục, Thiêu Cước địa ngục, Đảo Thích địa ngục.

          ()燒手地獄燒腳地獄倒刺地獄。

          (Kinh: Địa ngục đốt tay, địa ngục đốt chân, địa ngục đâm ngược).

          Thiêu Thủ (đốt tay) và Thiêu Cước (đốt chân) cùng một loại. Trong tám nhiệt ngục, ngục thứ sáu là Thiêu Chá (燒炙, đốt, nướng), ngục thứ bảy là Đại Thiêu Chá, [tội nhân trong ấy] toàn thân đều bị đốt, da, thịt cháy tan nát. Nay do biệt nghiệp, chỉ thiêu tay chân. Đấy là do đã mổ giết sanh linh, chặt tay, chặt chân, đun, nấu, nung, nướng. Vì thế, đọa vào trong ngục này.

          Đảo Thích (đâm ngược): Kinh Lâu Thán nói: “Não Lao Hà, tung quảng nhị vạn lý, hà lưỡng biên hữu thiết thụ” (Sông Khuấy Nhiễu có kích thước mỗi bề hai vạn dặm. Hai bên bờ sông có cây cối bằng sắt). Luận Lập Thế nói: “Cây Diêm Phù Lê có gai ngược, hết thảy đều bằng sắt, ngày đêm thiêu đốt. Cây cao một do-tuần, gai dài mười sáu tấc. Ngục tốt nắm lấy cánh tay tội nhân, kéo lên cây đầy gai, rồi lại kéo xuống. Kéo lên phía trên thì gai [từ phía trên] đâm xuống dưới, kéo xuống dưới thì gai đâm ngược lên trên. Bụng [tội nhân] vướng vào cây, da, thịt toạc hết, lưng, eo cũng thế. Chịu đựng sự tàn hại ấy là vì xưa kia làm người, đã tà dâm phụ nữ, hoặc vợ lừa dối chồng. Lại có đủ mọi nghiệp báo tăng thượng, bèn sanh trong ấy”.

 

          (Kinh) Hỏa Ốc địa ngục, Thiết Ốc địa ngục, Hỏa Lang địa ngục.

          ()火屋地獄鐵屋地獄火狼地獄。

          (Kinh: Địa ngục nhà lửa, địa ngục nhà sắt, địa ngục sói lửa).

 

          Hỏa Ốc (nhà lửa) và Thiết Ốc (nhà sắt) hai ngục giống nhau, mỗi ngục được đặt tên theo điều coi trọng. Hỏa Ốc thuần bằng sắt tạo thành; còn Thiết Ốc lửa dữ cháy bừng bừng. Kinh Khởi Thế nói: “Thời ngục tốt thủ bỉ chúng sanh, trịch trí thiết ốc thất trung, xí nhiên đại nhiệt, bức thiết nan nhẫn, chúng não hòa hợp, toại đại khiếu hoán. Bỉ trung cánh hữu thiết phòng, thiết liễn, thiết các, thiết lâu. Kỳ trung thán hỏa, phí dũng doanh dật” (Khi ấy, ngục tốt tóm các chúng sanh đó, quăng vào trong nhà sắt đang cháy bừng bừng hết sức nóng bức, bức bách khó thể chịu nổi. Các thứ não hại xen lẫn, [tội nhân] bèn kêu gào thật to. Trong ấy, lại có phòng sắt, xe sắt, gác sắt, lầu sắt. Đốt than lửa trong đó, sôi sục tràn đầy). Kinh Trường A Hàm gọi ngục này là Thiêu Chá, chuyện [hành hạ trong ngục ấy] đại để tương đồng.

          Hỏa Lang (sói lửa): Kinh Lâu Thán nói: “Tùng Não Lao Hà đắc xuất, nhập lang, dã can, tung quảng nhị vạn lý” (Từ sông Quấy Nhiễu thoát ra, vào trong bầy sói, dã can[6], kích thước mỗi bề hai vạn dặm). Kinh Khởi Thế nói: “Dĩ chư bất thiện nghiệp quả báo, cố ư bỉ ngục xuất sanh hồ, lang, thô ác khả úy. Bỉ địa ngục chúng sanh thân nhục, cước đạp, khẩu xế, luyến luyến nhi thực” (Do quả báo của các nghiệp bất thiện, cho nên trong ngục ấy sanh cáo, sói thô ác đáng sợ. Chúng nó chân giẫm, miệng xé thịt nơi thân của chúng sanh trong địa ngục ấy thành từng miếng để ăn).

3.2.2.3.2.2.2.1.2.2.2.2. Chỉ quảng (nói rộng)

          (Kinh) Như thị đẳng địa ngục, kỳ trung các các phục hữu chư tiểu địa ngục, hoặc nhất, hoặc nhị, hoặc tam, hoặc tứ, nãi chí bách thiên. Kỳ trung danh hiệu, các các bất đồng.

          ()如是等地獄其中各各復有諸小地獄或一或二或三或四乃至百千。其中名號各各不同。

          (Kinh: Các địa ngục như thế, mỗi ngục trong ấy lại có các tiểu địa ngục, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, cho đến trăm ngàn. Danh hiệu trong ấy, mỗi ngục mỗi khác).

          Câu đầu tiên tổng kết các ngục trên đây. Từ chữ “kỳ trung” (trong ấy) trở đi, cho biết: Trong những ngục như thế đó, mỗi ngục lại đều tự có các tiểu địa ngục để làm quyến thuộc, hoặc là một, hai, ba [tiểu địa ngục], hoặc đến trăm ngàn, danh hiệu sai biệt, chẳng thể chỉ bày trọn hết được!

3.2.2.3.2.2.2.2. Đáp tội báo ác sự (trả lời về những sự ác do tội báo)

3.2.2.3.2.2.2.2.1. Chánh thị ác nghiệp cảm báo (dạy thẳng vào những quả báo do ác nghiệp cảm vời)

3.2.2.3.2.2.2.2.1.1. Dạng thị nghiệp cảm (chỉ bày nghiệp cảm)

 

          (Kinh) Địa Tạng Bồ Tát cáo Phổ Hiền Bồ Tát ngôn: “Nhân giả! Thử giả giai thị Nam Diêm Phù Đề hành ác chúng sanh, nghiệp cảm như thị”.

          ()地藏菩薩告普賢菩薩言仁者此者皆是南閻浮提行惡眾生業感如是。

          (Kinh: Địa Tạng Bồ Tát bảo Phổ Hiền Bồ Tát rằng: “Thưa nhân giả! Đấy đều là những chúng sanh làm ác trong Nam Diêm Phù Đề nghiệp cảm như thế đó”).

 

          Chỉ nói về chúng sanh trong Diêm Phù Đề, do họ chí tánh vô định, quen tạo nghiệp ác, cảm vời những địa ngục ấy. Kinh Na Tiên Tỳ Kheo nói: “Như thế gian hỏa nhiệt, bất như Nê Lê trung hỏa nhiệt. Như trì tiểu thạch, trước thế gian hỏa trung, chí mộ bất tiêu. Thủ đại thạch trước Nê Lê hỏa trung, tức tiêu. Diệc như hữu nhân tác ác, tử tại Nê Lê trung, sổ thiên vạn tuế, kỳ nhân bất tử” (Như độ nóng của lửa trong thế gian, chẳng bằng độ nóng của lửa trong địa ngục. Như cầm hòn đá nhỏ, bỏ vào trong lửa thế gian, [nung từ sáng] cho đến tối, đá chẳng tiêu. Bỏ tảng đá to vào trong lửa Nê Lê, lập tức tiêu mất. Cũng như có kẻ làm ác, chết đi vào trong Nê Lê, mấy ngàn vạn năm, người ấy chẳng chết). Đấy hoàn toàn là do nghiệp lực thiện hay ác mà đến nỗi tiêu hay chẳng tiêu. Vì thế nói là “nghiệp cảm như thế đó”.

3.2.2.3.2.2.2.2.1.2. Thích nghiệp lực đại (giải thích về nghiệp lực to lớn)

3.2.2.3.2.2.2.2.1.2.1. Chánh cử (nêu ra)

          (Kinh) Nghiệp lực thậm đại, năng địch Tu Di, năng thâm cự hải, năng chướng thánh đạo.

          ()業力甚大能敵須彌能深巨海能障聖道。

          (Kinh: Nghiệp lực rất lớn có thể to hơn Tu Di, có thể sâu hơn biển cả, có thể chướng ngại thánh đạo).

          Đây là giải thích về cội nguồn của nghiệp cảm. Sách Ma Ha Chỉ Quán viết: “Cái chuốc lấy quả là nhân, cũng gọi là nghiệp. Nghiệp của mười pháp giới dấy lên trong tự tâm. Chỉ cần có tâm, các nghiệp đều trọn đủ”. “Lực” là lực dụng có thể kham thực hiện. Đức Phật dạy: “Nhất thiết tráng, vô quá tâm. Tâm thị oán gia, thường khi ngộ nhân. Tâm thủ địa ngục, tâm thủ ngạ quỷ, tâm thủ súc sanh, tâm thủ nhân thiên. Tác hình mạo giả, giai tâm sở vi” (Hết thảy các thứ mạnh mẽ, không gì hơn nổi tâm! Tâm là kẻ oán, thường lừa dối, khiến người ta lầm lẫn. Do tâm mà giữ lấy địa ngục, do tâm mà giữ lấy ngạ quỷ, do tâm mà giữ lấy súc sanh, do tâm mà giữ lấy người, trời. Tạo tác hình dạng, tướng mạo, đều do tâm làm ra). Sức của nó to lớn nhất. Có thể lấy sự cao rộng của núi Tu Di để sánh ví với nó. Đại dương mênh mông, sâu thẳm, có thể dùng để sánh ví sự thẳm sâu của nó. Thánh đạo rỗng rang, thông suốt, có thể bị nó chướng ngại. Đấy đều là do nghiệp lực của chúng sanh khiến thành ra như vậy, nó chẳng phải là quá to thì là gì đây? Hai câu “núi, biển” nhằm nêu thí dụ. “Năng chướng thánh đạo” (Có thể chướng ngại thánh đạo): Nghiệp hữu lậu có thể chướng ngại thánh đạo tam thừa; nghiệp vô lậu có thể chướng ngại Trung Đạo nơi Phật Tánh. Sách Kim Quang Minh Kinh Văn Cú viết: “Ba thứ chướng gây chướng ngại Phật, bỏ lìa Đệ Nhất Nghĩa Thiên”. Vì thế biết nghiệp lực sâu rộng và to lớn!

3.2.2.3.2.2.2.2.1.2.2. Giới khuyến (khuyên răn)

          (Kinh) Thị cố chúng sanh, mạc khinh tiểu ác, dĩ vi vô tội. Tử hậu hữu báo, tiêm hào thọ chi. Phụ tử chí thân, kỳ lộ các biệt, túng nhiên tương phùng, vô khẳng đại thọ.

          ()是故眾生莫輕小惡以為無罪。死後有報纖毫受之。父子至親歧路各別縱然相逢無肯代受。

          (Kinh: Vì thế, chúng sanh đừng coi thường điều ác nhỏ, cho là vô tội. Sau khi chết, sẽ có báo ứng. Tội dẫu mảy may, đều phải hứng chịu. Cha con chí thân, đường nẻo khác biệt, dẫu gặp gỡ nhau, chẳng bằng lòng chịu khổ thế cho nhau).

          Dựa theo lý do [nghiệp lực] có thể chướng ngại thánh đạo [như vừa mới nói] trên đây để khuyên răn. Trong thế gian, con người thường nghĩ như thế này: “Những lỗi nhỏ nhặt ai mà tính đến?” Trong kinh Duy Vô Tam Muội, đức Phật đã bảo ngài A Nan: “Nhân sanh thế gian, sở dĩ bất đắc đạo giả, đản tọa tư duy uế niệm đa cố. Nhất niệm lai, nhất niệm khứ, nhất nhật, nhất túc, hữu bát ức tứ thiên vạn niệm, niệm niệm bất tức. Nhất niệm thiện giả, đắc thiện quả báo. Nhất niệm ác giả, đắc ác quả báo. Thị hưởng ứng thanh, như ảnh tùy hình. Thị cố thiện ác, tội phước các biệt. Như Diêm La vương cáo tội nhân vân: – Nhân sanh tại thế gian thời, tội quá tiểu thả khinh, tử tại địa hạ Nê Lê, đại thả trọng” (Người sống trong thế gian, sở dĩ chẳng đắc đạo chỉ vì suy nghĩ có nhiều ý niệm nhơ uế. Một niệm đến, một niệm đi; một ngày, một đêm, có tám ức bốn ngàn vạn niệm, các niệm chẳng ngừng. Một niệm thiện bèn đạt được quả báo thiện. Một niệm ác bèn đạt được quả báo ác. Đó là do tiếng vang ứng theo âm thanh, như bóng theo hình. Do vậy, thiện ác, tội phước mỗi điều mỗi khác. Như vua Diêm La bảo tội nhân: “Khi con người sống trong thế gian, tội lỗi đã nhỏ lại nhẹ, chết đi, sanh trong ngục Nê Lê dưới đất, [quả báo] đã to lớn lại nặng nề”).

           Vì thế, kinh Niết Bàn dạy: “Mạc khinh tiểu ác, dĩ vi vô ương. Thủy trích tuy vi, tiệm doanh đại khí. Lương dĩ tiêm giới chi ác, lịch kiếp bất vong. Hào ly chi thiện, tích thế trường tồn” (Đừng coi thường điều ác nhỏ, cho là chẳng có ương họa gì! Giọt nước tuy nhỏ, dần dần chứa đầy đồ đựng lớn. Đó là vì điều ác nhỏ nhặt, trải bao kiếp chẳng mất. Điều thiện mảy may, trải bao đời còn mãi). Phước đã thành, ắt thiên đường tự đến. Tội tích tụ, ắt địa ngục tự vào! Đấy chính là lẽ tất nhiên, chẳng thể nghi hoặc gì nữa!

          Cha con thiên tánh tương quan, thân  thiết  tột  bậc; nhưng  cha  tu

thiện mà con làm ác, thì cha sanh lên trời, con đọa trong cảnh khổ. Đường lối đã khác, tất nhiên khó thể gặp gỡ. Dẫu ngẫu nhiên gặp gỡ, há cha chịu đem niềm vui nơi thiên đường đổi lấy sự khổ trong địa ngục của con ư? Con lành, cha ác, tình lý cũng thế! Như trong kinh Lại Trá Hòa La đã dạy: “Thiện ác tùy nhân, như ảnh tùy thân. Nhân sanh độc sanh, tử diệc độc tử. Thân tác thiện ác, thân độc đương chi, vô hữu đại nhân giả” (Thiện ác theo người, như bóng theo thân. Con người sanh ra một mình, chết thì cũng chết trơ trọi một mình. Thân làm chuyện thiện ác, chỉ riêng thân mình gánh chịu, chẳng có ai thay thế). Vì thế, Phật Thuyết Tứ Tự Xâm Kinh có dạy: “Bất kế vô thường, nhi phản tham ái, ngôn hữu phụ mẫu, huynh đệ, thê tử, trung ngoại thân tộc, lão, bệnh, tử lai, thiện, ác, khổ, lạc, độc tự đương chi, vô hữu đại giả” (Chẳng xét đến vô thường, ngược ngạo tham ái, nói có cha, mẹ, anh, em, vợ con, thân tộc trong ngoài, [thế nhưng] già, bệnh, chết xảy đến, thiện, ác, khổ, vui, riêng mình hứng chịu, chẳng có ai thay cho). Vì thế, khuyên chớ vì điều ác nhỏ mà coi thường để rồi cố ý gây tạo.

3.2.2.3.2.2.2.2.1.3. Nguyện nhân thính ngôn (xin nhân giả nghe tôi nói)

3.2.2.3.2.2.2.2.1.3.1. Địa Tạng khuyến thính (Địa Tạng khuyên nghe)

 

          (Kinh) Ngã kim thừa Phật oai lực, lược thuyết địa ngục tội báo chi sự. Duy nguyện nhân giả, tạm thính thị ngôn.

          ()我今承佛威力略說地獄罪報之事。唯願仁者暫聽是言。

          (Kinh: Tôi nay nương vào oai lực của Phật, nói đại lược chuyện tội báo trong địa ngục. Kính mong nhân giả tạm nghe lời ấy).

          Ý nghĩa dễ hiểu.

3.2.2.3.2.2.2.2.1.3.2. Phổ Hiền thích ý (ngài Phổ Hiền giải thích dụng ý thưa hỏi)

          (Kinh) Phổ Hiền đáp ngôn: “Ngô dĩ cửu tri tam ác đạo báo. Vọng nhân giả thuyết, linh hậu thế Mạt Pháp nhất thiết ác hạnh chúng sanh, văn nhân giả thuyết, sử linh quy Phật”.

          ()普賢答言吾已久知三惡道報。望仁者說令後世末法一切惡行眾生聞仁者說使令歸佛。

          (Kinh: Phổ Hiền đáp rằng: “Tôi biết sự báo ứng trong ba đường ác đã lâu. Vẫn mong nhân giả nói ra, khiến cho hết thảy chúng sanh ác hạnh thời Mạt Pháp mai sau nghe nhân giả nói sẽ quy hướng Phật”).

          Đức Phổ Hiền nói: “Ngài Địa Tạng mong tôi tạm nghe nói tội báo đại lược như vậy, há tôi chẳng biết chuyện khổ sở trong ác đạo ư? Chỉ vì nhân giả giáo hóa trong chốn tối tăm ẩn kín đã lâu, làm giáo chủ cõi địa ngục, Ngài đối trước đại chúng tuyên nói, mọi người ắt tin tưởng, mới có thể khiến cho họ quy hướng đức Phật được!” Vô Thường Kệ có đoạn: “Có sanh ắt đều chết, tạo nghiệp khổ bức thân, chỉ có Phật Bồ Đề, là chỗ thật nương về”. Khuyên chúng sanh quy hướng Phật chính là dụng ý chánh yếu để thưa hỏi về địa ngục.

3.2.2.3.2.2.2.2.2. Biệt minh ngục báo sai biệt (nói riêng về quả báo sai khác trong các ngục)

3.2.2.3.2.2.2.2.2.1. Tổng thị (dạy chung)

          (Kinh) Địa Tạng bạch ngôn: “Nhân giả! Địa ngục tội báo, kỳ sự như thị”.       

()地藏白言仁者地獄罪報其事如是。

          (Kinh: Địa Tạng bạch rằng: “Thưa nhân giả! Chuyện tội báo trong địa ngục như sau…”)

 

          Đoạn kinh văn này có thể hiểu theo hai cách:

          – Nhằm tiểu kết phần trên, tức danh hiệu của các địa ngục trong phần trên là như thế đó.

          – Mở đầu cho phần sau, tức là nói sẽ có những địa ngục này nọ v.v… như thế này, như thế nọ. Nay hiểu câu này nhằm chỉ chung những điều kế tiếp, sẽ càng ổn thỏa hơn!

3.2.2.3.2.2.2.2.2.2. Biệt minh (nói riêng)

 

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, thủ tội nhân thiệt, sử ngưu canh chi.

          ()或有地獄取罪人舌使牛耕之。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, kéo lưỡi tội nhân ra cho trâu cày).

          Ngục thứ nhất, như kinh Bát Sư nói: “Lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ, trấm nhân vô tội, báng hủy tam tôn, tử nhập địa ngục. Ngục trung quỷ thần, bạt xuất kỳ thiệt, dĩ ngưu lê chi, dương đồng quán khẩu, cầu tử bất đắc” (Nói đôi chiều, nói lời thôi ác, nói dối, nói thêu dệt, gièm pha người vô tội, hủy báng Tam Bảo, chết sẽ đọa vào địa ngục. Quỷ tốt trong ngục kéo lưỡi kẻ đó ra cho trâu cày, nước đồng sôi rót vào miệng, mong chết mà chẳng được).

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, thủ tội nhân tâm, Dạ-xoa thực chi.

          ()或有地獄取罪人心夜叉食之。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục moi tim tội nhân cho Dạ-xoa ăn).

 

          “Thủ tâm, Dạ-xoa thực” (Moi tim cho quỷ Dạ-xoa ăn): Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Chư tội nhân sanh hôi hà trung, chư kiếm thụ gian, hữu nhất La Sát, dĩ xoa, xoa kỳ tâm xuất, dữ Dạ-xoa thực. Dĩ tích thời thâu đạo sư trưởng, phụ mẫu tội nhân duyên cố, nhất nhật, nhật dạ, ngũ bách ức sanh tử, thọ khổ vô lượng” (Các tội nhân sanh trong sông tro, giữa các cây đầy gươm, có một La Sát dùng chĩa ba móc tim tội nhân ra cho Dạ-xoa ăn. Do nhân duyên xưa kia phạm tội trộm cắp sư trưởng, cha mẹ, trong một ngày một đêm có năm trăm ức lần sống chết, chịu khổ vô lượng).

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, hoạch thang thịnh phí, chử tội nhân thân.

          ()或有地獄鑊湯盛沸煮罪人身。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, vạc sôi sùng sục, nấu thân tội nhân).

 

          “Hoạch thang chử thân” (vạc sôi nấu thân): Trong kinh trên đây có nói: “Hoạch Thang địa ngục hữu thập bát hoạch. Nhất nhất hoạch tung quảng tứ thập do-tuần, mãn trung phí thiết. Ngũ bách La Sát cổ đại thạch thán, thiêu kỳ đồng hoạch. Hỏa diễm tương thừa, lục thập nhật bất diệt. Diêm Phù Đề nhật mãn thập tam vạn tuế. Hoạch phí như tinh, hóa thành hỏa luân. Thử do hủy Phật cấm giới, sát sanh từ tự, vi đạm nhục huyết, phần thiêu sơn dã, sanh tầm chúng sanh, dĩ hỏa phần thiêu, sanh hoạch thang trung, tốc tật tiêu lạn, duy dư cốt tại. Thiết xoa liêu xuất, thiết cẩu thực chi, ẩu thổ tại địa, tầm phục hoàn hoạt. Ngục tốt khu hới, hoàn linh nhập hoạch” (Địa ngục Vạc Sôi có mười tám cái vạc. Mỗi cái vạc có kích thước mỗi bề bốn mươi do-tuần, chứa đầy nước sắt lỏng sôi sùng sục. Năm trăm La Sát dồn những tảng than đá lớn để đun những vạc đồng đó. Ngọn lửa cháy liên tục suốt sáu mươi ngày chẳng tắt; tính theo thời gian trong Diêm Phù Đề thì tròn mười ba vạn năm. Vạc sôi [bốc hơi lên] như các ngôi sao [chi chít], hóa thành vầng lửa. Đấy là do hủy hoại cấm giới của Phật, sát sanh để cúng tế, ăn thịt, uống máu [những sanh vật]; thiêu đốt núi non, đồng rẫy, nướng sống chúng sanh. Do dùng lửa thiêu đốt, nên sanh trong vạc sôi, nhanh chóng bị tiêu nát, chỉ còn lại xương. [Quỷ tốt] dùng chĩa ba sắt vớt ra, cho chó sắt ăn. Nó ói ra đất, [tội nhân] ngay lập tức sống lại. Ngục tốt xua đuổi, quát mắng, lại trở vào trong vạc).

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, xích thiêu đồng trụ, sử tội nhân bão.

          ()或有地獄赤燒銅柱使罪人抱。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, nung đỏ cột đồng, bắt tội nhân ôm).

 

          “Nung đỏ cột đồng” như đã giải thích trong phần trước.

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, sử chư hỏa thiêu, sấn cập tội nhân.

          ()或有地獄使諸火燒趁及罪人。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, khiến cho các thứ lửa đốt, bay tấp vào thân tội nhân).

          “Hỏa thiêu sấn cập tội nhân” (lửa đốt bay tấp vào thân tội nhân): Chữ Sấn (趁) (đọc là Sấn, khứ thanh), có nghĩa là “đuổi theo, theo sát”. Kinh Khởi Thế nói: “A Tỳ đại ngục chư chúng sanh bối, dĩ bất thiện nghiệp quả báo, kinh vô lượng thời, kiến ngục Đông môn hốt khai. Ngục chúng kiến văn khai môn, tẩu hướng bỉ xứ. Tẩu dĩ phục tẩu, đại tốc tật tẩu, ngã đẳng kim giả, quyết ưng đắc thoát. Như thị tẩu thời, thân chư chi tiết, chuyển phục xí nhiên! Nam, Tây, Bắc môn, diệc phục như thị” (Các chúng sanh trong đại ngục A Tỳ do quả báo của nghiệp bất thiện [mà bị giam trong đó] đã vô lượng thời, thấy cửa phía Đông của ngục bỗng mở ra. Mọi người trong ngục thấy, nghe cửa mở, bèn chạy đến đó, chạy miết, càng chạy nhanh chóng hơn, [tự nhủ]: “Chúng ta nay sẽ chắc chắn thoát nạn”. Khi họ chạy như thế, các lóng đốt trên thân lại chuyển thành lửa cháy bừng bừng. Cửa Nam, Tây, Bắc cũng giống như thế).

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, nhất hướng hàn băng.

          ()或有地獄一向寒冰。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, thuần là băng lạnh).

 

          “Nhất hướng hàn băng” (thuần là băng lạnh): Kinh Lâu Thán dạy: “Tùng Lang Dã Can xuất, tẩu nhập Hàn Băng, tung quảng nhị vạn lý. Nhân tất nhập kỳ trung, phong tứ diện khởi hàn băng (Trường A Hàm vân: “Nhị Kim Cang sơn gian, hữu đại phong khởi, danh viết Tăng Khư”). Phong xuy nhân cơ phu, bì, nhục, cân, cốt, nhập tủy trung tiện tử. Dĩ chư bất thiện nghiệp quả báo, nhi sanh kỳ trung” (Từ ngục Lang Dã Can thoát ra, bèn đi vào ngục Hàn Băng. Ngục ấy có kích thước mỗi bề hai vạn dặm (kinh Trường A Hàm nói: “Giữa hai núi Kim Cang có gió to nổi lên, tên là Tăng Khư (Sāṁkhya)”). Gió thổi qua da, thịt, gân, xương của con người, lọt vào đến tủy bèn chết. Do quả báo của nghiệp bất thiện mà sanh trong ấy).

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, vô hạn phẩn niệu.

          ()或有地獄無限糞尿。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, vô hạn phân, tiểu).

 

          “Vô hạn phẩn niệu” (vô hạn phân, nước tiểu): Kinh Địa Ngục dạy: “Phí Thỉ ngục, hữu thập bát cách, các bát thiên do-tuần. Thập bát thiết thành, nhất nhất hữu thập bát cách. Cách trung tứ bích, bách vạn ức kiếm thụ, giai sanh thiết trùng, khẩu thổ nhiệt thỉ. Hữu tình ẩm thỉ, thử trùng sáp thiệt, đạm tâm. Dĩ tiền thế phá Bát Trai Giới, cập bất tịnh ác nghiệp cố” (Ngục Phân Sôi có mười tám ngăn, mỗi ngăn rộng tám ngàn do-tuần. Mười tám thành sắt, mỗi thành có mười tám ngăn. Bốn vách của mỗi ngăn là tám vạn ức cây cối đầy gươm, đều sanh ra trùng sắt. Miệng chúng nó phun ra phân nóng. Hữu tình uống phân, con trùng ấy bèn mút chặt lưỡi họ, ăn tim. Do đời trước phá Bát Quan Trai Giới, và do ác nghiệp bất tịnh).

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, thuần phi tật lê.

         ()或有地獄純飛𨪏鏫。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, thuần là vuốt sắt bay).

         

          “Thuần phi tật lê”[7]: Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Tội  nhân

lạc hắc ám xứ, hữu thiết ô, tủy cự, trường lợi, tùng sơn phi lai, trảo, trác tội nhân, thống cấp tật tẩu. Túc hạ tật lê, xuyên cốt triệt tủy, kinh ngũ bách vạn ức tuế” (Tội nhân rơi vào chỗ tối tăm, có quạ sắt, mỏ to, dài, sắc, từ núi bay đến, quắp, mổ tội nhân. Tội nhân đau đớn, vội vàng chạy lẹ. Dưới chân có chông sắt xuyên thấu xương, xuyên vào tủy, trải qua năm trăm vạn ức năm). Nay nói “thuần phi” (đều là [vuốt sắt] bay), tức khắp ngục đều [có những thứ xuyên móc] như thế. Đấy là do binh gia gài bẫy, bốn phía đều chôn chông sắt, lao sắt để hại người, cho nên sanh trong ngục này.

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, đa toản hỏa thương.

         ()或有地獄多攢火槍。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, đâm nhiều giáo lửa).

          “Đa toản hỏa thương” (đâm nhiều giáo lửa) giống như ngục Thông Thương, chỉ [có điểm khác biệt] là có nhiều lửa!

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, duy chàng hung bối.

          ()或有地獄唯撞胸背。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, chỉ đập ngực, lưng).

          “Duy chàng hung bối” (chỉ đập ngực, lưng): Theo kinh Lăng Nghiêm, trong phần Lịch Thính thuộc quả báo của Xúc, tức là có thể va đập, do Xúc làm nhân mà thành cái quả này.

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, đản thiêu thủ, túc.

          ()或有地獄但燒手足。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục chỉ đốt tay, chân).

          “Đản thiêu thủ túc” (chỉ đốt tay, chân): Kinh Khởi Thế dạy: “Tùng Ngại Điệp tiểu địa ngục xuất, nghệ hướng hộc lượng ngũ bách do-tuần tiểu địa ngục trung. Thủ ngục giả thủ địa ngục bối, dĩ nhiệt thiết hộc, khiển kỳ lượng hỏa, thiêu thủ, thiêu cước, nhĩ, tỵ, chi tiết. Kim tùng biệt nghiệp, biệt báo, cố đản thiêu thủ, túc” (Từ tiểu địa ngục Ngại Điệp (Cối Xay chồng chất) thoát ra, vào trong tiểu địa ngục to bằng cái hộc rộng năm trăm do-tuần. Kẻ giữ ngục bắt lấy bọn tội nhân, dùng hộc sắt nóng để đong lửa thiêu tay, đốt chân, tai, mũi, chi thể. Nay [có hình phạt như vậy] là do từ biệt nghiệp mà có biệt báo, cho nên chỉ đốt chân, tay).

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, bàn kiểu thiết xà. Hoặc hữu địa ngục, khu trục thiết cẩu.

          ()或有地獄盤繳鐵蛇。或有地獄驅逐鐵狗。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục cho rắn sắt quấn trói. Hoặc có địa ngục, xua đuổi chó sắt [cắn xé tội nhân]).

 

          Rắn sắt, chó sắt giống như trong những phần trước.

          (Kinh) Hoặc hữu địa ngục, tận giá thiết loa.

          ()或有地獄盡駕鐵騾。

          (Kinh: Hoặc có địa ngục, đều bị bắt cưỡi trên con la sắt).

 

          “Tận giá thiết loa” (tội nhân đều bị bắt cưỡi con la[8] sắt): Như tỳ-kheo Tăng Hộ thấy một con lừa bị lửa dữ thiêu thân. Đức Phật bảo: “Thật phi thị lư, Ca Diếp Phật thời xuất gia nhân, đương trù phân tăng ẩm thực, hằng tự trưởng thọ nhị, tam nhân phần. Trì luật tỳ-kheo như pháp ha trách, đáp ngôn: ‘Ngã đương tăng trù, thậm đại lao khổ, nhữ bất tri ân, tráng tự như lư, đản dưỡng nhất thân, hà bất mặc nhiên?’ Dĩ thị nhập địa ngục trung, lư thân thọ khổ” (Thật sự chẳng phải là lừa! Ông ta là người xuất gia thời đức Phật Ca Diếp, trông nom nhà bếp, [đảm nhiệm việc] chia thức ăn cho tăng chúng, luôn tự chia cho mình nhiều gấp đôi, gấp ba người khác. Vị tỳ-kheo giữ luật bèn theo đúng pháp quở trách, ông ta trả lời: “Tao lo bếp núc cho tăng chúng, hết sức vất vả. Mày chẳng biết ơn, khỏe mạnh như lừa mà chỉ biết nuôi béo cái thân, sao không câm miệng đi?” Do vậy, vào trong địa ngục, làm thân lừa chịu khổ). Nay nói “tận giá” (đều cưỡi hết), đại khái là tội nhân cưỡi trên lừa sắt, lửa đốt thân họ.

3.2.2.3.2.2.2.2.3. Kết nghiệp hiển cảm khổ khí (tổng kết về nghiệp, nêu rõ đó là nguyên do cảm vời các dụng cụ hành hình)

          (Kinh) Nhân giả! Như thị đẳng báo, các các ngục trung, hữu bách thiên chủng nghiệp đạo chi khí. Vô phi thị đồng, thị thiết, thị thạch, thị hỏa. Thử tứ chủng vật, chúng nghiệp hạnh cảm.

          ()仁者如是等報各各獄中有百千種業道之器。無非是銅是鐵是石是火。此四種物眾業行感。

          (Kinh: Thưa nhân giả! Những quả báo như thế, trong mỗi ngục đều có trăm ngàn thứ khí cụ để hành hình theo từng nghiệp, không gì chẳng phải là bằng đồng, bằng sắt, bằng đá, hay bằng lửa. Bốn thứ vật ấy đều do các nghiệp hạnh [bất thiện] cảm vời).

         

          “Như thị đẳng báo” (những thứ báo ứng như thế) chỉ chung những chuyện trên đây. Do hết thảy chúng sanh luôn sanh khởi ba loại tư duy bất thiện, ngẫm nghĩ ngũ dục, nghĩ chuyện giận dữ, tàn hại, nghĩ cách dối gạt, đều do vô minh làm nhân khiến cho chúng sanh khởi. Thân hoại, mạng hết, sẽ đọa vào đường ác. “Khí” (器) chính là những vật dụng thường dùng hằng ngày. Nay đồng, sắt, đá, lửa là [chất liệu] của những dụng cụ hành hình trong địa ngục, đều do nghiệp hạnh của tội nhân cảm vời, chẳng phải do trời ban hay người tặng! Nghiệp hạnh tuy nhiều, Thập Ác bao hàm trọn hết, Tam Độc làm nhân, Thất Chi làm duyên, thực hiện ác nghiệp, tạo tác khí cụ hành hình, để rồi chính mình hứng chịu, chẳng thể tránh né! Vì thế, Kim Quang Minh Kinh Ký chép: “Tâm phá giới đã thành thì có thể tạo ra địa ngục, các thứ dụng cụ hành hình nghiêm ngặt. Chẳng có một vật nào từ bên ngoài mà có”. Vì thế, luận Duy Thức nói: “Như trong địa ngục, chẳng có người làm chủ địa ngục, nhưng chúng sanh trong địa ngục, do nghiệp tự nhiên, thấy vị chủ của địa ngục và đủ mọi thứ khổ, khởi tâm trông thấy: Đây là chốn địa ngục, đây là lúc ban đêm hoặc ban ngày. Do ác nghiệp, nên thấy chó, thấy quạ, hoặc thấy núi ép lại”.

          Dùng đoạn văn ấy làm chứng, [sẽ biết]: Do điều thiện, lẽ ác huân tập cái tâm, khiến cho tâm dễ thấy, chứ thật sự chẳng có địa ngục! Nhưng ngoài tâm tuy chẳng có địa ngục, khi ác nghiệp đã thành, sẽ cưỡng ép khiến tội nhân hư vọng thấy là có. Vì thế, kinh Quyết Định Tỳ Ni dạy: “Ngã thuyết địa ngục chư khổ sự, thật vô ác thú khả lai vãng. Đao, trượng, tật lê chúng khổ cụ, diệc vô hữu năng tạo tác giả, do phân biệt cố nhi kiến hữu. Vô lượng khổ độc bức kỳ thân. Do như phân biệt chư huyễn diễm. Ư thử phân biệt tất giai không” (Ta nói các chuyện khổ trong địa ngục, nhưng thật ra chẳng có các đường ác để qua lại. Các thứ dụng cụ hành hình như đao, gậy, chông sắt, cũng chẳng có ai là người có thể tạo tác. Do phân biệt mà thấy có vô lượng khổ độc bức bách cái thân. Ví như phân biệt các ngọn lửa hư huyễn, đối với sự phân biệt ấy, đều là không) có phải là nói về chuyện này đấy chăng?

3.2.2.3.2.2.3. Kết thị chỉ quảng (tổng kết phần chỉ dạy rộng rãi)

          (Kinh) Nhược quảng thuyết địa ngục tội báo đẳng sự, nhất nhất ngục trung, cánh hữu bách thiên chủng khổ sở, hà huống đa ngục. Ngã kim thừa Phật oai thần, cập nhân giả vấn, lược thuyết như thị. Nhược quảng giải thuyết, cùng kiếp bất tận.

          ()若廣說地獄罪報等事一一獄中更有百千種苦楚何況多獄。我今承佛威神及仁者問略說如是。若廣解說窮劫不盡。

          (Kinh: Nếu nói rộng những chuyện tội báo trong địa ngục, trong mỗi ngục lại có trăm ngàn thứ khổ sở, huống hồ nhiều ngục! Nay tôi nương theo oai thần của đức Phật và lời hỏi của nhân giả, nói đại lược như thế. Nếu giải thích cặn kẽ, dẫu hết cả kiếp vẫn chẳng hết).

          “Tội báo trăm ngàn khổ sở” đều do một niệm tạo thành. Như kinh Chánh Pháp Niệm Xứ dạy: “Vân hà ác nghiệp vô lượng chủng chủng, giai nhân ư tâm, tương tục lưu chuyển. Như hà sấm lưu, phiêu chư chúng sanh, linh đọa ác nghiệp quả báo chi địa? Tại ư địa ngục, thọ cực khổ não. Thử chư chúng sanh, vân hà như thị vị tâm sở cuống, vị ái sở cuống. Cố cảm bách thiên chủng báo, sở độc kỳ thân dã?” (Cớ sao vô lượng các thứ ác nghiệp như thế đều do nơi tâm, lưu chuyển liên tục như sông chảy xiết, trôi giạt chúng sanh, khiến cho họ đọa vào chốn quả báo của ác nghiệp? Ở trong địa ngục, chịu khổ não cùng cực. Các chúng sanh ấy cớ sao lại bị tâm, bị ái mê hoặc dường ấy, đến nỗi cảm vời trăm ngàn loại quả báo hành hạ cái thân?)

          “Hà huống đa ngục” (huống hồ nhiều ngục): Chỉ nói một ngục A Tỳ, đã có đủ mọi chuyện khổ sở do tội báo, huống hồ nhiều ngục? Tôi nay nương vào oai thần của đức Phật, kính cẩn đáp lời hỏi của nhân giả, bất quá nói đại lược những chuyện như vậy thôi. Nếu muốn hiểu cặn kẽ tên của các địa ngục và mỗi thứ dụng cụ hành hình, dẫu thọ mạng trọn cả một kiếp, vẫn chẳng thể nói hết! Vì sao? Nghiệp lực của chúng sanh chẳng thể nghĩ bàn! Ấy là vì tâm nghiệp giống như thợ vẽ, do nghiệp của chính mình mà vẽ thành các nơi hứng chịu cái quả do nghiệp đã gây tạo. Do tâm có đủ loại khác nhau, cho nên chịu khổ ở những chỗ khác nhau, có trăm ngàn ức na-do-tha ác sự đáng sợ, chẳng có chuyện nào giống nhau, chẳng thể sánh ví được! Chỉ do chúng sanh thuở trước, do tiếp xúc cảnh mà sanh lòng chấp trước, dấy lòng yêu mến, nay phải chịu khổ trong xúc cảnh dơ xấu. Do đó, quả báo đau khổ, chuyện đau khổ, dụng cụ hành hình, rất khó nêu trọn được! Phần nói về căn cơ được giáo hóa đã xong.

3.2.3. Minh độ thoát duyên (nói về các duyên để được cứu độ giải thoát)

 

          Phần này được chia thành hai đoạn:     

          – Hóa chủ phóng quang tán thán.

          – Các vua Diêm La thưa hỏi và tán thán.

          Kinh Bảo Vũ nói: “Vân hà Bồ Tát năng linh xưng thán? Thiện nam tử, như nguyệt xuất hiện, năng sử nhân gian thành, ấp, tụ lạc, chư Sát-đế-lợi, Bà-la-môn đẳng, nhược nam, nhược nữ, tất giai xưng tán. Bồ Tát như thị, như nguyệt xuất hiện, vị nhất thiết thế gian, thiên, nhân, A-tố-lạc, Kiện-đạt-phược đẳng, tất giai xưng tán” (Vì sao Bồ Tát được ca ngợi? Này thiện nam tử! Như mặt trăng xuất hiện, có thể khiến cho các Sát-đế-lợi, Bà-la-môn dù nam hay nữ trong các thành, ấp, xóm làng trong nhân gian thảy đều khen ngợi. Cũng vậy, Bồ Tát xuất hiện giống như vầng trăng, nên được hết thảy trời, người, A Tu La, Càn Thát Bà v.v… trong thế gian khen ngợi).

          Đoạn thứ nhất lại được chia làm hai phần:

          – Đức Thế Tôn tán thán công đức.

          – Đức Địa Tạng tạo lợi ích cho kẻ còn lẫn người mất.

3.2.3.1. Hóa chủ phóng quang tán thán (đức giáo hóa chủ phóng quang minh, khen ngợi)

3.2.3.1.1. Thế Tôn tán thán công đức (đức Thế Tôn khen ngợi công đức)

3.2.3.1.1.1. Phẩm đề (tên gọi của phẩm kinh)

(Kinh) Như Lai tán thán, phẩm đlục.

()如來讚歎品第六

(Kinh: Phẩm thứ sáu: Như Lai tán thán).

3.2.3.1.1.2. Phẩm văn (kinh văn trong phẩm này)

3.2.3.1.1.2.1. Như Lai tán thán từ bi sự (đức Như Lai tán thán chuyện từ bi)

3.2.3.1.1.2.1.1. Tự quang thanh xưng thán (trần thuật chuyện phóng quang và phát ra âm thanh ca ngợi)

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cử thân phóng đại quang minh, biến chiếu bách thiên vạn ức Hằng hà sa đẳng chư Phật thế giới.

          ()爾時世尊舉身放大光明徧照百千萬億恆河沙等諸佛世界。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khắp thân tỏa quang minh to lớn, chiếu trọn khắp trăm ngàn vạn ức các thế giới nhiều như cát sông Hằng).

          Trong phần trên đã nói về đấng hóa chủ và căn cơ được hóa độ đã xong, đức Thế Tôn bèn thừa dịp tán thán, hòng nói rõ cái duyên độ thoát, cho nên nói là “nhĩ thời” (lúc bấy giờ). Toàn thân phóng quang minh, hiển thị đại địa cùng thành trí địa, thâu tóm quần sanh đều nhập Vô Sanh. Như trong kinh Đại Phẩm Bát Nhã có nói: Từ tướng bánh xe ngàn căm dưới chân, tỏa ra sáu trăm vạn ức quang minh. Từ mười ngón chân, hai mắt cá chân, đầu gối, gót chân, bắp đùi, eo, bụng, lưng, rốn, tim, ngực, vai, cánh tay, ngón tay, cổ, miệng, răng, lỗ mũi, mắt, tai, tướng bạch hào, và nhục kế, mỗi nơi đều tỏa ra sáu trăm vạn ức quang minh. Từ các luồng sáng ấy, tỏa ra các vầng quang minh to lớn chiếu trọn khắp các thế giới chư Phật trong mười phương nhiều như cát sông Hằng. Nếu chúng sanh gặp quang minh ấy, ắt đắc A Nậu Bồ Đề (Vô Thượng Chánh Giác). Nay quang minh được tỏa ra cũng giống như thế, cho nói “khắp thân phóng đại quang minh, chiếu trọn khắp vạn ức các cõi nhiều như cát”.

          (Kinh) Xuất đại âm thanh, phổ cáo chư Phật thế giới nhất thiết chư Bồ Tát Ma Ha Tát, cập thiên, long, quỷ, thần, nhân phi nhân đẳng.

          ()出大音聲普告諸佛世界一切諸菩薩摩訶薩及天龍鬼神人非人等。

          (Kinh: Phát ra âm thanh to lớn, bảo khắp hết thảy các vị Bồ Tát Ma Ha Tát và trời, rồng, quỷ, thần, người, phi nhân v.v… trong  các  thế

giới của chư Phật).

          “Đại âm thanh” chính là tướng Phạm thanh trong ba mươi hai tướng. Luận Tân Tỳ Bà Sa nói: “Phạm thanh của Như Lai: Trong cổ họng của Phật có đại chủng mầu nhiệm, có thể nói các phạm âm hòa nhã, vui đẹp lòng người như chim Yết La Tần Già (chim Ca Lăng Tần Già), và phát ra âm thanh như sấm rền vang xa, như tiếng trống của Đế Thích”. Đại Luận nói: “Như năm thứ tiếng của Phạm Thiên Vương, từ miệng phát ra: Một là rất sâu như sấm. Hai là trong trẻo, thấu triệt, có thể nghe được rất xa, người nghe vui sướng. Ba là nghe lọt vào tâm, [người nghe] sanh lòng kính yêu. Bốn là trọn vẹn chắc thật, dễ hiểu. Năm là người nghe muốn nghe chẳng chán”. Vì thế nói là “xuất đại âm thanh”. “Cáo chư Bồ Tát” (bảo các Bồ Tát): Nhằm lưu thông kinh này, cho nên bảo trời, rồng v.v… hãy ủng hộ kinh này.

          (Kinh) Thính ngô kim nhật xưng dương tán thán Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, ư thập phương thế giới, hiện đại bất khả tư nghị, oai thần từ bi chi lực, cứu hộ nhất thiết tội khổ chi sự.

          ()聽吾今日稱揚讚歎地藏菩薩摩訶薩於十方世界現大不可思議威神慈悲之力救護一切罪苦之事。

          (Kinh: Nghe ta ngày nay xưng dương, tán thán Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, trong mười phương thế giới, hiện sức oai thần từ bi to lớn chẳng thể nghĩ bàn để làm chuyện cứu vớt, che chở hết thảy kẻ tội khổ).

          “Thính” (nghe) là do sức của tai. Đối với loài người, sự dụ hoặc bên ngoài phần nhiều là do mắt tiếp xúc; nhưng không lọt sâu vào lòng người bằng tai nghe. “Nghe” tạo hữu ích cho mọi người cũng nhiều. Vì sao? Nhìn thì tán loạn, mà nghe thì tập trung. Cổ nhân đã khéo khế hợp lý này, đã tạo chữ Thính (聽) do Nhĩ (耳, tai), Đĩnh (𡈼, tốt lành), và Đắc (悳, tâm thẳng thắn) ghép lại, hàm ý: Hễ tai nghe thì những gì được nghe là đức, tâm làm chủ. Vì thế, cần phải gom cái nhìn lại, xoay trở lại cái nghe, hãy nghe ta ngày nay xưng dương, tán thán.

          Chữ Hiện (現) ở đây có nghĩa là “khởi lên”. Tuy biết các pháp vô tánh, Phật chủng vẫn do duyên khởi. Chúng sanh do nhân này mà cảm, đức Địa Tạng do duyên này mà ứng. “Đại”: Tánh ấy rộng lớn, dung nạp rất nhiều. Đại sư tử hống, lợi ích to lớn cho thánh lẫn phàm. “Bất khả tư nghị” (chẳng thể nghĩ bàn): Ba thứ Thể, Tướng, và Dụng đều chẳng thể nghĩ bàn. Toan nói về chúng thì ngôn từ chỉ tổn thương sự thật. Toan nghĩ suy thì suy nghĩ khiến sự thật bị vùi lấp. Vì sao? Đã nói “các pháp vô tánh”, tức là chẳng có bốn tánh[9] để suy lường. Đã thế, Phật chủng là do duyên [sanh khởi] hòng đạt được lợi ích Tứ Tất Đàn. Ở đây, Dụng khởi từ Thể, Dụng còn ngầm khế hợp Lý. Thể nhờ vào Dụng để hiển lộ, mà bản thân của Thể thì không tịch. Thể chính là Dụng, Dụng chính là Thể, tùy ý ban bố, cứu bạt. “Thể, Dụng” chính là chẳng phải Thể và Dụng, ban bố và cứu bạt chẳng phải là ban bố và cứu bạt. Đấy chính là lợi ích Tất Đàn chỉ riêng Viên Giáo mới có, cho nên nói “đại bất khả tư nghị oai thần chi lực” (sức oai thần to lớn chẳng thể nghĩ bàn). Nhưng đạo từ bi, cứu bạt làm đầu, hoài bão của Bồ Tát lấy xót thương cứu tế làm Dụng, thường ứng hiện trọn khắp địa ngục, thay họ chịu khổ. Vì thế nói “cứu hộ nhất thiết tội khổ chi sự” (cứu vớt, che chở hết thảy các chuyện tội khổ).

3.2.3.1.1.2.1.2. Lệnh phương tiện hộ kinh (dạy [các vị Bồ Tát và đại chúng] hãy phương tiện hộ trì kinh này)

          (Kinh) Ngô diệt độ hậu, nhữ đẳng chư Bồ Tát đại sĩ, cập thiên, long, quỷ, thần đẳng, quảng tác phương tiện, vệ hộ thị kinh, linh nhất thiết chúng sanh, chứng Niết Bàn lạc.

          ()吾滅度後汝等諸菩薩大士及天龍鬼神等廣作方便衛護是經令一切眾生證涅槃樂。

          (Kinh: Sau khi ta diệt độ, hàng Bồ Tát đại sĩ các ông, và hết thảy trời, rồng, quỷ, thần v.v… hãy tạo phương tiện rộng rãi để bảo vệ, hộ trì kinh này, khiến cho hết thảy chúng sanh chứng niềm vui Niết Bàn).

          Kinh Đại Thừa nói Như Lai thật sự chẳng rốt ráo nhập Niết Bàn, nay [đức Phật] nói “ngô diệt độ hậu” (sau khi ta diệt độ) là vì lẽ nào? Ấy là vì củi căn cơ đã hết, lửa ứng hóa bèn tắt, thuận theo [lời thỉnh cầu của ma vương] Ba Tuần mà thị hiện diệt độ. Đối với phương tiện mà nói là “quảng tác” (rộng thực hiện) vì phương tiện chính là công cụ để thực hiện nhị lợi (tự lợi và lợi tha) của bậc Bồ Tát, chẳng thể tạm lìa trong khoảnh khắc!

Do vậy, kinh Duy Ma Cật nói: “Vô phương tiện, huệ phược. Hữu phương tiện, huệ giải” (Không phương tiện thì huệ bị trói buộc. Có phương tiện thì huệ được cởi gỡ), ý nói: Chẳng dùng cái tâm ái kiến để trang nghiêm cõi Phật, thành tựu chúng sanh. Dùng pháp Không, Vô Tướng, Vô Tác pháp để tự điều phục mà chẳng chán, nhàm; đó gọi là “huệ giải có phương tiện”. Không có [phương tiện] thì bị trói buộc.

          “Khuyên bảo vệ, hộ trì kinh này” do kinh này là thuốc tốt lành của chúng sanh. Ví như Chiên Đàn có thể trị bệnh của mọi người, hết thảy chúng sanh không ai chẳng mong có được. Có người có được nhiều cây hương Chiên Đàn, bó thành củi đem bán, chẳng có ai mua! Kinh này có thể khiến cho mọi người đắc đạo, không ai chẳng đắc độ. Sau khi ta nhập Niết Bàn, lưu lại kinh này trong thế gian, chẳng có ai nhìn tới, cũng giống như Chiên Đàn bó thành củi đem bán, chẳng có ai mua. Vì thế, đối với pháp, phải rộng tạo phương tiện, bảo vệ, hộ trì lưu thông, khiến cho hết thảy chúng sanh tội khổ sẽ lấp nguồn vô minh, nhổ rễ sanh tử, thoát khỏi ác đạo tam đồ, chứng Tam Đức tịch quang, ngõ hầu chẳng cô phụ sức từ bi oai thần, cũng như tấm lòng cứu vớt bảo vệ bọn tội khổ của bậc Đại Sĩ.

3.2.3.1.1.2.2. Phổ Quảng thỉnh lợi ích sự (Phổ Quảng thưa hỏi về chuyện lợi ích)

3.2.3.1.1.2.2.1. Đương cơ thỉnh thuyết (bậc đương cơ thỉnh Phật dạy bảo)     

          (Kinh) Thuyết thị ngữ dĩ, hội trung hữu nhất Bồ Tát, danh viết Phổ Quảng, hiệp chưởng, cung kính, nhi bạch Phật ngôn.

          ()說是語已會中有一菩薩名曰普廣合掌恭敬而白佛言。

          (Kinh: Nói lời ấy xong, trong hội có một vị Bồ Tát tên là Phổ Quảng, chắp tay, cung kính, mà bạch đức Phật rằng).

 

          Đoạn này chia thành hai tiểu đoạn. Phần đầu là người trùng tuyên bộ kinh này trần thuật oai nghi; từ chữ “kim kiến” (nay thấy) trở đi là phần tán thán, xin nói về lợi ích. Có một vị Bồ Tát liền vâng mạng làm người bảo vệ kinh này, tên Ngài là Phổ Quảng. Từ tâm phát khởi trí, trí trọn khắp pháp giới là Phổ. Dùng trí hướng dẫn hạnh, hạnh tròn đầy hư không là Quảng. Tâm là cảnh thể (bản thể của cảnh), Phổ Quảng là Dụng. Tâm tức là Pháp Thân, Phổ là Bát Nhã, Quảng tức Giải Thoát, do Đại Sĩ chứng Tam Đức (Pháp Thân, Bát Nhã, Giải Thoát) đã lâu, rộng cứu giúp quần sanh. Tuy Dụng chẳng lìa Thể, nhưng Thể lại cậy vào Dụng để hiển lộ; do đó, dùng Dụng để đặt tên. Nếu nói rộng chuyện ấy, sẽ giống như Thập Phổ của đức Quán Âm[10].

          (Kinh) Kim kiến Thế Tôn tán thán Địa Tạng Bồ Tát, hữu như thị bất khả tư nghị đại oai thần đức.

          ()今見世尊讚歎地藏菩薩有如是不可思議大威神德。

          (Kinh: Nay thấy đức Thế Tôn tán thán Địa Tạng Bồ Tát, có công đức oai thần to lớn chẳng thể nghĩ bàn như thế).

          Từ “kim kiến” (nay thấy) trở đi, trước hết, nhắc lại lời tán thán oai đức trong phần trên. Đại Luận viết: “Hỏi: Chư Phật thoát khỏi tam giới, chẳng chấp thế gian, chẳng có Ngã và Ngã Sở, thấy ngoại đạo, kẻ ác, Bồ Tát, và A La Hán bình đẳng giống hệt như nhau, chẳng khác. Vì sao tán thán Bồ Tát? Đáp: Phật tuy chẳng có tôi, ta, chẳng có ghét, yêu, đối với hết thảy các pháp tâm chẳng chấp trước, thương xót chúng sanh, dùng tâm đại từ bi hướng dẫn hết thảy. Vì thế, phân biệt: Đối với người lành bèn tán thán, cũng là vì muốn phá những điều ác ma mong mỏi. Do đức Phật tán thán mà vô lượng chúng sanh yêu thích Bồ Tát, cung kính, cúng dường. Về sau đều thành tựu Phật đạo. Do vậy, chư Phật tán thán Bồ Tát”. Vì sao tán thán? Do Địa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa đến nay có thể quán các pháp rốt ráo là Không, mà cũng có thể khởi tâm đại từ bi đối với chúng sanh. Hành Sanh Nhẫn, chẳng thấy chúng sanh. Hành Pháp Nhẫn, chẳng chấp các pháp. Tuy biết Niết Bàn là thật pháp (pháp chân thật) vô thượng, nhưng chẳng chấp giữ chứng đắc. Tuy biết chúng sanh như huyễn, như hóa, mà có thể khởi lên thân, khẩu, ý nghiệp [cứu độ], có thể nói là chí nguyện mênh mông. Có đại bi tâm, làm chuyện như thế, thật là hiếm có!

          (Kinh) Duy nguyện Thế Tôn, vị vị lai thế Mạt Pháp chúng sanh, tuyên thuyết Địa Tạng Bồ Tát lợi ích nhân thiên nhân quả đẳng sự, sử chư thiên long bát bộ, cập vị lai thế chúng sanh, đảnh thọ Phật ngữ.

          ()唯願世尊為未來世末法眾生宣說地藏菩薩利益人天因果等事使諸天龍八部及未來世眾生頂受佛語。

          (Kinh: Kính mong đức Thế Tôn vì chúng sanh đời Mạt Pháp trong vị lai mà tuyên nói những chuyện nhân quả lợi ích trời, người v.v… của Địa Tạng Bồ Tát, khiến cho trời, rồng tám bộ và chúng sanh đời vị lai kính vâng lời Phật).

 

          Nay đã thấy đức Thế Tôn tán thán oai thần, công đức to lớn chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát, nhưng đối với những chuyện như nhân quả lợi ích trời người v.v… càng nguyện [đức Phật] rủ lòng vì đời vị lai [mà dạy bảo cho]. Vì thế, xin đức Phật tuyên nói. Đức Thế Tôn thuyết pháp, chẳng ngoài bàn luận về Thí, Giới, sanh thiên. Chánh tu gọi là Nhân, cái đã đạt được thì gọi là Quả. Những điều được nêu rõ dưới đây đều xét theo phía trời người để chỉ rõ nhân quả. Nếu dạy về Tam Hiền Thập Địa trong Biệt Giáo thì trong các kinh sách của tông này (tông Thiên Thai) đã nói tường tận.

          “Thiên, long” là những người có thể cung kính tiếp nhận. “Phật ngữ” là pháp để cung kính tiếp nhận. Trong tâm lãnh nạp là Thọ (受). Trong thân người, đỉnh đầu được coi là tôn quý nhất. Nay nói “đảnh thọ” [nhằm biểu lộ] cung kính tột bậc, tin tưởng sâu xa. Chẳng tiếp nhận Phật ngữ, làm sao có thể nói là Thọ cho được?

3.2.3.1.1.2.2.2. Thế Tôn thùy đáp (đức Thế Tôn rủ lòng giải đáp)

3.2.3.1.1.2.2.2.1. Như Lai chánh đáp (đức Như Lai trả lời thẳng vào vấn đề)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.1. Giới thính, hứa thuyết (răn hãy lắng nghe, chấp thuận sẽ nói)

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Phổ Quảng Bồ Tát, cập tứ chúng đẳng: “Đế thính! Đế thính! Ngô đương vị nhữ, lược thuyết Địa Tạng Bồ Tát lợi ích nhân thiên phước đức chi sự”.

          ()爾時世尊告普廣菩薩及四眾等諦聽諦聽吾當為汝略說地藏菩薩利益人天福德之事。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo  Phổ  Quảng  Bồ  Tát  và  tứ

chúng rằng: “Lắng nghe! Lắng nghe! Ta nay sẽ vì ông nói đại lược những chuyện phước đức lợi ích trời, người của Địa Tạng Bồ Tát”).

          Răn bảo “lắng nghe” vì đây là chuyện từ bi oai thần chẳng thể nghĩ bàn! “Phước” là điều thiện giúp cho thiên đạo. Thiện bèn thuận theo trời, hòa khí ngày càng thấm đẫm. Từ chữ Thị (示) và chữ Phúc (畐) [ghép thành chữ Phước (福)], chữ này thuộc loại Hội Ý. “Đắc” (悳) chính là điều thiện vốn sẵn có. Trực tâm là Đắc (悳). Tánh mạng vốn sẵn chánh trực. Công lao dễ dàng, giản dị trong học vấn, thiên sách Hồng Phạm[11] trần thuật ngũ phước là “phước thọ, phú quý, khang ninh (mạnh khỏe bình yên), hảo đức (đức tốt đẹp), khảo chung (chết tốt lành)”. Sách Luận Ngữ dạy ngũ đức là ôn (ôn hòa), lương (thiện lương), cung (cung kính), kiệm (cần kiệm), nhượng (nhún nhường). Nếu xét theo giáo của chúng ta (đạo Phật) thì theo kinh Tứ Thiên Vương, trong sáu ngày trai, sứ giả, thái tử, thiên vương sẽ siêng năng tra xét chúng sanh, xem họ làm chuyện tốt lành hay xấu xa. Nếu trong những ngày đó, giữ tâm trai thanh tịnh, quy ngưỡng, kính lễ, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, chư thiên sẽ sai thiện thần canh gác, bảo vệ môn hộ. Các thứ dịch bệnh hung hiểm, các thứ tà, âm mưu sẽ bị tiêu diệt, đêm chẳng có ác mộng. Quan huyện, giặc cướp, tai biến nước, lửa trọn chẳng gây hại. Đến khi hết tuổi thọ, họ sẽ đón hồn thần của người ấy sanh lên trời. Do phước đức nơi cõi trời, sở nguyện tự nhiên, cung điện bảy báu tùy ý cư trụ. Hết tuổi thọ [nơi cõi trời], sẽ hạ sanh trong nhà vương hầu, diện mạo rạng rỡ, người khác trông thấy sẽ hoan hỷ, gặp Phật, gặp pháp, ắt đạt đến Nê Hoàn (Niết Bàn). Đấy đều là do [tuân thủ] Ngũ Giới, Thập Thiện, thâu liễm tình cảm, khống chế dục vọng. Nếu trong sáu ngày trai mà được như thế thì chính là chuyện phước đức lợi ích trời, người.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.2. Thừa chỉ nguyện văn (vâng theo lời dạy, mong được nghe)  

          (Kinh) Phổ Quảng bạch ngôn: “Dụy nhiên, Thế Tôn! Nguyện nhạo dục văn”.

          ()普廣白言唯然世尊願樂欲聞。

          (Kinh: Phổ Quảng bạch rằng: “Thưa vâng đức Thế Tôn! Con nguyện ưa thích nghe”).

          Ý nghĩa dễ hiểu.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3. Quảng minh lợi ích (nói cặn kẽ về lợi ích)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1. Giáo chủ thuyết lợi ích (đức giáo chủ nói đến lợi ích)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1. Quảng thuyết lợi ích chi sự (rộng nói những sự lợi ích)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1. Thông thị văn danh đẳng ích (dạy chung những chuyện lợi ích do nghe danh hiệu v.v…)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1. Cúng dường đắc phước (do cúng dường mà được phước)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.1. Văn danh tán lễ phước (phước do nghe danh hiệu bèn tán thán, lễ bái)

 

          (Kinh) Phật cáo Phổ Quảng Bồ Tát: – Vị lai thế trung, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát danh giả, hoặc hiệp chưởng giả, tán thán giả, tác lễ giả, luyến mộ giả, thị nhân siêu việt tam thập kiếp tội.

          ()佛告普廣菩薩未來世中若有善男子善女人聞是地藏菩薩摩訶薩名者或合掌者讚歎者作禮者戀慕者是人超越三十劫罪。

          (Kinh: Đức Phật bảo Phổ Quảng Bồ Tát: “Trong đời vị lai, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe danh tự của vị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát này mà hoặc là chắp tay, tán thán, làm lễ, luyến mộ, người ấy sẽ vượt thoát tội trong ba mươi kiếp”).

          Người tu thiện được gọi là thiện nam hay thiện nữ. Kẻ làm ác được gọi là ác nam hay ác nữ. Như vua Diêm La răn truyền tội nhân: “Các ngươi nay ra đi, làm con của kẻ khác, hãy nghĩ tưởng hiếu thuận, báo ơn cha mẹ. Đang lúc tuổi trẻ sung sức, hãy nhẫn nại kiêng ác làm lành, dốc lòng tin tưởng Tam Bảo, giữ giới, giữ đạo, tu các công đức. Đừng làm ác nữa, kẻo trở lại nơi đây”. Thiện chính là tinh túy tự nhiên trong bản tánh của con người; nó phát khởi đúng lúc, sẽ tốt đẹp không gì có thể diễn tả được, không một điều [tốt đẹp nào] chẳng phát xuất từ nó. Vì thế, [chữ Thiện (善) dùng chữ Mỹ (美) nhằm giải thích cái tâm, hòng dạy học vấn căn bản cho trời, người. Vì sao lại dùng chữ Nhị (二) và Ngôn (言) để [tạo chữ]? Ngôn là tiếng của tâm. Nói lời thiện thì người khác cũng dùng điều thiện để đáp lại. Tâm mọi người đều cư xử như nhau, có thể thấy được cái tâm của trời. Nay nói do nghe danh hiệu của đức Địa Tạng mà chắp tay v.v… là do được nghe danh hiệu tốt lành. Bởi lẽ, danh hiệu của Đại Sĩ được trang nghiêm bằng vạn hạnh, vạn đức. Từ một niệm tối sơ của tấm lòng hiếu thảo cứu mẹ, trở thành cội nguồn của chuyện phát tâm cứu khổ cho lục đạo, [tâm niệm ấy] sâu rộng không bờ bến! Tới nay đã hơn mười một đại kiếp, nếu muốn phân biệt, dẫu hết một kiếp vẫn chẳng thể trọn hết! Do đó, chắp tay, tán thán, làm lễ v.v… đều vượt thoát tội trong bao kiếp. Như [thần y] Kỳ Bà (Jīvaka) nhặt lấy cỏ, không gì chẳng phải là thuốc, đều có thể trị bệnh. Hết thảy trọn đủ như châu Như Ý, thỏa mãn trọn hết nguyện ấy.

          “Chắp tay” biểu thị Quyền và Thật có cùng một Thể: Chín pháp giới là Quyền, Phật giới là Thật. Nay đã khai hiển “chúng sanh và Phật cùng một Thể”; đấy là thân nghiệp cúng dường. Hoặc tán thán tướng hảo vi diệu, hoặc khen ngợi công đức mênh mông, sâu xa; đấy là khẩu nghiệp cúng dường. Dập đầu sát đất, ngũ luân[12] đều trọn, hiểu rõ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao, chính là ba nghiệp đều cúng dường. Quyến luyến, ngưỡng mộ khắng khít, tâm niệm chẳng gián đoạn, hoặc tưởng oai đức của Bồ Tát, hoặc giãi bày niềm buồn thương của chính mình; đấy là ý nghiệp cúng dường. Người ấy vừa thoáng nghe danh hiệu Bồ Tát bèn chắp tay, tán thán v.v… đều có thể vượt thoát trọng tội trong ba mươi kiếp, đấy chẳng phải là sức oai thần từ bi chẳng thể nghĩ bàn ư?

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.2. Tố họa hình tượng phước (phước do đắp, vẽ hình tượng)

          (Kinh) Phổ Quảng! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, hoặc thái họa hình tượng, hoặc thổ, thạch, giao, tất, kim, ngân, đồng, thiết, tác thử Bồ Tát, nhất chiêm, nhất lễ giả.

          ()普廣若有善男子善女人或彩畫形像或土石膠漆金銀銅鐵作此菩薩一瞻一禮者。

          (Kinh: Này Phổ Quảng! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, hoặc vẽ vời hình tượng, hoặc dùng đất, đá, keo, sơn, vàng, bạc, đồng, sắt làm tượng vị Bồ Tát này, một lần chiêm ngưỡng, lễ một lạy).

          Trước hết là tu nhân. “Thái họa” (vẽ vời) là như kinh Pháp Hoa dạy: “Nhược nhân vị Phật cố, kiến lập chư hình tượng” (Nếu có người vì Phật mà tạo dựng các hình tượng). “Thái” (彩) là màu sắc. Dùng ngũ sắc để trang hoàng, tô vẽ hình tướng trăm phước. “Thổ, thạch, giao, tất” (đất, đá, keo, sơn): Hoặc dùng đất sạch để nặn, đắp hình tượng, hoặc dùng đá cứng khéo điêu khắc thành hình tượng. Theo kinh Ưu Bà Tắc Giới thì không được dùng chất keo [chế từ động vật] (cõi này có hai loại keo làm từ da trâu và ruột cá). [Sử dụng hai chất keo ấy để làm tượng] sẽ phạm tội thất ý (tội ơ hờ, không cẩn thận). [Chất keo] được dùng trong kinh này chính là keo từ nhựa cây (như các loại bạch cập). Có người nói nước của đại đậu (đậu nành, sách Bổn Thảo [Cương Mục] bảo là đậu đen), có thể thay thế, chế thành một loại keo trong. Như Quang Trạch[13] cho phép dùng keo làm từ da trâu, rốt cuộc [tượng vẽ ấy] là vật bất tịnh, sau này sẽ mắc quả báo bất tịnh. Ấy là do tượng vẽ mà không dùng chất keo, lâu ngày sẽ bay mất màu, chất vải trơ trụi không có keo, hình vẽ sẽ không dính chắc [nền vải]. Đấy là thứ cần thiết không thể thiếu khi tạo loại tượng này.

          Vàng, bạc, đồng, sắt tuy giá trị sang quý hay tầm thường khác nhau, nhưng đều là những chất cứng chắc, không thay đổi. Đổ khuôn đúc làm tượng thì vĩnh viễn trang nghiêm. Tu Bạt Noa (Suvarṇa) dịch là Kim (vàng). Theo Đại Luận, [chất vàng] tìm thấy từ cát, từ đá núi, hay từ chất đồng có màu đỏ. Sách Thuyết Văn Giải Tự nói kim loại có năm màu, hoàng kim quý nhất, do chôn lâu ngày không thay đổi, nung luyện trăm lần chẳng nhẹ bớt. A Lộ Ba (Rūpya) dịch là Ngân (bạc). Theo Đại Luận, bạc có được do nung đá. Sách Nhĩ Nhã viết: “Chất kim loại màu trắng được gọi là Bạc”. Đồng là thứ kim loại có màu đỏ, kém hơn bạc. Kinh A Lỗ Lực chép: “Đa Rị Lộ Ha, chú vân tam kim, vị kim, ngân, đồng. Tùng kim, tùng đồng, sắc dữ kim tương tự, nhi đức đại hữu gián hỹ” (Đa Rị Lộ Ha tức là ba thứ kim loại, tức vàng, bạc, đồng. Đồng (銅) là do chữ Kim (金) và chữ Đồng (同) ghép lại, [chất đồng] có màu sắc tương tự như vàng, nhưng đặc tánh thua kém vàng rất xa).

          Cổ văn dựa theo ý nghĩa mà chế chữ, [đã tạo chữ Thiết nhằm] biểu thị “chẳng thể dựa theo hình mạo để xét đoán con người được”. Sắt là chất kim loại có màu đen. [Chữ Thiết (銕, sắt) viết theo lối cổ] do Di (夷) [và Kim (金) ghép lại], thể hiện ý nghĩa “sắt là thứ tầm thường”. Sắt tầm thường, luyện lâu ngày sẽ thành tinh thuần. Tuy nung luyện trăm lần mà chẳng hao tổn, được gọi là “chân cang”[14]. Trong ngũ kim, sắt có địa vị thấp nhất, nhưng được sử dụng nhiều nhất, là thứ hữu ích chẳng thể thiếu đối với dân chúng. Trên đây là nói về chuyện tạo tượng.

          Theo Giới Kinh, tiền bất tịnh chẳng nên dùng để tạo tượng, có thể đổi lấy tiền thanh tịnh đúng pháp để tạo tượng. Lại chớ nên tạc tượng bán thân, [vì tượng bán thân] chẳng thể dấy khởi tướng tốt lành [trong tâm người chiêm ngưỡng], họ sẽ đọa lạc trong sanh tử. Người chiêm ngưỡng, lễ bái tượng Bồ Tát một lượt, [tức là] do người khác dùng các món vật [đã nói trên đây] để tạo hình tướng thù thắng của Địa Tạng Bồ Tát, mà có thiện nam, thiện nữ nào trông thấy, hoặc chỉ ngắm nhìn chẳng lễ, hoặc vừa chiêm ngưỡng vừa lễ bái, cho thấy tu nhân rất ít, nhưng đạt được quả báo cực đại!

          (Kinh) Thị nhân bách phản sanh ư tam thập tam thiên, vĩnh bất đọa ư ác đạo. Giả như thiên phước tận cố, hạ sanh nhân gian, do vi quốc vương, bất thất đại lợi.

          ()是人百返生於三十三天永不墮於惡道。假如天福盡故下生人間猶為國王不失大利。

          (Kinh: Người ấy trăm lần sanh trong ba mươi ba tầng trời, vĩnh viễn chẳng đọa trong ác đạo. Nếu như vì phước trời đã hết, sanh xuống nhân gian, vẫn là một vị quốc vương, chẳng đánh mất lợi ích to lớn).

 

          “Thị nhân” (người ấy) tức là người tạo tượng, chiêm lễ, sẽ sanh một trăm lượt trong ba mươi ba tầng trời, lại còn vĩnh viễn chẳng đọa vào ác đạo, do tạo tượng vốn là nghiệp sanh thiên.

          Kinh Tạo Tượng Công Đức nói: “Nhược nhân lâm chung, phát ngôn tạo tượng, nãi chí như mạch cảnh, năng trừ tam thế bát thập ức kiếp sanh tử chi tội, hữu thập nhất công đức. Nhất, thế thế nhãn mục thanh khiết. Nhị, sanh xứ vô ác. Tam, thường sanh quý gia. Tứ, thân như tử ma kim sắc. Ngũ, phong nhiêu trân ngoạn. Lục, sanh hiền thiện gia. Thất, sanh đắc vi vương. Bát, tác Kim Luân Vương. Cửu, sanh Phạm Thiên. Thập, bất đọa ác đạo. Thập nhất, hậu sanh hoàn năng kính trọng Tam Bảo” (Nếu kẻ nào lâm chung, thốt lời tạo tượng, dẫu chỉ là tượng nhỏ như một hạt lúa mì, có thể trừ tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử cả ba đời, có mười một công đức: Một, đời đời mắt thanh khiết. Hai, sanh vào chỗ không có điều ác. Ba, thường sanh trong nhà tôn quý. Bốn, thân có màu như chất vàng tía đã được giồi mài. Năm, những thứ đồ trân ngoạn dư dật. Sáu, sanh trong nhà hiền thiện. Bảy, sanh ra được làm vua. Tám, làm Kim Luân Vương. Chín, sanh vào Phạm Thiên. Mười, chẳng đọa ác đạo. Mười một, đời sau vẫn có thể kính trọng Tam Bảo). Vì thế, sau đó liền nói: “Giả như thiên phước” (nếu như phước trời). Ngài Diệu Lạc (tổ Kinh Khê Trạm Nhiên)[15] nói: “[Thiện căn do tạo tượng Bồ Tát, chiêm ngưỡng, lễ bái] há có phải là thiện căn sanh trong nhân thiên của Dục Giới ư?” Vì thế, hậu hiền giảng kinh này, trọn chẳng thể chuẩn theo kinh Chánh Pháp Niệm Xứ để nói Đao Lợi Thiên là “tam thập tam thiên”, ắt phải dựa theo kinh Quán Đảnh Chú như tôi đã trích dẫn [trong những phần trước]. Đấy chính là điều xác định ngàn đời không sai vậy.

          “Bất thất đại lợi” (chẳng đánh mất lợi ích to lớn): Nói chung thì tuy sanh làm vua trong loài người, vẫn chẳng đánh mất lợi ích to lớn do tạo tượng, chiêm ngưỡng, lễ bái. Nếu xét sâu xa ý ấy, ắt phải coi thành Phật là đại lợi! Như kinh đã dạy “như thị chư nhân đẳng, tiệm tiệm tích công đức, cụ túc đại bi tâm, giai dĩ thành Phật đạo” (những người như thế ấy, dần dần tích công đức, trọn đủ tâm đại bi, đều đã thành Phật đạo) chính là nói lên ý nghĩa này. Vì thế, ngài Diệu Lạc nói: “Kinh này (kinh Pháp Hoa) muốn gồm thâu những điều thiện nhỏ nhặt từ vô thỉ vì chúng đều [là tư lương] để tiến hướng Bồ Đề. Nếu đã phát tâm, thuận theo những điều thiện mảy may đã có, không gì chẳng phải là duyên nhân [để thành Phật]”. Nay kinh này đã giống như kinh Pháp Hoa, phước lợi tự chẳng nghĩ bàn!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3. Yếm nữ cúng tượng phước (chán nhàm thân nữ, được phước do cúng dường tượng Bồ Tát)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.1. Yếm nữ thân cúng tượng chuyển báo (chán nhàm thân nữ, do cúng dường tượng mà chuyển báo)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.1.1. Minh cúng tượng (nói về chuyện cúng dường tượng)

         

          (Kinh) Nhược hữu nữ nhân, yếm nữ nhân thân, tận tâm cúng dường Địa Tạng Bồ Tát họa tượng, cập thổ, thạch, giao, tất, đồng, thiết đẳng tượng.

          ()若有女人厭女人身盡心供養地藏菩薩畫像及土石膠漆銅鐵等像。

          (Kinh: Nếu có người nữ nhàm chán thân nữ, dốc lòng cúng dường tượng vẽ và các tượng bằng đất, đá, keo, sơn, đồng, sắt v.v… của Địa Tạng Bồ Tát).

          Hai câu đầu là nói về ý khởi tâm cúng dường vì chán nhàm thân nữ. [Điều này] giống như trong lời nguyện của Phật Dược Sư: “Nhược hữu nữ nhân vị nữ bách ác chi sở bức não, cực sanh yếm ly, nguyện xả nữ thân” (Nếu có nữ nhân bị trăm điều ác của thân nữ bức bách, khổ não, hết sức chán nhàm, nguyện bỏ thân nữ). Bởi lẽ, thân nữ nhân do dâm nghiệp mà có, nương theo ái tâm mà sanh, là bẫy rập hãm người, là đồi gò tích tụ các thứ nhơ uế. Kinh Siêu Nhật Nguyệt nói [thân nữ] có năm điều chướng ngại:

          – Một là không được làm Phạm Thiên Vương; do thanh tịnh và cấu nhiễm bất đồng.

          – Hai là không được làm Đế Thích, do thiểu dục và đa dục sai khác.

          – Ba là không được làm ma vương, do cứng cỏi và mềm yếu sai khác.

          – Bốn là không được làm Chuyển Luân Vương, do nhân từ và ganh ghét khác biệt vời vợi.

          – Năm là không được làm thân Phật, do vạn đức và phiền não khác biệt.

          Kinh Ngọc Da lại còn nói cặn kẽ mười điều ác nơi thân nữ:

          – Một là mới sanh ra, cha mẹ chẳng vui mừng.

          – Hai là tuy được chăm bẵm, nhưng không được coi trọng lắm.

          – Ba là tâm thường sợ hãi kẻ khác.

          – Bốn là cha mẹ lo lắng về chuyện cưới gả.

          – Năm là phải lìa khỏi cha mẹ trong khi còn sống.

          – Sáu là sợ sự mừng, giận của chồng.

          – Bảy là mang thai, sanh nở rất gian nan.

          – Tám là ít được cha mẹ quan tâm giao phó những việc trọng đại.

          – Chín là bị chồng hạn chế.

          – Mười là khi già cả lại bị con cháu chê trách.

          Vì thế, người nữ có trí thường sanh lòng chán nhàm [thân nữ].

          Từ chữ “tận tâm” trở đi là nói về cách cúng dường. Kinh Tô Tất Địa đã nói chi tiết về các cách cúng dường khác biệt. Đối với chuyện cúng dường [theo kinh đó], bèn vâng theo Phổ Hiền Tỳ Thủ Yết Ma để làm. [Pháp ấy] vốn trích từ pháp Hư Không Khố Tạng[16], nương vào Đại Viên Kính Trí và Thành Sở Tác Trí để thực hiện. Cần phải nghiền ngẫm hai chữ “tận tâm”. Những vật cúng như sẽ kể trong đoạn kế tiếp đều thuộc về Sự, là Tài Thí. Nếu chẳng lìa tự tâm, dốc cạn tấc lòng để thực hiện, thì hết thảy các pháp, dẫu hướng theo phương diện Pháp hay theo phương diện Tài, đều chẳng thành vấn đề, bởi toàn thể Sự chính là Lý, Tài chính là Pháp vậy. Cách tạo tượng giống như trong phần trước.

          (Kinh) Như thị nhật nhật bất thoái, thường dĩ hoa, hương, ẩm thực, y phục, tằng thái, tràng phan, tiền, bảo vật đẳng cúng dường.

          ()如是日日不退常以華香飲食衣服繒綵幢旛寶物等供養。

          (Kinh: Hằng ngày chẳng thoái chuyển như thế, thường dùng hoa, hương, thức ăn, lọng lụa[17], tràng phan, tiền, các thứ vật báu v.v… để cúng dường).

         

          Hằng ngày đều như thế chẳng thoái chuyển, có thể nói là “tâm luôn kiên cố, niệm nào cũng siêng năng, chuyên ròng”. Hoa, hương, thức ăn, y phục như đã giải thích trong phần trước. “Tằng thái” (繒綵) tức là loại lụa năm màu. Chữ Tằng (繒) có hai âm đọc:

          – Một là Tăng, cùng âm với chữ Tăng (增); có nghĩa như chữ Tăng (矰) tức là sợi dây bằng tơ bện dùng buộc vào mũi tên để bắn le, nhạn, [khi bắn xong, sẽ dễ lôi con mồi về, không phải chạy ra tận nơi nhặt]. Cổ thi có câu: “Vị tất phùng tăng chước” (chưa chắc đã gặp phải tên bắn) là nói về chuyện này.

          – Hai là Tằng, âm giống như chữ Tình (情), có nghĩa là lụa. Dâng tặng cho thần thì gọi là Tằng (繒), nay [chữ “繒” ở đây phải] đọc theo âm giống như chữ Tình (tức là đọc thành Tằng).

          Tràng (幢) trong tiếng Phạn là Thoát Xà (Dhvaja), Tư Trì Ký dịch là Tràng. Sách Lăng Nghiêm Kinh Huân Văn Ký dẫn sách Nhĩ Nhã cho rằng: “Xà (闍) có nghĩa là Đài, nhưng nói là Thoát thì có nghĩa là đất chất chứa [để làm nền đài] bị lở sụp”. Nay chẳng dùng nghĩa ấy, vì đây là [phiên âm] tiếng Phạn, thế nhưng trong [Thích Dịch] Danh Nghĩa Tập [của ngài Pháp Vân] đã coi từ ngữ này liên quan với chùa, tháp, đàn, và tràng, cho nên ý nghĩa Đài cũng chẳng sai. Nhưng sách Thuyết Văn Giải Tự giảng: “Tràng thuộc loại cờ hiệu”. Sách Phụ Hành lại nói: “Phan là tiếng gọi chung của các loại cờ hiệu”. Nay do thứ để cúng dường trong Phật pháp có hình dạng giống như vậy, cho nên gọi là Phan (旛). Tức là Phan và Tràng cùng một loại; phan to thì gọi là Tràng. Tràng có nghĩa là “ngăn che, chứa đựng”. Cắm chi chít trên mui xe hình dung sự che kín, tức là Tràng cũng tương tự như vật dùng để che phủ xe. Vì thế, đất Sở gọi nó là Trù (幬, màn hay rèm che), còn Quan Đông và Quan Tây thì gọi là Tràng. Phàm trong cách tạo phan, đừng nên [thêu, vẽ] hình tượng Phật, Bồ Tát và danh hiệu của các Ngài. [Bởi lẽ], phan là vật để dâng cúng, dâng cúng cho đấng được cúng dường, sao lại dùng hình tượng và danh hiệu của các Ngài để dâng cúng? “Tiền, bảo vật” v.v… là tánh mạng của chúng sanh, là vật liền khúc ruột, khó quên được. Có thể xả tài vật coi như tánh mạng, trong tâm chẳng keo tiếc, thì nội tâm ngưng dứt keo tham, sẽ đạt được vô lượng phước.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.1.2. Chuyển báo quả (chuyển đổi quả báo)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.1.2.1. Minh chuyển nữ thân (nói về chuyện chuyển thân nữ thành nam)

          (Kinh) Thị thiện nữ nhân, tận thử nhất báo nữ thân, bách thiên vạn kiếp, cánh bất sanh hữu nữ nhân thế giới, hà huống phục thọ!

          ()是善女人盡此一報女身百千萬劫更不生有女人世界何況復受

          (Kinh: Thiện nữ nhân ấy khi hết thân nữ trong đời này, sẽ trong trăm ngàn vạn kiếp trọn chẳng sanh trong thế giới có nữ nhân, huống hồ còn phải thọ thân nữ nữa ư!)

          Chuyện chuyển báo khó khăn, cốt yếu là lòng tinh thành. Nay đã dốc trọn tấm lòng cúng dường, lại còn ngày ngày chẳng lui sụt, cho nên khi thọ xong quả báo trong đời này, từ đấy trở đi, trong trăm ngàn vạn kiếp, chẳng còn sanh vào thế giới có nữ nhân, tức là nói tới Tây Phương Cực Lạc, một mực chẳng có nữ nhân, huống hồ còn phải thọ thân nữ trong tam giới nữa ư?

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.1.2.2. Nguyện bất chuyển nữ ([trường hợp] người nữ đó chẳng mong chuyển thân nữ)

          (Kinh) Trừ phi từ nguyện lực cố, yếu thọ nữ thân, độ thoát chúng sanh.         

()除非慈願力故要受女身度脫眾生。

          (Kinh: Trừ phi do nguyện lực từ bi, cần thọ thân nữ để độ thoát chúng sanh).

          Như Ma Da phu nhân, do pháp môn Đại Huyễn Nguyện Trí, vĩnh viễn làm mẹ của một ngàn đức Phật. Đấy là dùng pháp môn thuận ái để độ chúng sanh. Lại như cô Bà Tu Mật Đa (Vasumitrā) [trong hội Hoa Nghiêm] nói pháp môn Ly Dục Tế: “Hết thảy chúng sanh tùy theo từng loại hễ thấy ta, ta sẽ khiến cho họ đắc hết thảy tam-muội”. Đấy là dùng pháp môn nghịch ái để độ chúng sanh, đều là do sức thệ nguyện từ ái tam-muội mà thị hiện làm nữ nhân. “Trước là dùng dục để lôi kéo, sau đó khiến cho họ nhập Phật Trí” chính là ý nghĩa này!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.1.2.3. Kết bất thọ nữ thân (tiểu kết về chuyện chẳng thọ thân nữ)

          (Kinh) Thừa tư cúng dường Địa Tạng lực cố, cập công đức  lực,

bách thiên vạn kiếp, bất thọ nữ thân.

          ()承斯供養地藏力故及功德力百千萬劫不受女身。

          (Kinh: Nương vào sức cúng dường Địa Tạng và sức công đức, trong trăm ngàn vạn kiếp chẳng thọ thân nữ).

          Cúng dường đức Địa Tạng chính là hành tinh tấn trong hiện thời. “Cập công đức lực” (và sức công đức) chính là do huân thập điều thiện mà phát khởi. Chủng tử và hiện hành huân tập lẫn nhau, công nghiệp hoàn thành, cho nên trong trăm ngàn vạn kiếp, vĩnh viễn chẳng thọ thân nữ nhân.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.2. Yếm xú bệnh lễ tượng hoạch phước (chán thân xấu xí, bệnh tật, lễ tượng được phước)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.2.1. Chiêm lễ (chiêm ngưỡng, lễ bái)

          (Kinh) Phục thứ Phổ Quảng! Nhược hữu nữ nhân, yếm thị xú lậu, đa tật bệnh giả, đản ư Địa Tạng tượng tiền, chí tâm chiêm lễ, thực khoảnh chi gian.

          ()復次普廣若有女人厭是醜陋多疾病者但於

地藏像前志心瞻禮食頃之間。

          (Kinh: Lại này Phổ Quảng! Nếu có người nữ chán ngán tấm thân hôi hám, xấu xí, lắm bệnh tật này, chỉ đối trước tượng Địa Tạng, chí tâm chiêm ngưỡng, lễ bái trong khoảng một bữa ăn).

          “Xú” (醜) là hôi thối, dơ bẩn, Lậu (陋) là xấu xí, thô kệch. Trong cõi này (Trung Hoa), vào thời Hoàng Đế thì có Mô Mẫu[18], nước Tề có Vô Diêm Nữ, vợ của Lương Hồng là Mạnh Quang, đều là những cô gái xấu trong thiên hạ nhưng là những bậc hiền huệ. Theo kinh Nghiệp Báo Sai Biệt, do mười nghiệp mà chịu báo xấu xí:

          – Một là ưa giận dữ.

          – Hai là ưa ganh ghét, oán hận.

          – Ba là bịa chuyện, gạt gẫm người khác.

          – Bốn là não loạn chúng sanh.

          – Năm là chẳng có lòng kính yêu cha mẹ.

          – Sáu là chẳng sanh lòng cung kính đối với hiền thánh.

          – Bảy là xâm phạm, chiếm đoạt vật dụng cần thiết trong cuộc sống, ruộng nương, và tài sản của bậc hiền thánh.

          – Tám là dập tắt đèn thắp sáng trong tháp miếu thờ Phật.

          – Chín là thấy kẻ xấu xí bèn hủy báng, chê bai, khinh miệt.

          – Mười là quen hành các thói ác.

          Cũng do mười nghiệp mà mắc báo ứng lắm bệnh:

          – Một là thích đánh đập hết thảy chúng sanh.

          – Hai là xúi người khác đánh đập.

          – Ba là khen ngợi cách đánh.

          – Bốn là thấy [người khác] đánh đập bèn vui vẻ.

          – Năm là não loạn cha mẹ.

          – Sáu là não loạn hiền thánh.

          – Bảy là thấy kẻ oán khổ sở vì bệnh tật, tâm hết sức hoan hỷ.

          – Tám là thấy kẻ oán khỏi bệnh, sanh tâm bực bội.

          – Chín là thấy kẻ oán bị bệnh, chẳng cho họ thuốc trị đúng bệnh.

          – Mười là đồ ăn cũ chưa tiêu hóa hết, lại ăn thêm.

          Do hai mươi loại nghiệp ấy mà cảm thân nữ nhân xấu xí, bệnh tật. Tướng mạo xấu xí, bị chồng ghét bỏ, chuốc lấy tiếng gièm chê của mọi người, thân lắm bệnh tật, đến nỗi chính mình sầu khổ, chuốc phải tình cảnh quyến thuộc lấn hiếp. Ba điều ác cùng tụ tập, suốt một đời lắm nỗi ưu sầu, há chẳng ôm lòng chán bỏ từ lâu ư? [Đây là nói về] căn cơ có thể cảm và nguyên do gây tạo nên tình cảnh ấy, tiếp theo là nói về chuyện tu nhân. “Thực khoảnh” (食頃) là thời gian một bữa ăn. Dùng ít để hiển thị nhiều, dùng ngắn để hình dung dài vậy!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.2.2. Chuyển báo (chuyển đổi quả báo)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.2.2.1. Tướng mạo viên mãn (tướng mạo viên mãn)

         

          (Kinh) Thị nhân thiên vạn kiếp trung, sở thọ sanh thân, tướng mạo viên mãn.     

          ()是人千萬劫中所受生身相貌圓滿。

          (Kinh: Người ấy trong ngàn vạn kiếp, nhận lãnh tấm thân tướng mạo viên mãn).

         

          Điều này hiển lộ công năng chẳng thể nghĩ bàn của việc tạm thời chiêm ngưỡng, lễ bái. “Viên” (圓) là chẳng có tướng xấu ác méo mó, vẹo vọ. “Mãn” (滿) là không có tướng xấu xí, cong quẹo. Đã đạt được tướng mạo viên mãn, thân thể tự nhiên chẳng có bệnh tật.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.2.2.2. Quý tánh thọ sanh (thọ sanh trong dòng họ cao quý)

          (Kinh) Thị xú lậu nữ nhân, như bất yếm nữ thân, tức bách thiên vạn ức sanh trung, thường vi vương nữ, nãi cập vương phi, tể phụ, đại tánh, đại trưởng giả nữ, đoan chánh thọ sanh, chư tướng viên mãn.

          ()是醜陋女人如不厭女身即百千萬億生中常為王女乃及王妃宰輔大姓大長者女端正受生諸相圓滿。

          (Kinh: Người nữ hôi hám, xấu xí ấy nếu chẳng chán thân nữ, sẽ trong trăm ngàn vạn đời thường làm vương nữ, hoặc vương phi, con gái của tể phụ, thế gia vọng tộc, hay con gái của đại trưởng giả, thọ sanh đoan chánh, các tướng viên mãn).

          Chẳng chán thân nữ do chưa quên tình ái; nhưng công năng của chiêm ngưỡng, lễ bái, chẳng sai sót mảy may! Vì thế, trong vạn ức đời, thường làm con gái vương gia, như cô Thắng Man (Śrīmālā) con gái vua Ba Tư Nặc (Prasenajit), hoặc Thuật Đạt (Asuddharta) [con gái của] A Xà Thế (Ajātaśatru).

          “Vương phi”: Phi (妃) là “hợp”, quý hiển trong hàng phi tần ngự dụng, [địa vị] chỉ thua Hoàng Hậu. Lại nữa, trong hậu cung của thiên tử, dẫu là vợ cả hay vợ lẽ, đều gọi là Phi; như các bà Mạt Lợi (Mallikā), Vi Đề Hy (Vaidehī) chẳng hạn. Tể phụ, thế gia vọng tộc chính là tay chân của thiên tử, hoặc bậc nguyên huân, a hành[19]. Hoặc sanh trong thế gia vọng tộc dòng Sát-đế-lợi, hoặc sanh làm con gái của trưởng giả thuộc thế gia vọng tộc trong giai cấp Bà-la-môn, như cô Tô Mạn (Sumangala) con gái ông Tu Đạt Đa (Sudatta), hoặc cô Nguyệt Thượng (Candrottarā) con ngài Duy Ma Cật (Vimalakīrti).

          “Đoan chánh”: Tiếng Phạn là A Ba La Đề Mục Già (Apratimu-kha), phương này dịch là Đoan Chánh (端正). Biệt Hành Sớ viết: “Nữ nhân đoan chánh là khởi đầu của bảy đức”. Nhưng đoan chánh mà thiếu phước tướng thì hoặc là sớm mồ côi, hay sớm ở góa, tài lộc chẳng bền! Nay nói rõ diện mạo và tướng phù hợp, càng hiển lộ đức của người ấy. Đoan chánh ắt được chồng sủng ái, cũng như được tài lộc, kính trọng. Nếu yêu thương kèm theo khinh mạn, sao có thể gọi là đức? Yêu thương, kính trọng, cho nên gọi là “tướng”. Nay đã đoan chánh viên mãn, tướng càng mầu nhiệm trọn khắp vậy!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.3.2.3. Kết thành (tiểu kết phần thành tựu này)      

          (Kinh) Do chí tâm cố, chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát, hoạch phước như thị.    

()由志心故瞻禮地藏菩薩獲福如是。

          (Kinh: Do chí tâm kiên cố, chiêm ngưỡng, lễ bái Địa Tạng Bồ Tát bèn đạt được phước như thế).

          Hai chữ “chí tâm” nghĩa sâu, ý trọng, xuyên suốt phần trước lẫn phần sau, chớ nên xem nhẹ. Phàm một người chuyển đổi quả báo, đúng là chuyện chẳng dễ dàng! Ví như một gã nông dân bỗng đến trước tòa vua, như kẻ sống trong nhà xí chợt lên cung trời. Phước đột ngột [như sấm nổ] giữa đất bằng chẳng thể nào suy lường được! Nay đạt được phước, đúng là do chí tâm. “Chí” (志) là tâm đạt tới. Người nữ xấu xí ấy dùng chiêm ngưỡng, lễ bái để cảm, ngài Địa Tạng dùng từ lực để ứng, đều là tâm. Nếu đối với mỗi chuyện đều quen tánh so đo chẳng quên thì Năng lẫn Sở rạch ròi, phàm thánh khác nẻo, làm sao có thể cảm ứng đạo giao, chuyển báo, đạt phước cho nổi? Chỉ có trong lúc chiêm ngưỡng, lễ bái, hiểu rõ Năng lẫn Sở đều Không, cho nên trong khi cảm ứng, sẽ đạt đến Giả và Trung chẳng thể bàn, cho nên người đàn bà xấu xí chẳng hai, chẳng khác đức Địa Tạng, hoàn toàn do công của chí tâm. Vì thế, kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Nhược dục lễ Phật giả, đương lai cập quá khứ, đương quán không, vô pháp, thị danh lễ Phật nghĩa” (Nếu kẻ muốn lễ Phật thì hãy quán tương lai và quá khứ đều là không, chẳng có pháp. Đó là ý nghĩa việc lễ Phật). Chớ nên không biết bảy loại lễ[20] của Lặc Na Tam Tạng!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.1.4. Kỹ nhạc, tán cúng phước (phước do dùng âm nhạc để tán thán, cúng dường)

 

          (Kinh) Phục thứ Phổ Quảng! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, năng đối Bồ Tát tượng tiền, tác chư kỹ nhạc, cập ca vịnh, tán thán, hương, hoa cúng dường, nãi chí khuyến ư nhất nhân, đa nhân.

          ()復次普廣若有善男子善女人能對菩薩像前作諸伎樂及歌詠讚歎香花供養乃至勸於一人多人。

          (Kinh: Lại này Phổ Quảng! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, có thể đối trước tượng Bồ Tát, tấu các kỹ nhạc, và ca, vịnh, dùng hương, hoa cúng dường, cho đến khuyên một người hay nhiều người).

          Đoạn kinh văn này chia thành hai tiểu đoạn:

          – Đoạn đầu nói về căn cơ có thể cúng dường.

          – Từ chữ “như thị” (như thế) trở đi, [nói về] phước đạt được.

          “Năng” (người có thể cúng dường) là người tin tưởng, tốt lành, thật sự thực hiện. Lòng tin chẳng chân thật, sẽ chẳng thể làm được! Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng chữ Kỹ (伎) nếu do Nữ (女) và Chi (支) ghép lại [tức chữ Kỹ (妓)] thì có nghĩa là “phụ nữ làm nhạc công sử dụng những nhạc khí nhỏ”. Từ Nhân (人) [và Chi (支) ghép thành Kỹ (伎)] thì có nghĩa là “cho”. Nhạc là chuyện trọng yếu của bậc thiên tử, có thể quan sát, khảo cứu phong tục [để chế định lễ nhạc tương ứng], khiến cho dân chúng gột sạch những thứ xấu xa, tà vạy. Vì thế, lễ nhạc chẳng thể rời thân dẫu chỉ khoảnh khắc! Như Lễ Ký có nói: “Quỳ thỉ chế nhạc dĩ thưởng chư hầu. Tự Hoàng Đế hàm trì dĩ hạ, đại chế ư nhạc” (Quỳ (tên nhạc quan của vua Thuấn) bắt đầu chế nhạc để thiên tử thưởng cho chư hầu. Từ khúc nhạc Hàm Trì[21] của Hoàng Đế trở đi, các đời đều chế nhạc). Bất quá, đấy là dựa theo cõi này mà nói như vậy đó thôi!

          “Ca vịnh”: Sách Thượng Thư viết: “Thi ngôn chí, ca vịnh ngôn” (thơ nhằm diễn tả chí, ca hát để lời lẽ trong thơ được lan truyền)[22]. Trong phần lời Tựa cho kinh Thi đã viết: “Tình dấy động bên trong, hình thành lời lẽ. Do ngôn từ chẳng đủ để diễn tả, bèn than thở. Do than thở vẫn chẳng đủ, bèn ca vịnh”. “Ca” (歌) là âm thanh của nhạc, trực tiếp diễn tả đức ấy. Theo Sơn Hải Kinh, tám đứa con của Đế Tuấn[23] [là những người] khởi đầu ca hát. Nếu nói theo giáo của chúng ta (đạo Phật) thì là Phạm Bái. Bái (唄) của phương Tây giống như phương Đông có Tán. “Tán” (讚) là theo lời văn mà kết thành chương khúc; còn Bái là dùng những bài kệ ngắn để ca tụng. Hai chuyện này tuy tên gọi khác nhau, nhưng ý nghĩa thật sự đồng nhất. Nay đã tấu nhạc ngũ thanh, bát âm[24], cùng ngân nga ca vịnh, tán thán, lại còn bày hương, hoa, các vật cúng dường. Không chỉ là tự mình tin tưởng thực hiện, mà lại còn khuyên khắp những người khác làm theo, hoặc một người hay nhiều người, tùy duyên chuyển hóa.

          (Kinh) Như thị đẳng bối, hiện tại thế trung, cập vị lai thế, thường đắc bách thiên quỷ thần, nhật dạ vệ hộ, bất linh ác sự triếp văn kỳ nhĩ, hà huống thân thọ chư hoạnh.

          ()如是等輩現在世中及未來世常得百千鬼神日夜衛護不令惡事輒聞其耳何況親受諸橫

          (Kinh: Những người như thế, trong đời hiện tại và đời mai sau, thường được trăm ngàn quỷ thần, ngày đêm bảo vệ, chẳng để chuyện ác đột ngột lọt vào tai họ, huống hồ là đích thân hứng chịu những chuyện ngang trái ư?)

 

          Người như thế đáng nên được phước. Vì thế nói “như thị đẳng bối” (hạng người như thế). Nhưng tấu nhạc cúng dường tượng, cớ sao lại được quỷ thần bảo vệ? Lễ Ký viết: “Lễ nhạc chi hành hồ Âm Dương, thông hồ quỷ thần” (Lễ nhạc vận chuyển Âm, Dương, cảm thông quỷ thần). Sách Hán Thư chép: “Nhạc là thứ thánh nhân dùng để cảm trời đất, thông quỷ thần”; huống chi Càn Thát Bà và Khẩn Na La đều là nhạc thần của thiên đế. Nay đã dùng âm nhạc để ca vịnh đức Địa Tạng, lẽ nào chẳng cảm Đế Thích sai Càn Thát Bà và Khẩn Na La bảo vệ ư?

          Nhưng “chuyện ác chẳng nghe lọt vào tai” lại do đâu mà đạt được như thế? Thưa: Chẳng nghe sách Lễ Ký đã nói đó ư? “Phù nhạc, thanh minh tượng thiên, quảng đại tượng địa, chung thỉ tượng tứ thời, châu toàn tượng phong vũ” (Nhạc trong sáng giống như trời, rộng lớn giống như đất, từ đầu đến cuối giống như bốn mùa, xoay chuyển trọn khắp giống như gió, mưa). Nay đã tấu nhạc cúng dường tượng, tự nhiên sẽ cảm vời khí tượng trong sáng của trời đất, bốn mùa điều hòa, mưa gió đúng thời, làm sao có chuyện ác bỗng dưng nghe lọt vào tai cho được? Vì thế nói Nhạc có nghĩa là Lạc (vui). Quân tử vui do thấu đạt đạo, tiểu nhân vui do đạt được điều ham muốn. Huống chi nay đạt được phước, thật sự là do tín tâm mà có, lẽ nào còn đích thân hứng chịu các thứ ngang trái ư? Nếu dựa theo kinh Pháp Hoa nói: Dùng kỹ nhạc để ca tụng đức, mở ra nghiệp nhân thiên, tự nhiên đáng nên sớm thành Phật đạo!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.2. Cơ hủy hoạch báo (do chê bai, hủy báng mà mắc phải tội báo)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.2.1. Chánh thị (chỉ dạy)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.2.1.1. Thị cơ hủy tướng (dạy về tướng trạng gièm chê, hủy báng)

          (Kinh) Phục thứ Phổ Quảng! Vị lai thế trung, nhược hữu ác nhân, cập ác thần, ác quỷ, kiến hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, quy kính, cúng dường, tán thán, chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát hình tượng.

          ()復次普廣未來世中若有惡人及惡神惡鬼

有善男子善女人歸敬供養讚歎瞻禮地藏菩薩形像。

          (Kinh: Lại này Phổ Quảng! Trong đời vị lai, nếu có người ác, và ác thần, ác quỷ, thấy có thiện nam tử, thiện nữ nhân, quy hướng, cung kính, cúng dường, tán thán, chiêm ngưỡng, lễ bái hình tượng Địa Tạng Bồ Tát).

 

          Trước hết, nêu ra những thứ gièm chê, hủy báng, kế đó là nói đến tướng trạng gièm chê, hủy báng. Chữ Cưu Na La (Kunāla) trong tiếng Phạn, được cõi này dịch là “ác nhân” (kẻ ác), còn dịch là “bất hảo nhân”. Ác thần, lớn là nói đến Ba Ty Dạ (Pāpīyas)[25], dịch sát nghĩa là Ác, nhỏ thì là những kẻ ác trong núi to, sông cái, núi nhỏ, sông con. Ác quỷ thì loại lớn là nói đến những loài Cưu Bàn Trà (Kumbhāṇḍa, Yếm Mị Quỷ, Đông Qua Quỷ) v.v… Nhỏ thì tức là những loài nương gá vào cỏ cây, ra oai, giáng phước. Ác có ba loại: Một là ác, hai là đại ác, ba là ác trung ác (kẻ ác nhất trong những kẻ ác). Ba loại ấy (ác nhân, ác thần, ác quỷ) đều có ba loại ác.

          Từ chữ “kiến hữu” (thấy có) trở đi, nói về nguyên do gièm báng. Đức Phật dạy: “Thanh trược dị lưu, minh ngu dị thú, trung nịnh tương thù, tà thường tật chánh. Cố trước dục chi nhân, bất hiếu ngã vô dục chi hạnh. Ư thị, ác loại toại sanh tật tâm. Sở dĩ tật chi giả, ác nhân, khủng dĩ bỉ thiện, hình ngã chi ác dã. Ác thần, khủng kỳ xuất giới, thất ngã chi quyến thuộc dã. Ác quỷ, khủng kỳ trai giới, thất ngã chi huyết nhục dã. Hoài tư tuy dị, vi ác thị đồng” (Trong đục khác dòng, sáng suốt, ngu si khác đường, trung nịnh khác biệt, cong vạy thường ghen ghét điều chánh. Vì thế, kẻ đắm chấp dục vọng chẳng ưa hạnh vô dục của ta. Do vậy, các loài ác bèn sanh tâm ganh ghét. Sở dĩ ganh ghét là vì kẻ ác sợ người khác tốt lành sẽ bộc lộ điều ác của hắn. Ác thần sợ [người tu hành] sẽ thoát khỏi tam giới, khiến quyến thuộc của hắn bị hao hụt. Ác quỷ sợ [người tu hành vâng giữ] trai giới, sẽ chẳng được cúng tế máu thịt. Mỗi loài ác tuy ôm ấp niềm riêng khác nhau, nhưng đều làm ác giống như nhau).

          Tăng Tử nói: “Nhân chi hiếu thiện, phước tuy vị chí, khứ họa viễn hỹ. Nhân chi vi ác, hung tuy vị chí, khứ phước cận hỹ” (Người ưa điều lành, tuy phước chưa đưa tới, đã cách xa họa. Kẻ làm ác tuy điều hung hiểm chưa xảy tới, nhưng đã mất phước rất gần). Sách Biện Ma viết: “Thấy người nuôi dưỡng điều thiện như mưa, sương móc thấm đượm cây cỏ; gặp phải điều ác sẽ trừ sạch như chim ưng, chim ó đuổi chim sẻ”. Sao mọi người chẳng nỗ lực tu thiện, mà cam tâm làm người ác, ác thần, ác quỷ vậy thay?

          (Kinh) Hoặc vọng sanh cơ hủy, báng vô công đức, cập lợi ích sự, hoặc lộ xỉ tiếu, hoặc diện bối phi, hoặc khuyến nhân cộng phi, hoặc nhất nhân phi, hoặc đa nhân phi, nãi chí nhất niệm sanh cơ hủy giả.

          ()或妄生譏毀謗無功德及利益事或露齒笑或面背非或勸人共非或一人非或多人非乃至一念生譏毀者。

          (Kinh: Hoặc lầm lạc sanh lòng chê gièm, hủy báng, báng bổ không có công đức và chuyện lợi ích, hoặc nhe răng cười, hoặc chê sau lưng, hoặc khuyên người khác cùng chê, hoặc một người chê, hoặc nhiều người chê, cho đến một niệm sanh lòng chê bai, hủy báng).

          “Cơ” (譏) là nói trào phúng, chê bai. “Hủy” (毀) là chuyện báng bổ, phá hoại. “Cơ” là sanh tâm đố kỵ, ghen ghét. “Hủy” là khởi ý niệm tham lam, sân hận. Vì thế biết tâm chính là cội nguồn dấy lên điều ác, miệng là cái gốc chuốc họa. Toan tính báng bổ thánh hiền, chèn ép oan uổng người lương thiện; hư vọng bịa chuyện, vô duyên vô cớ mặc tình phun độc. Thoạt đầu là chê bai, khích bác nhẹ nhàng, về sau bèn vu hãm độc địa, tự làm kẻ Nhất Xiển Đề, bài bác không có nhân quả. Họ tuyên bố: “Những kẻ ấy chỉ trộm cái danh hiền thiện suông, chứ quy y, cung kính, tán thán, lễ bái [Địa Tạng Bồ Tát] thật ra chẳng có công đức! Phí uổng tiền tài, há có lợi ích gì đâu!” Họ đâu có biết thánh tượng bằng đất nặn, gỗ tạc, biểu thị những pháp sâu xa! Kính cẩn, chân thành, ân cần lễ bái, được phước vô biên. Tâm khinh thường, hủy báng, chuốc tội bao kiếp, ngu si, vô tri, trở ngại, thoái thất thiện căn. Hoặc nhe răng cười khinh bỉ, hoặc trước mặt bảo là đúng, sau lưng chê sai be bét! Chính mình chê bai, lại còn khuyên kẻ khác cùng đả phá. Hoặc khuyên được một người, hoặc lại khuyên nhiều kẻ cùng nhau chê trách. Đấy là nói tới những kẻ lắm điều hủy báng, ghét bỏ.

          “Dẫu chỉ một niệm” là nói những kẻ hủy báng, ghét bỏ đôi chút. Họ đâu có biết các tội đều khởi đầu từ đấy! Ví như dòng sông cuồn cuộn khởi nguồn từ đầu nguồn nhỏ như miệng vò. Cây phủ rợp trời, nẩy lá từ cái mầm bé tẹo! Môi, miệng là chiếc cung, tâm suy nghĩ như dây cung, âm thanh như mũi tên, một niệm như lẫy cung. Buông suông [lời phỉ báng] trong đêm dài, chỉ nhuốm bẩn thân, miệng! Đoái nghĩ quả báo về sau, há chẳng cẩn thận ư?

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.2.1.2. Hiển cơ hủy báo (nêu rõ quả báo do gièm chê, hủy báng)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.2.1.2.1. Trực đọa A Tỳ (đọa thẳng vào A Tỳ)    

          (Kinh) Như thị chi nhân, Hiền Kiếp thiên Phật diệt độ, cơ hủy chi báo, thượng tại A Tỳ địa ngục, thọ cực trọng tội.

          ()如是之人賢劫千佛滅度譏毀之報尚在阿鼻地獄受極重罪。

          (Kinh: Người như thế khi một ngàn đức Phật trong Hiền kiếp diệt độ cả rồi, do quả báo của tội chê gièm, hủy báng, vẫn còn thọ tội cực nặng trong địa ngục A Tỳ).

          Bộp chộp, ương bướng thành tánh, điên đảo, khinh bạc quen thói, chẳng biết Phật đạo chánh trực, chân thật, rộng sâu, lại phun ra những lời lẽ khinh bạc, thiển cận của thế gian, toan dùng cái tâm đố kỵ để hủy báng đạo căn. Hạng người như thế giống như chim gãy cánh, chẳng thể bay lượn. Hãy nên biết hạng người ấy trong đời vị lai, vĩnh viễn chẳng thể đạt tới chỗ tốt lành trong chốn nhân thiên.

          Kiếp Bá (Kalpa) trong tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Phân Biệt Thời Tiết. Bạt Tha (Bhadra) dịch sang tiếng Hán là Hiền. Do có nhiều hiền nhân xuất thế, nên gọi là Hiền Kiếp. Nay đang là Hiền Kiếp, có tất cả một ngàn vị Phật xuất thế. Nay đức Phật Thích Ca mới là vị Phật thứ tư, hãy còn có chín trăm chín mươi sáu vị Phật [chưa xuất thế]. Mỗi đức Phật xuất thế rồi diệt độ, có thể nói là năm tháng lâu xa. Nay nói là “thiên Phật diệt độ dĩ” (một ngàn đức Phật đã diệt độ cả rồi), mà do quả báo chê gièm, hủy báng, [tội nhân] vẫn còn trong đại địa ngục A Tỳ, chịu tội cực nặng, trọn chẳng có cùng tận! Kinh Hưng Khởi Hạnh dạy: “Thế nhân sở tác hạnh, hoặc tác thiện ác sự. Thử hạnh hoàn quy thân, chung bất hủ bại vong” (Những hành vi của người đời, hoặc làm chuyện thiện ác, hành vi ấy sẽ trở về chính thân họ, trọn chẳng hư nát, mất đi). Do kẻ báng pháp tội nghiệp cực đại nên đọa vào ba  ác  đạo, khó

thể xuất ly, chớ nên chẳng cẩn thận!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.2.1.2.2. Chuyển sanh ác đạo ([quả báo trong địa ngục đã hết], chuyển sanh vào đường ác)

          (Kinh) Quá thị kiếp dĩ, phương thọ ngạ quỷ. Hựu kinh thiên kiếp, phục thọ súc sanh. Hựu kinh thiên kiếp, phương đắc nhân thân.

          ()過是劫已方受餓鬼。又經千劫復受畜生。又經千劫方得人身。

          (Kinh: Qua khỏi số kiếp ấy rồi mới thọ thân ngạ quỷ. Lại qua một ngàn kiếp lại làm thân súc sanh. Lại qua một ngàn kiếp mới được làm thân người).

          Trải bao kiếp trầm luân, vĩnh viễn đánh mất con đường sanh thiên, theo duyên mà thọ báo, trọn chẳng có lúc thoát khổ! Do báng bổ là “chẳng có pháp vị gì”, cảm vời quả báo làm ngạ quỷ đói khát, chẳng biết chánh đạo; [sau đó] thọ thân súc sanh, xương sống nằm ngang. Chữ Xà Lê Đa (Preta) trong tiếng Phạn, dịch là Ngạ Quỷ, đường này hiện diện trọn khắp trong các đường khác, [ngoại trừ thiên đạo]. Do tâm ý siểm nịnh, dối trá, tạo tác hạ phẩm Ngũ Nghịch, Thập Ác, cảm thân trong đường này. Chữ Để Lật Xa (Tiryagyoni) trong tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Súc Sanh, đường này cũng trọn khắp các chốn. Do ngu si, tham dục, tạo tác trung phẩm Ngũ Nghịch, Thập Ác mà cảm thân trong đường này. Trong hai đường ấy, trải qua kiếp số dài lâu mới được làm người. [Kinh văn] dùng chữ Phương (方) [ở đây] và chữ Túng (縱) trong câu sau, tức là từ ngữ diễn tả ý nghĩa “cũng chẳng nhất định!”

          (Kinh) Túng thọ nhân thân, bần cùng, hạ tiện, chư căn bất cụ, đa bị ác nghiệp, lai kết kỳ tâm, bất cửu chi gian, phục đọa ác đạo.

          ()縱受人身貧窮下賤諸根不具多被惡業來結其心不久之間復墮惡道。

          (Kinh: Dẫu được làm người, nghèo cùng, hèn hạ, các căn chẳng đủ, có lắm ác nghiệp vướng mắc trong tâm, chẳng bao lâu sau, lại đọa vào đường ác).

          Dẫu được làm thân người, dư nghiệp vẫn còn chưa hết! Do xưa kia đoạn diệt pháp tài, nay cảm quả báo bần cùng. Do xưa kia, hủy báng kẻ kính trọng tôn dung [của Bồ Tát], nay chuốc lấy thân hạ tiện, lại còn kèm thêm các căn tàn khuyết, đến nỗi cửu kết[26] ràng buộc cái tâm. Từ chỗ tối vào chỗ tối, từ khổ đến khổ. Trong luận Đại Thừa, Kiên Ý Bồ Tát nói: “Phỉ báng pháp Đại Thừa, chắc chắn đọa ác đạo. Thiêu đốt thật đau khổ, là do tội của nghiệp báo. Nếu từ địa ngục thoát ra, lại chịu ác báo khác. Các căn thường khuyết thiếu, thô kệch, vĩnh viễn chẳng nghe tiếng pháp. Dẫu được nghe pháp thì lại sanh lòng báng pháp. Do nhân duyên báng pháp, lại đọa vào địa ngục”. Ôi! Chẳng đáng nên răn dè ư?

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.1.2.2. Kết huống (kết lại bằng cách nói “huống hồ”)

          (Kinh) Thị cố Phổ Quảng! Cơ hủy tha nhân cúng dường, thượng hoạch thử báo, hà huống biệt sanh ác kiến hủy diệt.

          ()是故普廣譏毀他人供養尚獲此報何況別生惡見毀滅。

          (Kinh: Vì vậy, Phổ Quảng! Gièm chê, hủy báng người khác cúng dường còn mắc phải quả báo ấy, huống hồ lại còn sanh ác kiến hủy diệt khác).

          Hai chữ “thị cố” (vì vậy) thừa tiếp chặt chẽ ý “vĩnh đọa A Tỳ, di kiếp kinh sanh nhi huống xuất” (vĩnh viễn đọa vào A Tỳ, trải bao kiếp nhiều đời, may ra mới thoát khỏi). Thiện nhân cúng dường, lũ ác gièm chê, hủy báng, còn mắc hại bao kiếp! Huống hồ kẻ sanh ác kiến khác, như Di Lê Xa (Mleccha)[27] hủy diệt Phật pháp, tội ấy còn quá hơn nữa! Vì thế, kinh Bảo Vũ nói: “Nhược phỉ báng giả, thị danh ngu nhân, đọa ư ác xứ, thọ chư khổ não. Hựu vị nhất thiết thế gian thiên, nhân, A-tố-lạc đẳng chi sở khinh tiện” (Nếu là kẻ phỉ báng thì gọi là người ngu, đọa vào chỗ ác, chịu các khổ não. Lại còn bị hết thảy trời, người, A Tu La v.v… trong thế gian khinh rẻ). Vì thế biết cái tội phỉ báng đúng là đứng đầu các tội!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2. Biệt thị cửu bệnh đẳng ích (riêng dạy về lợi ích như người bệnh lâu năm…)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1. Cửu bệnh ác tướng (tướng ác của bệnh lâu năm)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.1. Thị bệnh trung ác tướng (chỉ bày tướng ác của bệnh tật)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.1.1. Thị tướng (chỉ bày tướng trạng bệnh tật)

 

          (Kinh) Phục thứ Phổ Quảng! Nhược vị lai thế, hữu nam tử, nữ nhân, cửu xử sàng chẩm, cầu sanh, cầu tử, liễu bất khả đắc. Hoặc dạ mộng ác quỷ, nãi cập gia thân, hoặc du hiểm đạo, hoặc đa yểm mị, cộng quỷ thần du, nhật nguyệt tuế thâm, chuyển phục uông sái. Miên trung khiếu khổ, thảm thê bất lạc giả.

          ()復次普廣若未來世有男子女人久處牀枕求生求死了不可得。或夜夢惡鬼乃及家親或遊險道或多魘寐共鬼神遊日月歲深轉復尪瘵。眠中叫苦慘悽不樂者。

          (Kinh: Lại này Phổ Quảng! Nếu trong đời vị lai, có người nam, kẻ nữ, nằm trên giường bệnh lâu ngày, mong sống, hoặc mong chết, trọn chẳng thể được! Hoặc đêm mộng thấy ác quỷ, cho đến người nhà, hoặc đi trong đường hiểm đạo, hoặc thường bị bóng đè, cùng đi với quỷ thần, lâu năm chầy tháng, chuyển thành gầy mòn, bệnh lao. Kêu khổ trong khi ngủ, thê thảm, chẳng vui).

          Phật Thuyết Y Kinh chép: “Nhân thân trung bổn hữu tứ bệnh, nhất địa, nhị thủy, tam hỏa, tứ phong” (Trong thân con người vốn có bốn bệnh, một là đất, hai là nước, ba là lửa, bốn là gió). Đại Trí Độ Luận nói: “Tứ Đại làm thân, chúng thường xâm hại lẫn nhau. Trong mỗi đại, có một trăm lẻ một chứng bệnh dấy lên. Bệnh hàn có hai trăm lẻ hai thứ, do nước và gió dấy lên. Bệnh nhiệt có hai trăm lẻ hai loại, do đất và lửa dấy lên”. Ấy là vì Tứ Đại khó điều hòa, lục phủ[28] càng khó hòa hợp. Do có báo thân, bỗng mắc phải bệnh tật lâu ngày. Nay [bệnh tình] lâu năm chầy tháng, nằm bẹp trên giường, chiếu, chẳng thể ngồi dậy được. Đấy chính là dư ương do giết chóc, đến nỗi khổ não vì bệnh tật bức bách lâu ngày. Muốn sống mà lâm vào tình thế chẳng sống nổi, mong chết mà lâm vào tình thế chẳng chết được!

          “Mộng thấy ác quỷ” v.v… do bệnh tật bức bách cái tâm, tinh thần rối loạn, đêm gặp nhiều ác mộng, kinh hoảng càng nặng hơn. Luận Duy Thức nói bốn loại mộng: Một là tập khí vô minh, hai là điềm báo trước thiện ác, ba là [một hay nhiều món trong] Tứ Đại tăng nhiều, bốn là những điều đã hay biết cũ nay diễn lại trong tâm. Nay [mộng thấy] đi cùng ác quỷ, chính là điềm báo trước của ác tướng; và mộng thấy người nhà, chính là những điều đã hay biết cũ, nay diễn lại trong tâm. “Đi trong đường hiểm” tức là một hay nhiều món trong Tứ Đại tăng mạnh. “Đi cùng quỷ thần” chính là tập khí vô minh.

          Chữ Ô Tô Mạn [trong tiếng Phạn], cõi này dịch là Yểm (bóng đè), tức là điềm chẳng cát tường [mộng thấy] trong khi ngủ, ngầm phù hợp với cái tâm [của người bệnh]. Luận Hành[29] nói: “Nằm thiêm thiếp mà chẳng ngủ được, nên gọi là yểm mị”. Nằm thiêm thiếp lâu ngày chẳng tỉnh, [mơ thấy] đi cùng quỷ thần, triền miên lâu năm, hình hài suy kém. Uông (尪) là yếu đuối, tức là bệnh gầy mòn. Sái (瘵) là lao sái (lao phổi), thuộc loại ngũ lao thất thương[30] v.v… Trong giấc ngủ kêu khổ v.v… do thân là thứ gây khổ, các Ấm là bình gốm mới nặn còn chưa nung, Tứ Đại rỗng tuếch, chống trái lẫn nhau. Mang thân trong cõi người, gặp phải lúc uế trược, nhận lãnh tấm thân có thể chất hư ngụy, ở trong cảnh kinh hãi. Vô lượng quỷ thần trong chốn u minh, cùng với người nhà, quyến thuộc, nương gá nhà cửa, nương gá miếu mạo, nương gá núi, gò, hễ có linh thức thảy đều có ảnh hưởng [tới bệnh nhân], khiến cho [bệnh nhân] tâm thần mê muội, thần thức mịt mờ, đến nỗi trong khi mơ màng, gặp nhiều nỗi kinh hoảng. Vì thế, ngủ không yên giấc, sáng tối kêu khổ, nội tâm bứt rứt, động tĩnh sầu thảm; đấy đều là những dáng vẻ khổ sở trong cơn bệnh tật.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.1.2. Thích ý (giải thích ý nghĩa [của tình trạng khổ sở ấy])

          (Kinh) Thử giai thị nghiệp đạo luận đối, vị định khinh trọng, hoặc nan xả thọ, hoặc bất đắc dũ. Nam nữ tục nhãn, bất biện thị sự.

          ()此皆是業道論對未定輕重或難捨壽或不得愈。男女俗眼不辯是事。

          (Kinh: Đấy đều là do còn tranh biện về oán đối trong nghiệp đạo, chưa thể định tội nặng nhẹ, cho nên khó xả thọ mạng, hoặc chẳng được lành bệnh. Mắt tục của kẻ nam người nữ chẳng thể biện định chuyện này).

          Đây là giải thích: Ác tướng của bệnh tật  lâu  ngày  là  do  oán  đối

trong nghiệp đạo. Vì thế, đức Phật bảo vua A Xà Thế: “Nhất thiết chư pháp giai vi duyên đối. Thế nhân sở vi tác, các tự kiến kỳ hạnh. Hành thiện đắc thiện báo, hành ác đắc ác báo. Thị cố đại vương đương xả ác tùng thiện” (Hết thảy các pháp đều đối ứng với duyên. Đối với những gì người đời đã làm, mỗi mỗi đều tự thấy hậu quả của nó. Làm lành được báo lành, làm ác mắc ác báo. Do vậy, đại vương hãy bỏ ác theo thiện). Nay đã do nghiệp duyên oán đối đưa đến, nếu chẳng giao tánh mạng ra, chẳng có cách nào tránh né! Nhưng do chưa quyết định tội ấy nặng hay nhẹ, sao có thể phán định sự sống chết của người ấy cho được! Vì thế, kẻ đáng lẽ phải chết, nhưng chưa thể xả thọ ngay lập tức; kẻ chưa đáng phải chết, vẫn còn phải chịu bệnh tật rề rề khó lành. Sợ là ngũ âm chú trớ[31], có thể chuốc lấy nỗi oán hờn ba đời, hồn lẩn quẩn chốn âm ty, cõi trần đã nẩy sanh tai nạn. Mắt phàm tục thô lậu của nhân gian, làm sao có thể biện định những chuyện oán đối do nghiệp báo cho được?

 

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.2. Minh tu phước thoát tội (nói rõ: Do tu phước mà thoát tội)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.2.1. Chánh thị phương quỹ (chỉ dạy phương cách)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.2.1.1. Đối tượng độc kinh (đối trước tượng, đọc kinh)

          (Kinh) Đản đương đối chư Phật, Bồ Tát tượng tiền, cao thanh chuyển độc thử kinh nhất biến.

          ()但當對諸佛菩薩像前高聲轉讀此經一徧。

          (Kinh: Chỉ nên đối trước tượng chư Phật, Bồ Tát, lớn tiếng chuyển đọc kinh này một lượt).

          Phàm là người do chẳng giữ chừng mực cẩn thận, bị cảm nhiễm các chứng bệnh hàn, nhiệt v.v… thì thuốc thang trong cõi đời có thể chữa trị. Nay là bệnh tật do quả báo của ác nghiệp, cần phải cậy vào pháp lực thì mới hết bệnh được. Ấy là vì tâm của chư Phật lấy từ bi làm Thể, có thể làm y vương, khéo chữa các bệnh nơi thân, tâm của chúng sanh. Kinh là pháp dược, Bồ Tát là thầy thuốc khám bệnh, cho nên cần phải đối trước tượng đọc kinh. Thế nhưng, chỉ chuyển đọc một lượt, một hạt kim đan điểm sắt thành vàng! Một lời tột lý, chuyển phàm thành thánh, há đợi phải chuyển đọc nhiều lượt ư?

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.2.1.2. Vị bệnh xả vật (vì bệnh nhân mà thí xả vật dụng)    

          (Kinh) Hoặc thủ bệnh nhân khả ái chi vật, hoặc y phục, bảo bối, trang viên, xá trạch.

          ()或取病人可愛之物或衣服寶貝莊園舍宅。

          (Kinh: Hoặc lấy những vật mà bệnh nhân yêu mến như quần áo, vật quý báu, trang trại, vườn tược, nhà cửa).

          Bệnh của người đời có hai loại: Bệnh do Tứ Đại, tức là thân bệnh; và bệnh do Tam Độc là tâm bệnh. Thân bệnh có thể dùng thuốc, tâm bệnh ắt cần phải tu phước. Kinh Pháp Cú dạy: “Nhân tác thiện ác, ương phước tùy nhân, tuy cánh sanh tử, bất khả đắc miễn” (Người làm điều thiện, ác, ương họa hay phước báo sẽ theo người ấy, dẫu trải qua sống chết, chẳng thể tránh khỏi được). Vì thế, cần phải tu phước do tụng kinh để giải trừ. Đối với vật đáng yêu mến, đẹp đẽ, choáng lộn, quý trọng mà nay có thể cắt bỏ lòng yêu đắm, đoạn trừ gốc bệnh. Quần áo mặc vào để làm đẹp thân thể. Vật quý báu là thứ chất chứa để làm giàu. Trang trại, vườn tược là thứ để du ngoạn. Nhà cửa là chỗ cho con cháu yên thân, toàn là những thứ để ta hưởng thụ, chẳng thể khuyết thiếu được. Đây là nói đến những vật đem thí xả.

          (Kinh) Đối bệnh nhân tiền, cao thanh xướng ngôn: “Ngã mỗ giáp đẳng, vị thị bệnh nhân, đối kinh tượng tiền, xả chư đẳng vật. Hoặc cúng dường kinh tượng, hoặc tạo Phật, Bồ Tát hình tượng, hoặc tạo tháp tự, hoặc nhiên du đăng, hoặc thí thường trụ”.

          ()對病人前高聲唱言我某甲等為是病人對經像前捨諸等物。或供養經像或造佛菩薩形像或造塔寺或然油燈或施常住。

          (Kinh: Đối trước bệnh nhân, lớn tiếng xướng rằng: “Tôi tên là… vì người bệnh này, đối trước kinh, tụng, bỏ những vật này, hoặc để cúng dường kinh tượng, hoặc tạo hình tượng của Phật, Bồ Tát, hoặc tạo chùa, tháp, hoặc thắp đèn dầu, hoặc cúng thí thường trụ”).

         

          Từ chữ “đối bệnh nhân” (đối trước người bệnh) trở đi, tuyên xướng thí xả vật dụng. Đối trước người bệnh lớn tiếng xướng, chính là để cho người ấy biết công đức của việc thí xả to lớn, trong tâm ghi nhớ chẳng quên. Kinh dạy: “Nhất thiết chư vật, tất giai phân tán, duy thử nguyện vương, bất tương xả ly” (Hết thảy các vật thảy đều phân tán, chỉ có nguyện vương này chẳng hề lìa bỏ) là nói đến chuyện này. Chữ Na Mãng trong tiếng Phạn, Hán dịch là “mỗ giáp” (某甲, tên này nọ). Giáp đứng đầu Thiên Can, là số đầu tiên, chẳng ngại liệt kê Ất, Bính… theo thứ tự.

          Từ chữ “cúng” trở đi là phương pháp tu phước. “Cúng dường kinh tượng”: Pháp là Phật mẫu, Phật sanh từ pháp. Tam thế Như Lai đều cúng dường pháp. Tượng là di dung (遺容, dung nhan, hình ảnh để lại) của đức Thế Tôn; tuy là đất nặn, gỗ khắc, nhưng có thể khiến cho mọi người đều nghĩ đến Phật, chẳng khác đức Phật thật. Vì thế, thờ phụng sẽ được phước. Tạo hình tượng của Phật, Bồ Tát, hãy chuẩn theo kinh Tạo Tượng Phước Báo, công đức rất nhiều, nay nêu đại lược một đôi điều. Kinh dạy: “Thiên hạ nhân dân, năng tác Phật hình tượng giả, thế thế sở sanh chi xứ, nhãn mục tịnh khiết, diện mạo đoan chánh, thân thể, thủ, túc, thường hảo nhu nhuyễn, sanh ư thiên thượng, diệc phục tịnh khiết, chư thiên trung thắng. Tử ma kim sắc, đoan chánh vô tỷ. Tác Bồ Tát tượng, công đức diệc nhĩ” (Nhân dân trong thiên hạ, có thể tạo hình tượng Phật, đời đời sanh ở nơi đâu, mắt trong sạch, diện mạo đoan chánh, thân thể, tay, chân thường tốt đẹp mềm mại. Sanh lên cõi trời, cũng lại tịnh khiết, thù thắng nhất trong chư thiên. Thân có màu như vàng tía giồi mài, đoan chánh khôn sánh. Công đức tạo tượng Bồ Tát cũng như thế).

          Tháp, chùa như trong phần trên [đã giải thích]. Kinh Tạp Bảo Tạng nói: “Tạo lập tháp tự, mạng chung sanh Đao Lợi thiên” (Tạo lập chùa, tháp. khi mạng chung, sanh lên trời Đao Lợi). “Nhiên du đăng” (thắp đèn dầu): Kinh Thí Đăng chép: “Phật cáo Xá Lợi Phất: – Hữu nhân ư tháp, miếu, hình tượng, phụng thí đăng minh, nãi chí dĩ thiểu đăng, cự, như thử phước đức, duy Phật năng tri” (Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: – Có người ở nơi tháp, miếu, hình tượng, cúng thí đèn chiếu sáng, cho đến chút ít đèn, đuốc, phước đức như thế chỉ Phật có thể biết). Hoặc đem những vật mà người bệnh yêu mến thí hết cho Chiêu Đề[32], cúng dường chúng tăng. Đấy là nói tùy ý hành một thứ, liền cảm quả báo thù thắng, chẳng phải là mỗi sự đều phải làm hết.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.2.1.3. Thoát tội tri mạng (thoát tội, biết túc mạng)

          (Kinh) Như thị tam bạch bệnh nhân, khiển linh văn tri. Giả linh chư thức phân tán, chí khí tận giả, nãi chí nhất nhật, nhị nhật, tam nhật, tứ nhật, chí thất nhật dĩ lai, đản cao thanh bạch, cao thanh độc kinh.

          ()如是三白病人遣令聞知。假令諸識分散至氣盡者乃至一日二日三日四日至七日已來但高聲白高聲讀經。

          (Kinh: Ba lượt thưa với bệnh nhân như thế, khiến cho người ấy nghe biết. Nếu như các thức đã phân tán cho đến khi người ấy tắt hơi, cho đến một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, cho đến bảy ngày trở lại, chỉ lớn tiếng xướng bạch, lớn tiếng đọc kinh).

          Thay người bệnh xả vật, ắt bạch ba lượt để người bệnh nghe biết, muốn khiến cho người bệnh trong tâm nhận biết, biết rõ “ta có công đức như thế đó”. “Giả linh” (nếu như), ý nói: Nhờ vào phước thí ấy, bệnh hết, thân an, tốt lành chi bằng? Giả sử đại nạn khó thoát, vĩnh viễn dứt tuyệt duyên trong cõi đời, sẽ ngay trong lúc [người bệnh] các thức phân tán, tắt hơi, vẫn nên trong bảy ngày, lớn tiếng xướng bạch, đọc kinh, người ấy ắt giải thoát trọng tội, siêu thăng.

          “Chư thức phân tán” (các thức chia lìa): Kinh Xử Thai chép: “Nhĩ thời Thế Tôn, tương dục thị hiện thức sở thú hướng, đạo thức, tục thức, hữu vi thức, vô vi thức, hữu lậu thức, vô lậu thức, hoa thức, quả thức, báo thức, vô báo thức, thiên thức, long thức, nãi chí nhân phi nhân thức. Thượng chí nhị thập bát thiên thức, hạ chí Vô Cứu địa ngục thức” (Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn sắp muốn thị hiện chỗ thức hướng về, tức đạo thức, tục thức, hữu vi thức, vô vi thức, hữu lậu thức, vô lậu thức, hoa thức, quả thức, báo thức, vô báo thức, thiên thức, long thức, cho đến nhân phi nhân thức. Trên là đến thức của [chư thiên trong] hai mươi tám tầng trời, dưới là đến thức [của chúng sanh] trong địa ngục A Tỳ). Ở đây, [kinh này chỉ nói “chư thức”] là nói chung. Nếu xét theo một người, sẽ gọi tám thức thần là “chư thức”.

          “Khí tận” (tắt hơi) thì chính là như thường nói: “Phong trước, Hỏa sau, hồn thần rời đi”. Thân hư nhược, xác lạnh ngắt, hình hài cứng đờ! Sách Tông Kính Lục có đoạn viết: “Hỏi: Đến ngày các căn tan tác, hư hoại, lúc thức rời đi, bỏ tấm thân cũ này, để thọ hình chất khác, cái thức đến đi có tướng trạng như thế nào? Đáp: Kinh Hiển Thức dạy: ‘Phật cáo Hiền Hộ: – Thức chi vận chuyển, thiên, diệt, vãng, lai, do như Phong Đại, vô sắc, vô hình, bất khả hiển hiện, nhi năng phát động vạn vật, thị chúng hình trạng’ (Đức Phật bảo ngài Hiền Hộ: – Sự vận chuyển, đổi dời, diệt mất, đến đi của Thức giống như Phong Đại, vô sắc, vô hình, chẳng thể hiển hiện, mà có thể phát động muôn vật. Đó là các hình dạng của nó)”.

          (Kinh) Thị nhân mạng chung chi hậu, túc ương trọng tội, chí ư Ngũ Vô Gián tội, vĩnh đắc giải thoát. Sở thọ sanh xứ, thường tri túc mạng.

          ()是人命終之後宿殃重罪至於五無間罪永得解脫。所受生處常知宿命。

          (Kinh: Người ấy sau khi mạng chung, vĩnh viễn giải thoát túc ương, tội nặng, cho đến tội ngũ Vô Gián. Sanh ra ở nơi đâu, cũng đều thường biết túc mạng).

          Từ “thị nhân” (người ấy) trở đi, nói rõ chuyển chướng, thác sanh, vĩnh viễn giải thoát khỏi túc ương, trọng tội, tội ngũ Vô Gián, chính là để hiển thị phước bố thí thù thắng. Công đức Tam Bảo sâu dầy, không chỉ [tội nhân] được thoát tội, thọ sanh, mà còn có thể thường biết Túc Mạng, tự nhiên biết rõ nhân quả, tội phước phân minh, từ chỗ sáng vào chỗ sáng, ắt đạt đến Phật quả!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.2.2. Huống hiển lợi ích (nêu rõ lợi ích của kẻ không có túc ương, trọng tội)

          (Kinh) Hà huống thiện nam tử, thiện nữ nhân, tự thư thử  kinh,

hoặc giáo nhân thư, hoặc tự tố họa Bồ Tát hình tượng, nãi chí giáo nhân tố họa, sở thọ quả báo, tất hoạch đại lợi.

          ()何況善男子善女人自書此經或教人書。或自塑畫菩薩形像乃至教人塑畫所受果報必獲大利。

          (Kinh: Huống chi thiện nam tử, thiện nữ nhân tự chép kinh này, hoặc dạy người khác chép, hoặc chính mình đắp, vẽ hình tượng Bồ Tát, cho đến dạy người khác đắp, vẽ, sẽ đạt được quả báo, ắt đạt được lợi ích to lớn).

          “Huống” (況) là hãy thử suy xét, ý nói: Thay kẻ đó xả thí mà còn đạt được phước như thế. Suy ra tự làm, há có thể sánh được ư? Luận Trung Biên Phân Biệt nói tu hành trong Đại Thừa có mười điều, điều thứ nhất là biên chép. Kinh Niết Bàn dạy: “Ư ác thế trung thư tả kinh quyển, diệc khuyến tha nhân linh đắc thư tả, cụ túc năng giải, tận kỳ nghĩa vị” (Trong đời ác, biên chép kinh quyển, cũng khuyên người khác biên chép, sẽ có thể thấu hiểu đầy đủ trọn hết nghĩa vị [của kinh]).

          “Tố họa hình tượng” (đắp, vẽ hình tượng): Kinh Tạo Tượng dạy: “Tác Phật, Bồ Tát hình tượng, kỳ phước vô lượng, vô cùng tận thời, bất khả xưng số. Như thị tứ thiên hạ giang, hà, hải thủy, thượng khả thăng lượng. Tác Phật hình tượng, kỳ phước thậm đa, đa tứ thiên hạ giang, hà, hải thủy quá xuất thập bội. Hậu thế sở sanh, thường hộ Phật đạo. Tác Phật hình tượng, tử hậu bất phục nhập ư địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, chư ác đạo trung” (Tạo hình tượng Phật, Bồ Tát, phước ấy vô lượng, chẳng có lúc cùng tận, chẳng thể tính kể số lượng. Như nước của sông cái, sông con, biển trong tứ thiên hạ này còn có thể đong lường được, chứ phước do tạo hình tượng Phật rất nhiều, nhiều hơn cả mười lần lượng nước nơi sông cái, sông con, biển cả trong tứ thiên hạ. Sanh vào đời sau, thường hộ trì Phật đạo. Tạo hình tượng Phật, sau khi chết chẳng còn vào trong các đường ác như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh). Vì thế, do quả báo đạt được, ắt có lợi ích to lớn!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.1.3. Kết khuyến tu công đức (tiểu kết, khuyên tu công đức)

          (Kinh) Thị cố, Phổ Quảng! Nhược kiến hữu nhân độc tụng thị kinh, nãi chí nhất niệm tán thán thị kinh, hoặc cung kính giả.

          ()是故普廣若見有人讀誦是經乃至一念讚歎是經

或恭敬者。

          (Kinh: Do vậy này Phổ Quảng! Nếu thấy có người đọc tụng kinh này, cho đến một niệm tán thán, hoặc cung kính kinh này).

          Tiếp nối công đức trong phần trên, nên nói “thị cố” (do vậy). Đối trước kinh thì là “độc” (讀, đọc) vì chưa thuộc. Đọc thuộc thì gọi là Tụng (誦) do đã thông thuộc kinh văn. Căn có lợi, độn, thời có lâu, mau. “Thị kinh” (kinh này) tức là kinh Địa Tạng. Nói là “thị” thì “toàn thể đều là”, chẳng có hai! Tông này (tông Thiên Thai) dùng Lục Tức để hiển lộ Thị. Do toàn thể tâm là kinh, ngoài kinh chẳng có tâm, nên nói “thị kinh” (kinh này). “Nhất niệm tán thán”: Trong phần trên thì do một niệm gièm báng người cúng dường, còn mắc tội ương bao kiếp. Một niệm tán thán kinh này, ắt cảm phước trong nhiều đời. Người cung kính đọc tụng đạt được phước có cùng công năng với tán thán.

          (Kinh) Nhữ tu bách thiên phương tiện, khuyến thị đẳng nhân, cần tâm mạc thoái, năng đắc vị lai, hiện tại, thiên vạn ức bất khả tư nghị công đức.

          ()汝須百千方便勸是等人勤心莫退能得未來現在千萬億不可思議功德。

          (Kinh: Ông hãy nên dùng trăm ngàn phương tiện, khuyên những người ấy dốc lòng siêng gắng, đừng lui sụt, sẽ có thể đạt được ngàn vạn ức công đức chẳng thể nghĩ bàn trong đời vị lai và hiện tại).

          Từ “nhữ tu” (ông hãy nên) trở đi, đức Phật khuyên răn ngài Phổ Quảng hãy nên dùng trăm ngàn phương tiện để khuyên bảo những người đọc tụng, tán thán, cung kính ấy, như kinh Đại Phương Quảng Tổng Trì đã dạy: “Phật diệt độ hậu, nhược hữu pháp sư thiện tùy nhạo dục, vị nhân thuyết pháp, năng linh Bồ Tát học Đại Thừa giả, cập chư đại chúng, hữu phát nhất mao hoan hỷ chi tâm, nãi chí tạm hạ nhất trích lệ giả, đương tri giai thị Phật chi thần lực” (Sau khi đức Phật diệt độ, nếu có pháp sư khéo thuận theo lòng vui thích, mong muốn để thuyết pháp cho người khác, có thể khiến cho Bồ Tát học Đại Thừa, và các đại chúng có tâm hoan hỷ chừng bằng mảy lông, thậm chí tạm rơi một giọt lệ, hãy nên biết đấy đều là do thần lực của đức Phật). Do điều này mà chứng biết: Người đọc, tụng, tán thán, cung kính, không gì chẳng phải là do thần lực của Phật, cho nên cần phải dùng phương tiện để khuyên lơn.

          “Cần tâm mạc thoái” (tâm siêng gắng, đừng lui sụt): Như trong kinh Kiên Ý, đức Phật bảo ngài A Nan: “Kỳ hữu hảo tâm thiện ý chi nhân, văn Phật minh pháp, nhất tâm nhi thính, năng nhất nhật khả, bất năng nhất nhật, bán nhật khả. Bất năng bán nhật, nhất thời khả, bất năng nhất thời, bán thời khả, bất năng bán thời, tu du khả, kỳ phước bất khả lượng, bất khả tư dã. Nhữ đương quảng vị chư tỳ-kheo tăng, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, bạch y nhân dân thuyết chi” (Nếu có kẻ hảo tâm, thiện ý, nghe đức Phật thuyết pháp bèn nhất tâm lắng nghe, có thể trong vòng một ngày, hoặc chẳng thể một ngày thì nửa ngày cũng được. Nửa ngày chẳng được, một giờ cũng được. Một giờ chẳng thể thì nửa giờ cũng được. Nửa giờ chẳng được thì trong khoảnh khắc cũng được, phước ấy chẳng thể lường, chẳng thể ca ngợi được! Ông hãy nên rộng nói cho các vị tỳ-kheo tăng, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, nhân dân tại gia [hay biết]). Tạm nghe mà còn như thế, huống là cung kính, tán thán, đọc tụng ư? Vì thế, khuyên lơn [chúng sanh] tâm phải siêng gắng, đừng lui sụt, sẽ có thể đạt được công đức chẳng thể nghĩ bàn trong vị lai và hiện tại.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.2. Mộng mị kiến quỷ (mộng mị thấy quỷ)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.2.1. Mộng kiến ác cảnh (mộng thấy cảnh ác)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.2.1.1. Thị tướng (chỉ bày tướng trạng)

 

          (Kinh) Phục thứ Phổ Quảng! Nhược vị lai thế chư chúng sanh đẳng, hoặc mộng, hoặc mị, kiến chư quỷ thần, nãi cập chư hình, hoặc bi, hoặc đề, hoặc sầu, hoặc thán, hoặc khủng, hoặc bố.

          ()復次普廣若未來世諸眾生等或夢或寐見諸鬼神乃及諸形或悲或啼或愁或歎或恐或怖。

          (Kinh: Lại này, Phổ Quảng! Nếu các chúng sanh trong đời vị lai, hoặc trong mộng, hoặc trong khi mơ màng, thấy các quỷ thần, cho đến các hình tướng buồn bã, hoặc khóc lóc, hoặc sầu muộn, hoặc than thở, hoặc hãi hùng, hoặc sợ sệt).

          Mộng trong đoạn này khác với mộng trong đoạn trước. Trong đoạn trước là do oán đối của chính mình, còn đoạn này là quyến thuộc xa xưa ngấm ngầm quấn quít, đều là chiêm bao thật. Tôn  Chân  Nhân[33]

nói: “Mộng đều là hồn nhờ vào mộng để tác động lên các vật. Do tâm thức [trong ban ngày] bị hạn cuộc nơi thân thể, chẳng thể lưu thông. Ban đêm, trong mộng thì hồn rỗng rang, tĩnh lặng, sẽ dùng những cảnh tượng tốt lành trong mộng để báo trước điều tốt lành, dùng những điều hung hiểm trong giấc mộng để báo trước chuyện xấu”. Vì thế, Đông Lai Lữ Thị[34] nói: “Thân có thể tiếp xúc thì là Sự, tinh thần gặp gỡ thì là mộng”. Nay do thân tiếp xúc, thần thức gặp gỡ, cho nên có những chuyện trong mộng. Sách Châu Lễ phân tích sáu loại mộng, phân tích mộng là cát hay hung: Thông thường, kinh ngạc, nghĩ nhớ, tỉnh giấc kể lại, vui sướng, và kinh hãi.

          “Mị” (寐) là mê mệt, mắt nhắm, tinh thần ẩn tàng. Trang Tử nói: “Mị là giao tiếp bằng hồn” chính là nói về ý này. Thấy các quỷ thần, các quỷ thần ấy chính là thân thuộc nhiều đời, nương vào giấc mộng để hiện hình. Đấy chính là mộng thuộc loại bình thường. “Chư hình” (các hình trạng): Nam, nữ, già, trẻ bất đồng, người hay quỷ diện mạo chẳng đồng nhất. “Bi đề” (悲啼, buồn bã, khóc lóc) thì thuộc loại mộng kinh ngạc và sợ hãi. Theo sách thuốc, do nương theo khí Âm, cho nên thấy quỷ thần. Khí nơi phổi mà thịnh sẽ mộng thấy khóc lóc, bay lên, vẫy vùng. Khí nơi tim mà thịnh, sẽ mộng thấy vui cười, hay hãi hùng, sợ sệt. Ở đây là do thân thuộc cơ cảm, chẳng do Âm, Dương, hư hay thực[35]. “Buồn bã, khóc lóc, sầu thảm, than thở” là nói đến tình trạng quỷ xin [người thân còn sống hãy] thương xót.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.2.1.2. Thích ý (giải thích ý nghĩa)

          (Kinh) Thử giai thị nhất sanh, thập sanh, bách sanh, thiên sanh, quá khứ phụ mẫu, nam, nữ, đệ, muội, phu thê, quyến thuộc, tại ư ác thú, vị đắc xuất ly.

          ()此皆是一生十生百生千生過去父母男女弟妹夫妻眷屬在於惡趣未得出離。

          (Kinh: Đấy đều là cha mẹ, con trai, con gái, em trai, em gái, chồng, vợ, quyến thuộc một đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời trong quá khứ đang ở trong đường ác chưa được thoát khỏi).

          Do là quyến thuộc nhiều đời, nên hiện các thân hình. Do chưa được tiếp xúc lúc họ còn sống, làm sao có thể nghĩ đến họ cho được? Cha, mẹ, con trai, con gái như đã giải thích trong phần trước. “Đệ” (弟, em trai) là “đệ” (第, thứ tự), [hàm nghĩa] do theo thứ tự mà [anh] ở trước em. “Muội” (妹, em gái) là “muội” (昧, tối tăm), ví như mặt trời vừa mới mọc, mới mọc được một chốc, vẫn còn tối tăm [tức là em gái còn non nớt so với anh, chị]. “Phu thê” (chồng vợ) hàm nghĩa “sánh đôi”. [Dân chúng bình phàm là] những người có địa vị kém hơn kẻ sĩ (người có quan chức, có học thức) thì được gọi là Thê, Thê (妻) có nghĩa là Tề (齊, mấp mé, ngang bằng). Phàm là kẻ thấp kém, chẳng đáng để tôn xưng bèn nói là “tề đẳng” (kẻ ngang hàng). Họ (những thân quyến nhiều đời ấy) ở trong các đường ác hoặc trầm luân nơi địa phủ, hoặc đọa làm quỷ đã lâu ngày, thiếu người giúp đỡ thoát khỏi.

          (Kinh) Vô xứ hy vọng phước lực cứu bạt, đương cáo túc thế cốt nhục, sử tác phương tiện, nguyện ly ác đạo.

          ()無處希望福力救拔當告宿世骨肉使作方便願離惡道。

          (Kinh: Không có chỗ nào để mong mỏi phước lực cứu bạt, bèn nói với người ruột thịt trong những đời trước để mong  họ  tạo  phương  tiện

hòng thoát khỏi đường ác).

          Đã không có chỗ để mong mỏi phước lực cứu vớt, bèn nói với người thân trong nhiều đời xa xưa. Những quỷ thần ấy đã nghĩ nát nước mà không có cách nào, đang ở trong cảnh khổ mong cầu cứu, [nên đành phải nói với người thân nhiều đời]. Vì thế biết: Vì cha mẹ v.v… trong quá khứ làm phước, sẽ như cấp lương cho người từ xa đến. Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ dạy: “Nhược vị vong nhân tu phước, hành bố thí, sanh quỷ đạo giả, quỷ dung đắc phước. Dĩ quỷ tri hối, tiền thân xan tham, cố vị thí thời, bỉ tắc hoan hỷ. Nhược sanh dư đạo, đa vô đắc lực” (Nếu vì người đã mất tu phước, làm chuyện bố thí, thì nếu người [đã mất] sanh vào quỷ đạo, sẽ được hưởng phước. Do quỷ biết hối hận đời trước đã trót keo, tham, cho nên khi được bố thí, họ sẽ hoan hỷ. Nếu [người đã mất] sanh trong các đường khác thì phần nhiều chẳng đắc lực). Nay những người ấy mong [người thân còn sống] tạo phương tiện để họ được lìa khỏi ác đạo thì sợ rằng họ thuộc loại ngạ quỷ đấy chăng?

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.2.2. Sắc khiển độc kinh (truyền dạy hãy đọc kinh)     

          (Kinh) Phổ Quảng! Nhữ dĩ thần lực, khiển thị quyến thuộc, linh đối chư Phật, Bồ Tát tượng tiền, chí tâm tự độc thử kinh, hoặc thỉnh nhân độc. Kỳ số tam biến, hoặc thất biến.

          ()普廣汝以神力遣是眷屬令對諸佛菩薩像前志心自讀此經或請人讀。其數三徧或七徧。

          (Kinh: Này Phổ Quảng! Ông dùng thần lực khiến cho những quyến thuộc ấy đối trước tượng của chư Phật, Bồ Tát, chí tâm tự đọc kỉnh này, hoặc thỉnh người khác đọc. Số đến ba lần hoặc bảy lần).

          Vì sao [đức Phật] lại bảo ngài Phổ Quảng dùng thần lực khiến cho quyến thuộc đọc kinh? Do kẻ ngu trong thế gian ít người biết ơn. Lục thân đang sống sờ sờ, họ còn chẳng hề đoái hoài, huống hồ người thân đã cách mấy đời! Dẫu có người nghĩ tưởng, do chưa biết mặt, dẫu [người đã khuất] hiện hình trong mộng mị, họ vẫn chẳng nghĩ tới. Vì thế, ngài Phổ Quảng dùng thần lực ngấm ngầm giúp đỡ, khiến cho họ mau chóng nghĩ nhớ, khiến cho họ cung kính đối trước tượng Phật, Bồ Tát, hoặc tự đọc kinh, hoặc thỉnh người khác đọc.  

Vì sao tụng kinh này tới ba lượt hay bảy lượt? Do chúng đều là những con số Dương [trong Dịch học]. “Ba” là con số của thiên, địa, nhân. Từ một mà lại gấp bội lên thì Tam Tài được trọn đủ. Một thành hai là Dương sanh Âm; hai sanh ra ba là Âm và Dương hòa hợp. Ba sanh ra vạn vật, sanh sôi vô cùng. Bảy là con số thuộc về Thiếu Dương. Đây cũng là biến thể của hai và ba, hai thêm năm thành bảy, [bảy] cộng thêm hai thành chín, tức là Lão Dương. Chuyển ngục quỷ nơi âm ty sanh vào dương thế thuộc cõi trời. Vì thế, chỉ lấy con số ba và bảy, chẳng nêu ra con số sáu và tám, bởi số âm khuyết hãm, chẳng phải là đạo siêu thoát lên cõi sáng.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.2.3. Tồn vong đắc ích (kẻ còn lẫn người mất được lợi ích)

          (Kinh) Như thị ác đạo quyến thuộc, kinh thanh tất thị biến số, đương đắc giải thoát, nãi chí mộng mị chi trung, vĩnh bất phục kiến.

          ()如是惡道眷屬經聲畢是徧數當得解脫乃至夢寐之中永不復見。

          (Kinh: Khi tiếng tụng kinh trọn đủ số ấy thì các quyến thuộc trong ác đạo như thế sẽ được giải thoát, thậm chí trong khi mộng mị, sẽ vĩnh viễn chẳng thấy họ nữa).

          “Giải thoát” là lìa khỏi ác đạo; hoặc sanh lên cõi trời, hoặc tiến nhập tam thừa thánh đạo. Người thân đã mất được siêu thăng, sẽ chẳng còn hiện hình trong mộng mị nữa.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.3. Hạ tiện cầu hối (kẻ hèn hạ cầu sám hối)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.3.1. Tiêu năng sám nhân (nêu ra người có thể sám hối)     

         

          (Kinh) Phục thứ Phổ Quảng! Nhược vị lai thế, hữu chư hạ tiện đẳng nhân, hoặc nô, hoặc tỳ, nãi chí chư bất tự do chi nhân, giác tri túc nghiệp, yếu sám hối giả.

          ()復次普廣若未來世有諸下賤等人或奴或婢乃至諸不自由之人覺知宿業要懺悔者。

          (Kinh: Lại này Phổ Quảng! Nếu trong đời vị lai có những kẻ hạ tiện, hoặc là tớ trai, hoặc là tớ gái, cho đến những kẻ chẳng được tự  do,

nhận biết là do nghiệp đời trước, cần phải sám hối).

          “Hạ tiện”: Theo kinh Biện Ý, có năm sự [khiến cho một người] thường sanh làm kẻ ty tiện (kém hèn), làm nô tỳ cho kẻ khác:

          – Một là kiêu mạn, chẳng kính trọng cha mẹ.

          – Hai là ương ngạnh, chẳng có tâm cẩn trọng.

          – Ba là buông lung, chẳng lễ kính Tam Bảo.

          – Bốn là sống bằng nghề trộm cắp.

          – Năm là mắc nợ mà trốn tránh, chẳng đền trả.

          Nhưng hạ tiện là nói tương phản với tôn quý, nô tỳ là nói tương phản những người thuộc thế gia vọng tộc, mỗi nơi đều có sự khác biệt. Nếu nói theo bốn phương, châu Bắc Uất Đan Việt không có kẻ nào được coi là tôi tớ, cho nên chẳng có sang, hèn. Ba châu kia mới có sang, hèn, do có vua, quan, dân chúng khác biệt. Do có thế gia vọng tộc và tôi tớ sai khác, cho nên mới có các loại sang, hèn khác nhau. Nói gộp chung về sang hèn thì có sáu bậc:

          – Một là tôn quý nhất trong những kẻ tôn quý, như Luân Vương v.v…

          – Hai là loại kém hơn trong những bậc tôn quý, tức là các vị Túc Tán Vương.

          – Ba là bậc hạ trong những người tôn quý, tức bá quan.

          – Bốn là kẻ hèn kém nhất trong những kẻ hèn kém, tức nô tỳ, tôi tớ sai vặt…

          – Năm là những kẻ đỡ hèn kém hơn, tức kẻ hầu thân cận, nông nô…

          – Sáu là những kẻ đỡ hèn kém nhất, tức bọn vợ lẽ, hầu thiếp v.v…

          Nói gộp chung thô lược như thế, chứ tách ra cặn kẽ, sẽ chẳng thể cùng tận. “Những kẻ chẳng được tự do” tức là những kẻ chẳng thuộc vào hàng nô tỳ hèn kém, tức là bọn sai dịch nơi công môn, nha lại v.v… Hằng tháng được trả lương để hằng ngày có cái mà sống, nghe lệnh đòi bèn đến, phải biết đón ý chủ nhân, nghe theo lệnh sai khiến mà làm, tuân theo oai thế của chủ nhân, thân chẳng được tự tại, chẳng phải là bậc trượng phu.

          “Túc nghiệp”: Đức Phật bảo vua Ba Tư Nặc: “Phàm nhân xử thế, tôn ty quý tiện, bần phú khổ lạc, giai do túc hạnh nhi trí tư quả. Nhược thế chi ngu ngoan vô giác tri giả, ức khởi cam chi, thả vị đắc chi. Nhược sảo hiệt huệ, hữu giác tri giả, khởi duy ai chi, thành dục thoát chi. Nhược dục ly thoát, tất tu sám-ma địch đãng, hối quá khiên vưu” (Phàm là người sống trong cõi đời, sang cả, thấp hèn, giàu, nghèo, khổ, vui, đều do những hành vi đời trước dẫn đến cái quả ấy. Nếu là kẻ ngu độn, ương nướng, chẳng hiểu biết trong cõi đời, có lẽ sẽ cam chịu, lại còn cho đó là chuyện đương nhiên. Nếu là có đầu óc đôi chút, có hiểu biết, há chẳng buồn sao, thật sự mong thoát khỏi. Nếu muốn thoát lìa, ắt cần phải sám hối để gột sạch, hối hận tội lỗi và oan trái trong quá khứ). Kinh Kim Quang Minh nói: “Hệ thuộc ư tha, thường hữu bố úy, bất đắc tự tại, nhi tạo chư ác, cố tu hành sám hối dã” (Phụ thuộc vào người khác, sẽ thường bị lo sợ, chẳng được tự tại, do tạo các ác, cho nên phải tu hành sám hối). Chữ Sám-ma (Kṣama) trong tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Hối Quá (悔過, hối lỗi). [Nói “sám hối”] là dùng cả tiếng Phạn lẫn tiếng Hán ghép lại. Sách Phụ Hành viết: “Sám hối chỉ là [sửa đổi sao cho] ba nghiệp tốt lành”.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.3.2. Thích sở hối pháp (giảng về phương pháp sám hối)    

          (Kinh) Chí tâm chiêm lễ Địa Tạng Bồ Tát hình tượng, nãi chí nhất thất nhật trung, niệm Bồ Tát danh, khả mãn vạn biến.

          ()志心瞻禮地藏菩薩形像乃至一七日中念菩薩名可滿萬徧。

          (Kinh: Chí tâm chiêm ngưỡng, lễ bái hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, cho đến trong vòng bảy ngày có thể niệm danh hiệu Bồ Tát trọn một vạn lần).

          “Bảy ngày”: Con số cùng tột trong thế gian là bảy. Nếu niệm một ngày chưa cảm ứng thì niệm suốt bảy ngày, ắt sở cầu sẽ được toại nguyện. Vì thế, kinh Thập Luân dạy: “Nhất nhật xưng Địa Tạng, công đức đại danh văn, thắng câu-chi kiếp trung, xưng dư trí giả đức, năng giải chư chúng sanh, nhất thiết phiền não phược” (Xưng niệm đức Địa Tạng một ngày thì công đức sẽ lừng lẫy, hơn công đức xưng niệm những bậc trí khác trong câu-chi kiếp; [công đức ấy] có thể tháo gỡ hết thảy những phiền não trói buộc chúng sanh). Vì thế, cần phải xưng niệm danh hiệu của Ngài đủ một vạn lần, biểu thị “trừ khử muôn điều ác, tu tập muôn điều thiện”.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.3.3. Kết chuyển báo  ích (tiểu  kết  phần  lợi  ích

chuyển đổi quả báo)

          (Kinh) Như thị đẳng nhân, tận thử báo hậu, thiên vạn sanh trung, thường sanh tôn quý, cánh bất kinh tam ác đạo khổ.

          ()如是等人盡此報後千萬生中常生尊貴更不經三惡道苦。

          (Kinh: Những người như thế sau khi hết báo thân này, trong ngàn vạn đời, thường sanh làm người tôn quý, trọn chẳng chịu nỗi khổ trong ba đường ác nữa).

          Điều này hiển thị sức đại oai thần của đức Địa Tạng. Như đức Phật bảo ngài Biện Ý: “Hữu ngũ sự đắc vi tôn quý, chúng nhân sở kính. Nhất, thí huệ phổ quảng. Nhị, lễ kính Tam Bảo cập chúng trưởng giả. Tam, nhẫn nhục, vô hữu sân khuể. Tứ, nhu hòa khiêm hạ. Ngũ, bác văn kinh giới” (Có năm sự khiến cho [người nào vâng làm theo], sẽ được tôn quý, mọi người kính trọng: Một là bố thí rộng rãi. Hai là lễ kính Tam Bảo và các vị trưởng thượng. Ba là nhẫn nhục, chẳng nóng giận. Bốn là nhu hòa, khiêm tốn, nhún nhường. Năm là rộng nghe kinh giới). Nay bảy ngày xưng danh, há chỉ là tôn quý trong ngàn vạn đời, mà còn chẳng trải qua ác đạo, tức là Phật quả ắt sẽ đạt được!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.4. Tân sản hoạch phước (người mới sanh nở được phước)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.4.1. Cử chủng loại tân sản (nêu ra các loại người mới sanh nở)

          (Kinh) Phục thứ Phổ Quảng! Nhược vị lai thế trung, Diêm Phù Đề nội, Sát-lợi, Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ, nhất thiết nhân đẳng, cập dị tánh chủng tộc, hữu tân sản giả, hoặc nam, hoặc nữ.

          ()復次普廣若未來世中閻浮提內剎利婆羅門長者居士一切人等及異姓種族有新產者或男或女。

          (Kinh: Lại này, Phổ Quảng! Nếu trong đời vị lai, trong Diêm Phù Đề, Sát-lợi, Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ, hết thảy mọi người, và những chủng tộc khác, có người mới sanh nở, dù sanh con trai, hay sanh con gái).

          Chỉ nói về Nam Châu vì Bắc Châu sanh con dưới gốc cây[36], cũng chẳng trần trụi, dơ bẩn, khổ não! Hai châu Đông và Tây dục sự đã ít, sanh nở đương nhiên cũng ít. Chỉ có nữ nhân ở Nam Châu sanh nở nhiều, chịu khổ nhiều, do hết thảy chúng sanh, khi mẹ sắp sanh con, toàn thân đau đớn, hứng chịu khổ não to lớn. Thoạt đứng, thoạt ngồi, chẳng thể tự yên. Vì thế, đặc biệt nói về người trong Diêm Phù Đề. “Sát-lợi v.v…”: Người tuy sang hèn chẳng bình đẳng, nhưng lúc sanh ra thì thiện, ác ai biết? Ba mươi tám thất trọn đủ (tròn đủ chín tháng mười ngày hoài thai), ắt phải chuyển dạ sanh trai hay gái. Đấy là do túc nghiệp nhân duyên, thuận theo sự biến hóa của Âm Dương. Vì thế, trong Bát Quái của Châu Dịch, Càn thuộc Dương là cha, Khôn thuộc Âm là mẹ, sanh ba trai là Chấn, Khảm, Cấn, ba gái là Tốn, Ly, Đoài, hóa sanh vạn vật. Theo kinh Tăng Nhất A Hàm, nếu là con gái, thai nhi sẽ ở bên hông trái của mẹ, nương vào xương sống, hướng đầu về phía bụng mà trụ. Nếu là con trai, sẽ ở bên hông phải của mẹ, nương vào bụng, hướng đầu về xương sống mà trụ. Do vậy biết là trai hay gái cũng đều do ái mà sanh, do dâm dục mà có tánh mạng.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.4.2. Thị kinh danh lợi ích (chỉ bày lợi ích của kinh này và danh hiệu của đức Địa Tạng)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.4.2.1. Tụng kinh, niệm danh (tụng kinh này, niệm danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát)

          (Kinh) Thất nhật chi trung, tảo dữ độc tụng thử bất tư nghị kinh điển, cánh vị niệm Bồ Tát danh, khả mãn vạn biến.

          ()七日之中早與讀誦此不思議經典更為念菩薩名可滿萬徧。

          (Kinh: Trong vòng bảy ngày, hãy sớm đọc tụng kinh điển chẳng thể nghĩ bàn này và có thể niệm danh hiệu Bồ Tát cho người ấy đủ số một vạn lần).

          Vì sao hãy nên sớm đọc kinh và xưng danh hiệu? Theo kinh Hộ Chư Đồng Tử Chú, lúc đức Như Lai mới thành Chánh Giác, có một Đại Phạm Thiên Vương đến chỗ đức Phật, làm lễ, nói kệ rằng: “Hữu Dạ Xoa, La Sát, thường hỷ đạm nhân thai, năng linh nhân vô tử, thương hại ư bào thai. Nam nữ giao hội thời, sử kỳ ý mê loạn, hoài nhâm bất thành tựu, cập sanh thời đoạt thai, giai thị chư ác quỷ, vị kỳ tác nhiễu hại. Ngã kim thuyết bỉ danh, nguyện Phật thính ngã thuyết. Đệ nhất danh Di Thù Ca, nãi chí đệ thập ngũ danh Lam Bà. Thử thập ngũ quỷ thần, thường du hành thế gian, vị anh hài, tiểu nhi, tác ư khủng bố, cập thuyết khủng bố hình tướng” (Có Dạ Xoa, La Sát thường thích ăn thai người, khiến cho người ta không có con, gây tổn hại cho bào thai. Khi trai gái giao hợp, chúng nó khiến cho tâm ý họ mê loạn, chẳng đậu thai được, và đến lúc sanh nở bèn đoạt thai, đều là do các ác quỷ ấy gây hại. Con nay nói tên chúng nó, thứ nhất tên là Di Thù Ca (Mañjuka), cho đến quỷ thứ mười lăm tên là Lam Bà (Ālambā). Mười lăm quỷ thần ấy[37] thường du hành trong thế gian, gây kinh hoảng, hãi hùng cho con thơ, trẻ nhỏ, và nói hình tướng kinh khiếp của chúng). Nay vì đã sớm đọc kinh Bổn Nguyện và niệm danh hiệu đức Địa Tạng, khiến cho các vị thiện thần ủng hộ, bảo vệ môn hộ, ác quỷ tự trốn xa!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.4.2.2. Thoát ương, tăng thọ (thoát họa hại, tăng tuổi thọ)

          (Kinh) Thị tân sanh tử, hoặc nam, hoặc nữ, túc hữu ương báo, tiện đắc giải thoát, an lạc, dị dưỡng, thọ mạng tăng trưởng.

          ()是新生子或男或女宿有殃報便得解脫安樂易養壽命增長。

          (Kinh: Đứa trẻ mới sanh đó dù trai hay gái, nếu đời trước có ương báo liền được giải thoát, yên vui, dễ nuôi, thọ mạng tăng thêm).

          Đoạn này chia làm hai tiểu đoạn. Thứ nhất là chuyển biến túc báo. “Túc ương báo”: Luận Du Già Sư Địa nói: “Lại nữa, ở trong thai tạng (bào thai), hoặc là do nghiệp lực từ trước, hoặc do mẹ chẳng tránh khỏi sức bất bình đẳng mà sanh ra loại gió tùy thuận, khiến cho nơi thai tạng, hoặc tóc, hoặc lông, hoặc da, và các chi thể khác sanh ra biến đổi khác lạ”. Nay đã tụng kinh, xưng danh, sẽ khiến cho đứa bé dù trai hay gái mới sanh đều thoát khỏi trọn hết quả báo do túc ương. “Yên vui, dễ nuôi”: Khi thai tạng đã hình thành tột cùng viên mãn, người mẹ không chịu nổi cái thai nặng nề ấy, vào ngày thứ tư, Nội Phong liền phát khởi, sanh ra đại khổ não. Thai tạng ấy lại do Phần Phong phát sanh từ nghiệp báo khiến cho đầu [thai nhi] chúc xuống dưới, chân hướng lên trên, nhau thai quấn cuộn, hướng đến sản môn. Đúng lúc lọt lòng, nhau thai bèn nứt tách ra, bám vào hai bên nách [đứa bé]. Khi ra khỏi sản môn thì gọi là Chánh Sanh Vị. Sanh xong thì gọi là Xúc, nghĩa là mắt tiếp xúc [cảnh vật bên ngoài] v.v… Nhưng khi sanh có nhiều loại khác nhau, hoặc là sanh thuận, hoặc là đẻ ngược. Thậm chí có đứa một chân ra trước, được gọi là “đạp liên sanh” (sanh ra theo kiểu đạp hoa sen). Nếu ruột của mẹ cũng lọt theo ra thì gọi là “bàn tràng sanh” (quấn ruột mà sanh). Trường hợp này hiểm ác nhất, mạng trong khoảnh khắc. Nay đã tụng kinh, niệm danh, ắt bình yên, vui sướng, sanh nở, nuôi nấng rất dễ dàng.

          “Thọ mạng tăng trưởng”: [Trong Phật Thuyết Hộ Chư Đồng Tử Đà La Ni Kinh], Đại Phạm lại bạch với đức Phật: “Thử chư nữ đẳng, dục cầu tử tức bảo mạng trường thọ giả, thường đương hệ niệm tu hành thiện pháp. Ư nguyệt bát nhật, thập ngũ nhật, thọ trì bát giới, thanh tịnh tẩy mộc, tụng ngã sở thuyết đà-la-ni chú giả, sở sanh đồng tử an ổn vô hoạn, tận kỳ hình, thọ mạng bất trung yểu” (Những người nữ ấy muốn cầu cho con cái giữ yên tánh mạng, sống lâu, hãy nên thường hệ niệm, tu hành thiện pháp. Trong ngày mồng Tám và ngày Rằm mỗi tháng, thọ trì tám giới, tắm gội thanh tịnh, tụng chú đà-la-ni do con đã nói thì đứa trẻ được sanh ra ấy sẽ an ổn, không hoạn nạn, cho đến hết đời chẳng bị chết yểu). Nay đã tụng kinh, xưng danh, sẽ không bị ác quỷ não hại, cho nên thọ mạng tăng trưởng.

          (Kinh) Nhược thị thừa phước sanh giả, chuyển tăng an lạc, cập dữ thọ mạng.

          ()若是承福生者轉增安樂及與壽命。

          (Kinh: Nếu là đứa trẻ nương theo phước mà sanh, sẽ tăng thêm an lạc và thọ mạng).

          Từ chữ “nhược thị” (nếu là) trở đi, ý nói: Tăng phước trong hiện tại. “Thừa phước sanh” (nương theo phước mà sanh): Kinh Tu Hành Đạo Địa nói: “Nhân hạnh bất thuần, hoặc thiện, hoặc ác, chí tam thập bát thất nhật, tại mẫu phúc trung, tùy kỳ bổn hạnh, tự nhiên phong khởi, túc hành thiện giả, tiện hữu hương phong, khả kỳ thân ý, nhu nhuyễn vô hà, chánh kỳ cốt tiết, linh kỳ đoan chánh, mạc bất ái kính. Hựu mẫu phúc phong khởi, hoặc thượng, hoặc hạ, chuyển kỳ nhi thân, nhi linh đảo huyền, đầu hướng sản môn. Kỳ hữu phước giả, thời tâm niệm ngôn, ngã đầu dục trì, thủy trung du hý, như đọa cao sàng, hoa, hương chi xứ dã. Ác giả, phản thị” (Do hạnh của mỗi người khác nhau, hoặc thiện, hoặc ác, cho đến ba mươi tám thất (chín tháng mười ngày), ở trong bụng mẹ, tùy theo hạnh của chính mình, tự nhiên gió nổi lên, kẻ xưa kia đã làm lành bèn có gió thơm, sướng thân vừa ý, mềm mại, không khuyết điểm, khiến cho các đốt xương ngay ngắn, khiến cho [thân thể] đoan chánh, không ai chẳng yêu mến. Trong bụng mẹ, gió lại nổi lên, hoặc phía trên, hoặc phía dưới, xoay chuyển thân thai nhi, khiến cho nó chúc đầu xuống, đầu hướng đến sản môn. Kẻ có phước thì khi ấy, tâm sẽ nghĩ rằng: “Ta gieo mình vào ao tắm, vui chơi trong nước, như té vào giường cao, vào chỗ hương, hoa”. Kẻ ác thì trái lại). Nay lại sớm vì đứa trẻ ấy tụng kinh, xưng danh, nó lại nương vào phước xưa kia mà sanh, cho nên đương nhiên phải an vui, tăng thêm an lạc. Thọ mạng đương nhiên phải tăng thêm nhiều!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.5. Trai tụng cảm báo (ngày thập trai tụng kinh cảm báo)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.5.1. Tiêu trai nhật ý (nói về ý nghĩa của các ngày trai)

          (Kinh) Phục thứ Phổ Quảng! Nhược vị lai thế chúng sanh, ư nguyệt nhất nhật, bát nhật, thập tứ nhật, thập ngũ nhật, thập bát nhật, nhị thập tam, nhị thập tứ, nhị thập bát, nhị thập cửu, nãi chí tam thập nhật.

          ()復次普廣若未來世眾生於月一日八日十四日十五日十八日二十三二十四二十八二十九日乃至三十日。

          (Kinh: Lại này Phổ Quảng! Nếu chúng sanh trong đời vị lai, mỗi tháng vào ngày mồng Một, mồng Tám, Mười Bốn, Rằm, Mười Tám, Hai Mươi Ba, Hai Mươi Bốn, Hai Mươi Tám, Hai Mươi Chín, cho đến ngày Ba Mươi).

          Trì trai trong cõi đời có ba loại: Trường trai (ăn chay trường), ăn chay mỗi tháng sáu ngày, và mười ngày khác nhau. Nay trước hết ấn định số ngày trai [trong mỗi tháng]. Theo kinh Văn Thù Bồ Tát Thiện Ác Tú Diệu, vào ngày mồng Một mỗi tháng, tiếng Phạn là Bát Xà Để Hạ (Hán dịch là Phạm Vương), là ngày Kiến Danh, hãy nên làm chuyện thuộc về thiện nghiệp, khắc khổ tu hành, bố thí v.v… thì sẽ tốt lành. Ngày mồng Tám và Hai Mươi Ba, là ngày Lực Chiến, thiện thần Bà Sa giáng hạ, hãy nên tận lực tu tập. Ngày Mười Bốn và ngày Hai Mươi Chín là ngày Dũng Mãnh, thần Dược Sô giáng hạ. Ngày Hai Mươi Bốn là ngày Hung Mãnh, thần Rô Đạt Ra Ni (Rudrani) giáng hạ. Ngày Hai Mươi Tám là ngày Tối Thắng, thần Bát Chiết Để (tiếng Hán là thần thiên ma) giáng hạ. Ngày Rằm và Ba Mươi là ngày Cát Tướng (tướng trạng tốt đẹp), thần Tất Đa Lô (Hán dịch là Hồn Linh Thần) giáng hạ. Hãy nên cúng tế người đã khuất và bố thí, cúng dường cha mẹ, bậc đáng tôn kính, chư thiên, giữ gìn trai giới, thí thực, và cúng bái các thứ thì sẽ tốt lành. Do vậy, lấy mười ngày ấy làm trai nhật.

          Nhưng hai chữ “nãi chí” (cho đến) từ xưa đến nay đều giảng là từ ngữ hàm ý giản lược. Nay số ngày đã đến hai mươi chín rồi, mà lại còn nói lược qua đến ngày ba mươi, [nếu cho rằng] là vị pháp sư dịch kinh hành văn không suông sẻ cho lắm thì chẳng đúng, [viết như vậy] hàm súc ý nghĩa sâu xa mà không ai biết! Tôi suy xét chữ Nãi (乃), thấy cổ nhân giải thích chữ Nãi có nghĩa là “khó khăn”, nhưng dùng theo ý nghĩa của chữ Nan trong từ ngữ “nan tâm” (trong tâm ngại khó) thì khác hẳn. Vì thế, [chữ Nãi viết theo lối cổ] hình dung ngữ điệu do dự, diễn tả ý “đã khó khăn lại càng khó khăn hơn”. Do vậy, [vị pháp sư dịch kinh] dùng chữ Nãi ở đây với dụng ý dạy người nghe: Nay nói từ ngày mồng Một đến ngày Ba Mươi, mười ngày chẳng gián đoạn như thế, tột bậc khó, hết sức khó! Nếu chẳng chấp nhận cách hiểu này, hai chữ [Nãi Chí] ấy làm sao có thể giải thích cho suông sẻ được?

          (Kinh) Thị chư nhật đẳng, chư tội kết tập, định kỳ khinh trọng.

          ()是諸日等諸罪結集定其輕重。

          (Kinh: Trong những ngày ấy, các tội kết tập, phán định nặng, nhẹ).

          Ba câu kể từ “thị chư” (trong những ngày ấy) trở đi, giải thích ý nghĩa của những ngày ấy. Theo sách Phật Tổ Thống Kỷ, trích dẫn kinh Đề Vị dạy về ba tháng ăn chay trường. Đức Phật bảo trưởng giả Đề Vị rằng: “Tứ thời giao đại, tuế chung tam phúc dĩ giảo, nhất nguyệt lục tấu, chư thiên, Đế Thích, thái tử, sứ giả, Diêm La quỷ thần, câu dụng chánh nguyệt, ngũ nguyệt, cửu nguyệt đán nhật, án hành vương, dân, long, quỷ, điểu, thú, vi thiện ác giả, dữ tứ vương nhất nguyệt lục tấu, sử vô uổng thác, phúc giảo chúng sanh tội phước đa thiểu. Phước đa giả, sắc tư mạng hạ Diêm La ngũ quan trừ tội, tăng lộc” (Bốn mùa đắp đổi, cuối năm có ba lượt phúc thẩm, so sánh. Cứ mỗi tháng, [tứ thiên vương] tấu trình sáu lượt. Chư thiên, Đế Thích, thái tử, sứ giả, Diêm La, quỷ thần đều dùng ngày mồng Một của tháng Giêng, tháng Năm, và tháng Chín để tra xét chuyện thiện ác của vua, dân, rồng, quỷ, chim, thú [trong thế gian], so sánh với lời tâu sáu lần mỗi tháng của tứ thiên vương để [xét xử] không bị oan uổng, sai lạc, phúc thẩm tội phước của chúng sanh nhiều hay ít. Đối với người nhiều phước, liền sắc truyền năm vị quan Diêm La dưới quyền vị đặc trách để trừ tội hay tăng lộc cho kẻ đó). Vì thế, dạy hãy giữ ba tháng trường trai ấy.

          [Sách ấy] lại dẫn kinh Tứ Thiên Vương để giảng về sáu ngày trai: “Đế Thích sắc tứ vương, các trị nhất phương, bạch nguyệt bát nhật, khiển sứ giả án sát chúng sanh thiện ác. Thập Tứ nhật, khiển thái tử. Thập ngũ nhật, vương thân lâm. Hắc nguyệt tam nhật, diệc như thị. Nhược vương thân hạ, tinh tú, quỷ thần câu thời tùy tùng. Như ngộ tu hành, trai giới, chư thiên tương khánh, tức vi chú lộc, tăng toán” (Đế Thích sắc truyền bốn vị thiên vương, mỗi vị cai quản một phương. Vào ngày mồng Tám của bạch nguyệt[38], sai sứ giả tra xét thiện ác của chúng sanh. Ngày Mười Bốn, sai thái tử [làm việc ấy]. Ngày Rằm, thiên vương đích thân làm. Ba ngày (Hai Mươi Ba, Hai Mươi Chín, Ba Mươi) trong hắc nguyệt cũng như vậy. Nếu thiên vương đích thân giáng hạ, tinh tú, quỷ thần đều cùng đi theo. Nếu gặp người tu hành, trai giới, chư thiên vui mừng, tăng lộc, tăng thọ cho người ấy).

          Lại dẫn kinh Thập Trai để nói về mười ngày trai: “Mỗi nguyệt thập trai nhật, trì Phật, Bồ Tát hiệu, khất phước, diệt tội” (Mỗi tháng mười ngày trai, trì danh hiệu Phật, Bồ Tát, cầu phước, diệt tội) (đối với sáu ngày trai [như vừa nêu trên đây], thêm vào bốn ngày trong tháng nữa, như trong kinh Địa Tạng nói). Nay theo phép nước, hạ lệnh cho các châu trong Thập Trực Nhật[39], không được hành hình chính là vì ý nghĩa này.

          Kinh Tịnh Độ Tam Muội lại nói: Trong tám vương nhật (tức Lập Xuân, Xuân Phân, cho đến Lập Đông, Đông Chí), chư thiên, Đế Thích, trấn thần gồm ba mươi hai vị, tứ trấn đại vương (tứ thiên vương), tư mạng, tư lộc, ngũ Diêm La đại vương, tám vương sứ giả, đều đi khắp bốn phương để tra xét. Lại nữa, bốn vị vua trực nhật sẽ tấu lên [Đế Thích] vào ngày Rằm và Ba Mươi, tra xét nhân dân lập hạnh thiện ác. Vua cõi địa ngục cũng sai các vị quan phụ tá, các tiểu vương cùng lúc đi tra xét, hễ ai có tội bèn ghi chép. Phạm lỗi trong tám ngày trai thuộc vương nhật (tám ngày tiết như Lập Xuân, Xuân Phân…) trên đây mà phước mạnh thì có thể bổ cứu, an ổn, không có chuyện gì khác, do phước mà được xá tội. Sau đó, do phạm lỗi nặng trong mười ngày trai, số lượng tội nhiều, xét theo từng điều tội mà giảm thọ, ấn định ngày, tháng, năm sẽ chết, giao cho địa ngục. Địa ngục nhận được văn thư, liền sai ngục tốt ghi chép tên họ. Quỷ trong địa ngục chẳng có lòng Từ, [kẻ phạm tội đó] chưa đến ngày chết, họ đã thôi thúc kẻ đó làm ác, khiến cho mạng hắn bị rút ngắn. Kẻ nhiều phước, sẽ tăng thêm tuổi thọ. Trời sai thiện thần che chở người ấy, truyền địa ngục dẹp trừ tội danh, tăng thêm thọ mạng, về sau, sanh lên cõi trời. Những cách trì trai trên đây đều phát xuất từ kinh Phật, đều nên tuân phụng, sẽ hưởng phước mãi mãi. Đừng nên cố ý vi phạm, để rồi tự gánh họa ương. Vì thế, tôi ghi chép tường tận ở đây.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.5.2. Thích độc kinh chi ích (nói về lợi ích do đọc kinh)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.5.2.1. Cử Diêm Phù tội trạng (nêu ra tội trạng của người trong châu Diêm Phù)

          (Kinh) Nam Diêm Phù Đề chúng sanh, cử chỉ động niệm, vô bất thị nghiệp, vô bất thị tội. Hà huống tứ tình sát hại, thiết đạo, tà dâm, vọng ngữ, bách thiên tội trạng.

          ()南閻浮提眾生舉止動念無不是業無不是罪。

何況恣情殺害竊盜邪婬妄語百千罪狀。

          (Kinh: Chúng sanh trong Nam Diêm Phù Đề cư xử, dấy lên ý niệm, không gì chẳng phải là nghiệp, không gì chẳng phải là tội. Huống chi mặc sức giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối, trăm ngàn tội trạng).

 

          Người Nam Châu tâm thức vô định; huống hồ trong ý căn, theo pháp tắc sanh thành có ba tánh thiện, ác, vô ký (không thiện không ác); nhưng phàm phu nhiều lúc dấy lên ác niệm. “Cử” (舉, hành động) là động, Chỉ (止, không hành động) là tĩnh. Dù động hay tĩnh, dấy lên ý niệm chẳng đồng nhất. Kinh An Ban Thủ Ý dạy: “Nhất đàn chỉ khoảnh, tâm hữu cửu bách lục thập chuyển” (Trong khoảng thời gian một cái khảy ngón tay, tâm chyển đổi ý niệm chín trăm sáu mươi lần). Kinh Nhân Vương dạy: “Nhất niệm hữu cửu thập sát-na, nhất nhất sát-na trung, phục hữu cửu bách sanh diệt” (Trong một niệm có chín mươi sát-na, trong mỗi sát-na có chín trăm lần sanh diệt). Kinh Bồ Tát Xử Thai dạy: “Nhất đàn chỉ khoảnh, hữu tam thập nhị ức bách thiên niệm, niệm niệm thành hình, hình hình hữu thức. Nhất niệm thiện, hữu vô lượng thiện quả báo. Nhất niệm ác, hữu vô lượng ác quả báo” (Trong khoảng một cái khảy ngón tay, có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm, niệm niệm thành hình, mỗi hình đều có thức. Một niệm thiện, có vô lượng thiện quả báo. Một niệm ác, có vô lượng ác quả báo). Vì thế nói: “Cử chỉ động niệm, vô phi thị nghiệp” (Hành động hay tĩnh lặng, dấy lên ý niệm, không gì chẳng phải là nghiệp).

          Nhưng phàm phu tạo nghiệp, hễ thân, khẩu dấy động, đều do cái tâm sai khiến. Nếu tâm bất thiện thì mới có thể tổn hại chúng sanh. Nếu trong tâm tốt lành thì mới có thể tương ứng với phước. Tuy là tổn hại hay lợi ích khác nhau, nhưng cái gốc của ba nghiệp đều bắt nguồn từ tâm. Vì thế, hễ dấy động ý niệm bèn thành nghiệp. Niệm thiện là phước, niệm ác thành tội. Nhưng kiểm điểm tự tâm thì trong mười hai thời, nói chung là tội nhiều hơn phước; huống hồ còn buông lung sáu tình thức, mặc sức tạo tác ba nghiệp ư? Kinh Di Giáo dạy: “Túng thử tâm giả, táng nhân thiện sự. Thí chi nô mã, cực lực khống chế, thượng nan điều phục. Nhược túng kỳ bôn dật, tổn vật vô nghi” (Buông lung cái tâm này sẽ chôn vùi thiện sự của mỗi người. Ví như ngựa hèn, cực lực khống chế nó, mà còn khó điều phục. Nếu để mặc cho nó chạy lung tung, sẽ tổn hại muôn vật chẳng ngờ chi). Giết hại, trộm cắp, tà dâm là ba ác nghiệp nơi thân. Nói dối v.v… bao gồm bốn nghiệp nơi miệng như đã nói trong phần trước. “Trăm ngàn tội trạng” tức là một sát nghiệp có thượng, trung, hạ, cho đến tham, sân, si cũng có thượng, trung, hạ. Nói chi tiết, sẽ chẳng thể nêu trọn hết được! Vì thế, chỉ nói tổng quát là “trăm ngàn”. Cần biết: Kết tội do xét theo cái tâm mà nghiệp có nặng, hay nhẹ; như sân nặng nề thì tội nặng nề, sân nhẹ thì tội nhẹ. Thành Thật Luận viết: “Hoặc do sự việc nặng nề, bèn có quả báo cố định. Hoặc do tâm coi trọng mà có quả báo cố định. Như người do phiền não sâu dầy mà giết hại trùng, kiến, tội sẽ nặng hơn kẻ do cẩu thả mà giết người. Nếu tâm chẳng có sân, dẫu giết bề trên, cho đến giết cha, mẹ, cũng chẳng thành tội nghịch”. Vì thế biết các nghiệp theo lệ, sẽ có nhẹ hay nặng. Tuy chia thành nặng và nhẹ, nhưng thọ báo chẳng sai sót mảy may, há có nên mặc sức buông lung ư?

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.5.2.2. Thị trai nhật độc kinh (dạy đọc kinh trong ngày trai)

          (Kinh) Năng ư thị thập trai nhật, đối Phật, Bồ Tát, chư hiền thánh tượng tiền, độc thị kinh nhất biến.

          ()能於是十齋日對佛菩薩諸賢聖像前讀是經一遍。

          (Kinh: Có thể trong mười ngày trai ấy, đối trước tượng của Phật, Bồ Tát, và các vị hiền thánh đọc kinh này một lượt).

          Lục trai và thập trai tăng giảm khác nhau. Đại Luận quyển sáu mươi lăm chép: “Vào sáu ngày trai, chư thiên đến quan sát lòng người. Ngày Rằm và Ba Mươi, bạch lên chư thiên. Sáu ngày trai lại là ngày xấu, tạo hung suy cho con người. Nếu có ai trong những ngày ấy thọ tám giới, trì trai, bố thí, nghe pháp, khi đó, chư thiên hoan hỷ, tiểu quỷ chẳng thừa dịp làm hại, hành giả được lợi ích”. Vì thế, sách Ma Ha Chỉ Quán xếp việc tuân giữ trai nhật vào hàng đầu là có lý do vậy, nhưng cách trì trai hơi khác biệt. Sách [Thỉnh Quán Âm Kinh Sớ] Xiển Nghĩa Sao trích dẫn thiên Tế Thống [trong Lễ Ký]: “Trai (齋) có nghĩa là Tề (齊, san bằng), tức là san bằng những chỗ bất bình đẳng, hòng đạt đến bình đẳng, cũng như làm cho thanh tịnh, ngăn ngừa tà vật, dứt các ham muốn, tai chẳng nghe nhạc”.

          Nay trong đạo Thích coi “chẳng ăn quá ngọ” là Trai, cũng do dựa theo ý nghĩa “ngăn tà, dứt dục, san bằng những thứ bất bình đẳng”. Vì thế, sách Thỉnh Quán Âm Sớ viết: “Trai chỉ là Trung Đạo. Sau giữa trưa, chẳng được ăn nữa, biểu thị ngoài Trung Đạo pháp giới, chẳng có pháp nào khác nữa!” Do lẽ này, trong đạo Thích, tăng lẫn tục đều coi “sau giữa trưa không ăn nữa” là Trai. Gần đây, có quan niệm thông tục “kẻ bạch y (tại gia) không ăn mặn, uống rượu” thì Trai (tức là coi ăn chay là Trai), cho nên khác biệt. Kinh Pháp Cú dạy: “Từ tự chủng họa căn, nhật dạ trưởng chi điều, đường khổ bại thân bổn, pháp trai độ thế tiên” (Cúng tế [quỷ thần] là gieo cái gốc họa, ngày đêm [cái gốc họa] ấy càng tăng trưởng cành nhánh, khổ công vô ích mà chỉ có hại cho thân tâm. Chỉ có Bát Trai Giới là pháp lợi ích hơn hết để vượt thoát tam giới)[40]. Vì thế, trong các ngày Lục Trai hay Thập Trai, hãy nên trì trai, bố thí, đọc tụng kinh Bổn Nguyện. Đấy là nói rõ chuyện đọc kinh.

          (Kinh) Đông, Tây, Nam, Bắc, bách do-tuần nội, vô chư tai nạn. Đương thử cư gia, nhược trưởng, nhược ấu, hiện tại, vị lai, bách thiên tuế trung, vĩnh ly ác thú.

          ()東西南北百由旬內無諸災難。當此居家若長若幼現在未來百千歲中永離惡趣。

          (Kinh: Đông, Tây, Nam, Bắc, trong một trăm do-tuần, không có các tai nạn. Những người sống trong nhà ấy, dù lớn hay bé, trong hiện tại và vị lai, trong trăm ngàn năm, vĩnh viễn lìa khỏi đường ác).

          Tiếp đó là nói đến lợi ích. Trước hết nói rõ: Do đọc kinh, các phương không có tai nạn. Nếu có một người có thể trong các ngày trai, đều đọc kinh một lượt, sẽ khiến cho bốn phương trong vòng một trăm do-tuần, trọn chẳng có tai nạn. Thứ ngỗ nghịch nơi đất là Yêu (䄏), điều trái thời nơi trời thì gọi là Tai (災). Nói “quyên trừ yêu tai” (trừ sạch các thứ yêu quái, tai nạn) là nói về chuyện này.

          Kế đến là nói “người trong nhà lìa khỏi đường ác”. Vì sao chỉ đọc kinh một lượt mà lại đạt được quả báo thù thắng? Điều này tỏ rõ chuyện lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của đức Địa Tạng. Nhưng nay có trường hợp chẳng phải là không đọc kinh, thế mà chẳng đạt được báo ứng tốt đẹp là vì lẽ nào? Thưa rằng, chuyện này có hai ý:

          – Người ở trong vùng ấy và quyến thuộc sống trong nhà đời trước tội ác sâu nặng, cho nên khó trốn khỏi định nghiệp.

          – Hai, có thể là do tâm người đọc kinh khác nhau. Người chí tâm tụng kinh đắc lực, cho nên có thể chuyển biến túc ương. Kẻ chẳng chí tâm, do sức cạn cợt, phước chẳng thể thắng nổi tội, cho nên khó chuyển!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.1.2.5.2.3. Thích hiện thế phước lợi (giải thích về phước báo và lợi ích trong đời hiện tại)

 

          (Kinh) Năng ư thập trai nhật, mỗi chuyển nhất biến, hiện thế linh thử cư gia, vô chư hoạnh bệnh, y thực phong dật.

          ()能於十齋日每轉一遍現世令此居家無諸橫病衣食豐溢。

          (Kinh: Có thể trong mười ngày trai, thường tụng một lượt, thì trong đời này sẽ khiến cho người sống trong nhà chẳng có các bệnh ngang trái, áo cơm sung túc).

          “Hoạnh bệnh” (bệnh ngang trái) chính là dịch bệnh đang lưu hành, do phước suy mà bỗng dưng nhiễm bệnh. Tuy do ác quỷ xằng bậy giáng họa, ban phước, nhưng chính là do bản thân ta không có thiện lực nên phải chuốc lấy [tai họa]. Nay đã tụng kinh, vĩnh viễn dứt bặt các thứ bệnh ngang trái. Áo cơm sung túc là chuyện quan trọng nhất. Kinh Kim Quang Minh dạy: “Y nhân y thực, chư kết não nhiệt” (Do vì cơm áo mà vấn vít lo nghĩ, khổ não). Kinh Dược Sư dạy: “Vị y thực cố, tạo chư ác  nghiệp” (Vì cơm áo mà tạo các ác nghiệp). Nay do đọc kinh trong ngày trai, cho nên cảm vời quả báo dư dật. Không chỉ là chẳng có nghiệp, mà còn tăng phước. Dẫu là kẻ nghèo nàn không có cơm áo, cũng sẽ đạt được quả báo sung túc, dư dả. Lợi ích của kinh há nghĩ bàn được ư? Nói về chuyện lợi ích đã xong.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.2. Tổng kết oai thần chi lực (tổng kết về sức oai thần của Bồ Tát)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.2.1. Chánh kết Địa Tạng lợi ích (kết lại sự lợi ích của đức Địa Tạng)

          (Kinh) Thị cố Phổ Quảng! Đương tri Địa Tạng Bồ Tát, hữu như thị đẳng bất khả thuyết bách thiên vạn ức đại oai thần lực, lợi ích chi sự.

          ()是故普廣當知地藏菩薩有如是等不可說百千萬

億大威神力利益之事。

          (Kinh: Vì thế, Phổ Quảng! Hãy nên biết Địa Tạng Bồ Tát có trăm ngàn vạn ức sức đại oai thần và chuyện lợi ích chẳng thể diễn tả như thế đó).

          Kết lại bằng một câu “như thị đẳng” (như thế đó) nhằm chỉ rõ những điều đã nói trên đây chỉ là nêu đại khái, như hai kinh Địa Tạng Thập Luân và Chiêm Sát Thiện Ác đã nói cặn kẽ chuyện này.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.2.2. Biệt thị Diêm Phù hữu duyên (đặc biệt chỉ ra chúng sanh trong Diêm Phù có duyên với đức Địa Tạng)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.2.2.1. Lược thị hữu duyên (chỉ bày đại lược sự hữu duyên)       

          (Kinh) Diêm Phù chúng sanh, ư thử Đại Sĩ, hữu đại nhân duyên.

          ()閻浮眾生於此大士有大因緣。

          (Kinh: Chúng sanh Diêm Phù có nhân duyên to lớn với vị Đại Sĩ này)

 

          “Nhân duyên” chỉ là tên gọi khác của “cảm ứng”. [Nói là] “đại”, hàm ý: Đấy là đại sự nhân duyên muốn cho chúng sanh đều khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật. Vì thế, đích thân kim khẩu của Đại Sĩ đã nói: “Chỉ cần làm thiện sự trong Phật pháp, [dẫu chỉ bằng] một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát, một hạt bụi, ta sẽ dần dần độ thoát, khiến cho [kẻ ấy] đạt được lợi ích to lớn”. “Lợi ích to lớn” chính là “vô lượng trân bảo chẳng cầu mà tự đạt được” như kinh Pháp Hoa đã nói, tức Bồ Đề Niết Bàn. Đại nhân duyên như thế, không phải chỉ là mới ngày nay, mà trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp đến nay, Ngài luôn ở trong Diêm Phù Đề, tùy theo căn cơ mà hóa độ chúng sanh. Luôn luôn chẳng buông bỏ việc gieo căn lành, làm cho cơ duyên chín muồi hòng thoát khỏi tam đồ. Ví như con rơi vào nơi nước lửa, cha mẹ lăng xăng cứu vớt. Con bị bệnh tật, cha mẹ cháy lòng lo âu. Do chúng sanh trong Nam Diêm Phù Đề tội nghiệp đặc biệt nặng nề, cho nên chúng sanh trong Nam châu cũng đặc biệt tin tưởng Đại Sĩ chẳng bỏ lơi. Do vậy, cao, thấp, sang, hèn, tăng, tục, nam, nữ, không một ai chẳng nương theo Địa Tạng Bồ Tát, cầu Ngài cứu bạt nước, lửa, chữa trị bệnh tật. Ví như nam châm hút sắt, ứng cảm đồng thời! Do có đại nhân duyên, hãy nên tỉnh ngộ sâu xa!

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.1.2.2.2. Quảng minh văn ích (nói rộng về lợi ích do nghe danh hiệu của Ngài)

          (Kinh) Thị chư chúng sanh, văn Bồ Tát danh, kiến Bồ Tát tượng, nãi chí văn thị kinh tam tự, ngũ tự, hoặc nhất kệ, nhất cú giả, hiện tại thù diệu an lạc, vị lai chi thế, bách thiên vạn sanh, thường đắc đoan chánh, sanh tôn quý gia.

          ()是諸眾生聞菩薩名見菩薩像乃至聞是經三字五字或一偈一句者現在殊妙安樂未來之世百千萬生常得端正生尊貴家。

          (Kinh: Các chúng sanh ấy nghe danh hiệu của Bồ Tát, thấy tượng Bồ Tát, cho đến nghe kinh này ba chữ, năm chữ, hoặc một bài kệ, một câu, hiện tại được an lạc thù thắng nhiệm mầu, trong trăm ngàn vạn đời tương lai, thường được đoan chánh, sanh trong nhà tôn quý).

          Đây là nói về chuyện “nghe danh, thấy tượng”, nhắc đi, nhắc lại công đức của Bồ Tát. Do chúng sanh và Phật vốn có cùng một giác thể, tánh của biển giác là lắng trong, viên mãn. Giác vốn trong lặng, viên mãn mầu nhiệm; do gió vô minh bất giác dấy lên, hư vọng chia ra thành thấy, nghe, hay, biết, hạn cuộc trong cảnh giới, tự cách biệt thành chướng ngại. Do vậy, cái thấy không vượt ra ngoài sắc được, cái nghe không thoát khỏi thanh được! Nay xoay chuyển cái Nghe hư vọng ấy để nghe danh hiệu Bồ Tát, xoay chuyển cái Thấy hư vọng ấy để thấy tượng Bồ Tát, khiến cho danh hiệu được nghe khế nhập cảnh chân không, danh cũng là vô danh. Tượng được thấy sẽ giống như Pháp Tánh Thân, có tượng nào để có thể đạt được? Danh mà vô danh thì cái Nghe chân thật rành rành. Tượng mà chẳng có tượng thì cái Thấy chân thật rạng ngời. Như thế thì tùy tiện lấy ba chữ trong kinh, sẽ ngay lập tức phá Tam Hoặc, tiêu ba chướng, thành tựu ba trí, chứng ba đức, hiển lộ ba thân. Hoặc lấy năm chữ, ở nơi đâu cũng đều phá Ngũ Trụ, thoát năm đường, lập Ngũ Căn, tăng trưởng Ngũ Lực, thành tựu Ngũ Phần Pháp Thân. Do một bài kệ bèn vượt thoát một môn. Do một câu bèn [chứng nhập] một tánh viên minh. Hai, bốn, sáu, tám như thế, tùy theo mỗi hạnh mà tăng con số lên. Trong hiện tại bèn đạt được sự an lạc, thù thắng nhiệm mầu, niệm niệm cùng dòng với bổn nguyện, tâm tâm cùng hiện với Bồ Tát. Trong đời vị lai, thường đạt được tướng hảo đoan nghiêm, thanh tịnh, chánh đáng, ở nơi đâu cũng đều sanh trong gia đình tôn quý.

          Như đức Phật bảo vua Ba Tư Nặc: “Nhân từ khiêm thuận, kính trưởng, ái tiểu, tắc vi quý nhân. Hung ác cường lương, kiêu tứ tự đại, tắc vi tiện nhân” (Nhân từ, khiêm nhường, thuận thảo, kính trọng bậc trưởng thượng, yêu mến kẻ nhỏ hơn, thì là bậc quý nhân. Hung ác, ương bướng, kiêu căng, phóng túng, tự cao tự đại thì là kẻ hèn hạ). Lại nói: “Tam giới luân chuyển, vô hữu định phẩm. Tích thiện nhân hòa, sanh ư hào tôn. Tập ác phóng tứ, tiện sanh ty tiện” (Luân chuyển trong ba cõi không có phẩm loại nhất định. Tích tụ điều thiện, nhân từ, ôn hòa, sẽ sanh trong gia đình có thế lực, tôn quý. Làm ác buông lung bừa bãi, sẽ sanh làm kẻ hèn hạ). Dùng những điều ấy để xem xét, [sẽ biết]: Con người chớ nên làm ác, hãy nên tu tập. Đức Thế Tôn nói về lợi ích đã xong.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.2. Phổ Quảng thỉnh kinh danh (Phổ Quảng thưa hỏi tên kinh)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.2.1. Kết hiển thỉnh ý (tổng kết những điều đã được dạy, nêu ý nghĩa vì sao thưa hỏi)

          (Kinh) Nhĩ thời, Phổ Quảng Bồ Tát văn Phật Như Lai, xưng dương, tán thán Địa Tạng Bồ Tát dĩ, hồ quỳ, hiệp chưởng.

         ()爾時普廣菩薩聞佛如來稱揚讚歎地藏菩薩已胡跪合掌。

             (Kinh: Lúc bấy giờ, Phổ Quảng Bồ Tát nghe Phật Như Lai xưng dương, tán thán Địa Tạng Bồ Tát xong, hồ quỳ, chắp tay).

          Trước hết là người trùng tuyên kinh tường thuật, kế đó, trần thuật ý nghĩa vì sao [Phổ Quảng Bồ Tát] khải thỉnh. “Hồ quỳ”: Sách Âm Nghĩa Chỉ Quy nói: “Đáng lẽ không nên nói là Hồ Quỳ, vì hậu duệ của Phạm Thiên sống tại năm xứ Thiên Trúc, còn các chủng tộc Nhung, Khương, Hồ sống tại phía Bắc Thông Lãnh. Nay kinh, luật phần nhiều dịch thành Hỗ Quỳ (互跪), vì ba chỗ dựng thẳng lên[41], nên gọi là Hỗ Quỳ. Tức là gối phải đặt sát đất. Do gối phải có sức, có thể quỳ lâu, [đang quỳ] đứng lên rất tiện, nên đặt nó sát đất bèn vững vàng”. Nếu nữ ni (tỳ-kheo-ni) thể chất yếu ớt, đức Phật cho phép trường quỳ.

          (Kinh) Phục bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngã cửu tri thị Đại Sĩ, hữu như thử bất khả tư nghị thần lực, cập đại thệ nguyện lực. Vị vị lai chúng sanh, khiển tri lợi ích, cố vấn Như Lai. Dụy nhiên đảnh thọ”.

          ()復白佛言世尊我久知是大士有如此不可思議神力及大誓願力。為未來眾生遣知利益故問如來。唯

然頂受。

          (Kinh: Lại bạch đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con biết vị Đại Sĩ này đã lâu, có thần lực và đại thệ nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn như thế. Con muốn cho chúng sanh trong đời vị lai biết lợi ích, cho nên thưa hỏi Như Lai. Thưa vâng, con xin cung kính lãnh nhận”).

          Nói “cửu tri” (biết đã lâu) tức Phổ Quảng cũng cùng một loại với ngài Địa Tạng. Do Ngài tự có thần lực và đại thệ nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn, cho nên có thể biết. Đã biết mà lại hỏi, chính là do mong đức Như Lai tuyên dương trong đại hội, khiến cho chúng sanh trong đời vị lai biết Địa Tạng Bồ Tát tạo lợi ích như thế, cho nên Ngài thưa hỏi. “Dụy nhiên” là lời đáp ứng nhanh nhẹn, thể hiện ý nghĩa chẳng nghi. Gần là nói đến những câu ngay trước đó, xa là chỉ những đoạn văn trước kia: “Nhữ đẳng chư Bồ Tát, đương ký thị kinh, quảng tuyên lưu bố” (Hàng Bồ Tát các ông hãy nên ghi nhớ kinh này, tuyên dương, lưu thông rộng rãi). Nhưng lúc đó, ngài Định Tự Tại Vương chỉ vâng mạng lưu thông, chẳng thưa hỏi tên kinh, suy ra thì biết chuyện thần lực của đức Địa Tạng còn chưa nói xong, đó là một lý do. Suy ngược lại thì biết ngài Phổ Quảng thưa hỏi, [đã được dạy] tường tận về chuyện lợi ích. Đó là lý do thứ hai.  

Vì thế biết: Chủ khách xướng họa, phát khởi, tuyên dương lẫn nhau, ví như đe và búa đập vào nhau, cao thấp tương ứng. Từ chữ “cố vấn” (vì thế thưa hỏi) trở đi là lời kính vâng, cung kính tiếp nhận.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.2.2. Chánh thỉnh kinh danh (hỏi thẳng tên kinh)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.2.2.1. Thỉnh (thưa hỏi)

 

          (Kinh) Thế Tôn! Đương hà danh thử kinh, sử ngã vân hà lưu bố?

          ()世尊當何名此經使我云何流布

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nên đặt tên kinh này như thế nào, khiến cho con lưu truyền như thế nào?)

          “Đương hà, vân hà” đều là những từ ngữ nghi vấn. Từ lúc nói kinh cho đến nay, [đức Thế Tôn] tán thán ngài Địa Tạng có công đức trừ một mình đức Phật ra, không ai có thể sánh bằng. Danh sở dĩ gọi là danh, vì nó có thể triệu vời cái thật. Nay đã nói “thật đức của ngài Địa Tạng chẳng thể nghĩ bàn”, tức là chẳng dùng tên để gọi tên vậy, cho nên nói “đương hà danh thử kinh” (nên đặt tên kinh này là gì). Danh đã chẳng lập, khiến cho chúng con sẽ lại dựa vào pháp môn nào để truyền bá? Theo Châu Lễ, suối chảy gọi là Bố (布). Ý nói: Tiền trong thế gian lưu thông giống như nước suối tuôn chảy. Kinh được lưu truyền, lan rộng cũng giống như vậy.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.2.2.2. Đáp (trả lời)

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.2.2.2.1. Đáp kinh danh (đáp tên kinh)

 

          (Kinh) Phật cáo Phổ Quảng: “Thử kinh hữu tam danh, nhất danh Địa Tạng Bổn Nguyện, diệc danh Địa Tạng Bổn Hạnh, diệc danh Địa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh”.

          ()佛告普廣此經有三名一名地藏本願亦名地藏本行亦名地藏本誓力經。

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài Phổ Quang: “Kinh này có ba tên, một là Địa Tạng Bổn Nguyện, còn gọi là Địa Tạng Bổn Hạnh, cũng gọi là Địa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh”).

          Ý nghĩa của tên kinh như đã giải thích trong phần Luân Quán. Lại giải thích chữ Bổn Nguyện: Tâm mong muốn thì gọi là Nguyện. Lòng mong muốn vừa sâu vừa chuyên. Nguyện hướng ra ngoài thì toàn là nhân dục (những ham muốn của con người), chỉ có thiên lý là lòng ham muốn thuộc về tánh, chính là cái tâm căn bản của con người. [Chữ Nguyện (願) được ghép] từ chữ Nguyên (原), nhằm dạy mọi người hãy quay ngược lại cầu mong nơi cái gốc ấy, mong mỏi điều thiện đáng mong mỏi ấy. [Chữ Nguyện] lại được ghép thêm chữ Hiệt (頁, cái đầu) là vì lẽ nào? Do tâm cầu được, bèn cúi đầu để lắng lòng suy nghĩ. Vậy thì tham cũng đã dứt, mà si cũng đã dứt. Đấy tuy là cách giải thích [chữ Nguyện] theo đạo Nho, nhưng bổn nguyện của đức Địa Tạng há cũng ra ngoài những điều ấy ư? Không gì chẳng nhằm mong cho con người khôi phục giác tánh vốn sẵn có, cùng trở về bí tạng; đấy chính là nguyện của Đại Sĩ khi đó (khi Ngài phát nguyện).

          Bổn Hạnh tức là hạnh nơi Bổn và Tích, cho nên tôi dựa theo ý nghĩa ấy, căn cứ theo phần Thập Diệu thuộc Bổn Môn trong sách Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa để minh thị bổn địa có mười thứ chẳng thể nghĩ bàn thì văn nghĩa mới được thông suốt, mới tỏ rõ: Các chuyện chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát được thành  tựu  trong  lúc  ấy  và

sau này, đều là do nguyện hạnh thuộc về Tích môn vậy.

          Bổn Thệ Lực, tiếng Phạn là Tăng Na (Saṁnāha), dịch sang tiếng Hán là Hoằng Thệ. Có thuyết nói Tăng Na là Đại Thệ, còn Tăng Niết (Saṁaddha) là Tự Thệ. Tăng Na là Khải (鎧, áo giáp), Tăng Niết là Trước (著), [nói gộp lại thì] có nghĩa là “mặc áo giáp to”. Chữ Phạn này đọc âm đúng phải là San Na Ha (dịch là Giáp) San Nại Đà (dịch là Bị (被), tức đeo, khoác, hoặc là Y, tức áo), hàm nghĩa “khoác, mặc áo giáp”. Trong Mật Bộ nói đến ba mươi hai loại giáp trụ v.v… tức là đại thệ trang nghiêm trong Đại Phẩm Bát Nhã. Chữ Sa La trong tiếng Phạn, cõi này dịch là Lực. Kinh Ấm Trì Nhập dạy: “Bỉ lực, ưng dĩ hà vi nghĩa? Đáp: Vô năng hoại vi lực nghĩa. Hữu sở ích vi lực nghĩa. Hữu đảm vi lực nghĩa. Năng đắc y vi lực nghĩa” (Lực ấy nên có những ý nghĩa nào? Đáp: Chẳng thể hoại là ý nghĩa của Lực. Có lợi ích là ý nghĩa của Lực. Có can đảm là ý nghĩa của Lực. Có thể nương cậy được là ý nghĩa của Lực). Nay Địa Tạng từ lúc phát tâm ban đầu cho tới nay, chẳng bị thiên ma ngăn trở, phá hoại, đó là một lực. Luôn lợi ích chúng sanh, đấy là hai lực. Có tâm can đảm riêng giáo hóa địa ngục, đấy là ba lực. Có thể làm nơi nương tựa cho lục đạo, đó là bốn lực. Đấy chính là sức thệ nguyện vốn có của đức Địa Tạng, cho nên gọi là Bổn Thệ Lực Kinh.

3.2.3.1.1.2.2.2.1.3.2.2.2.2. Kết lưu bố (kết lại phần lưu thông, truyền bá)   

          (Kinh) Duyên thử Bồ Tát, cửu viễn kiếp lai, phát đại trọng nguyện, lợi ích chúng sanh. Thị cố nhữ đẳng, y nguyện lưu bố.

          ()緣此菩薩久遠劫來發大重願利益眾生。是故汝等依願流布。

          (Kinh: Do vị Bồ Tát này từ kiếp lâu xa đến nay, đã phát đại trọng nguyện lợi ích chúng sanh. Vì thế các ông hãy nên nương theo ý nguyện mà lưu thông, truyền bá).

          Điều này cho thấy danh hiệu Địa Tạng  cũng  do  bổn  nguyện  mà

lập. Do vì đại nguyện, cho nên lợi ích chúng sanh. Vì thế, các ông cũng nên nương theo bổn nguyện ấy mà lưu thông, truyền bá. Do đó, người kết tập kinh chỉ dùng Bổn Nguyện để đặt tựa đề kinh cũng là có thâm ý vậy!

3.2.3.1.1.2.2.2.2. Phổ Quảng lễ thoái (ngài Phổ Quảng làm lễ, lui ra)

 

          (Kinh) Phổ Quảng văn dĩ, hiệp chưởng, cung kính, tác lễ nhi thoái.

          ()普廣聞已合掌恭敬作禮而退。

          (Kinh: Ngài Phổ Quảng nghe xong, chắp tay, cung kính làm lễ, lui ra).

          Đối với hai chữ “cung kính”, thường thấy những vị giảng kinh không giảng tới, khiến cho những kẻ mạt học trong đời sau chẳng biết phải hiểu theo ý nghĩa nào! Nay tôi nêu đại lược cội gốc chế tạo chữ ấy, hòng [độc giả] thấy được trong ấy bao hàm ý nghĩa “tâm học”. Chữ Cung (viết theo lối cổ) thể hiện dáng vẻ của đức tánh Kính. Tay và vẻ mặt chủ yếu nhằm thể hiện sự cung kính. Vì thế, chữ Cung [viết theo lối cổ] thể hiện ý nghĩa hai tay giao nhau. Do mọi người trong lúc thông thường, tay buông lỏng, tâm lơi lỏng, thể hiện dáng vẻ lười nhác. Chắp tay lại, tâm ắt thâu liễm, thể hiện dáng vẻ trang trọng, trong ngoài ứng hợp. Chữ Cung viết theo lối thông tục do không biết chữ ấy đã chính là Tâm, lại còn thêm chữ Tâm (心) vào thành Cung (恭), tức là tâm có trong ngoài!

          Chữ Kính (敬) viết theo lối cổ, thể hiện sự duy nhất. Cổ nhân tập trung tinh thần để học. Chỉ kính cẩn bề ngoài thì dẫu gượng ép bề ngoài, do trong tâm lén lút dấy động [ý bất kính], sẽ chẳng thể duy trì được. Miệng nói kính trọng [mà tâm thật sự chẳng kính], hành vi ắt lười nhác, nói suông làm sao có thể chế ngự điều ác thật sự cho được! [Nếu hỏi] phải dốc sức như thế nào [để kính] ư? Thưa rằng, đừng quên, đừng giúp cho [ý bất kính] tăng trưởng. [Chữ Kính] do Cấp (𦰶, hành vi cực nghiêm túc) nhằm dạy [mọi người] đừng quên bẵng. Hễ lơi lỏng, sẽ chẳng có công dụng gì! Vừa mới cảm thấy hôn trầm, hãy nhanh chóng tự lay tỉnh. Vừa mới cảm thấy tán loạn, hãy nhanh chóng tự đoạn dứt. [Kế đó], chữ Cửu (久) nhằm dạy chớ giúp cho nó (tán loạn, hôn trầm) tăng trưởng. Hễ gấp rút, ắt sẽ bị bức bối, trong ngực như có vật gì gây nghẹn, huyết khí chẳng thoải mái, làm sao có thể duy trì lâu dài được? Tâm là chủ thể trong thân ta. Kính mà không yên định thì tâm ta tự làm chủ, cần gì phải mượn thêm một chữ Tâm nữa để đối trị cái tâm này. Dẫu đáng sợ, hãy chớ sợ; dẫu thong dong, chớ lơi là! Hãy giữ cho tâm miên mật, thiên đức lan truyền trọn khắp, tâm thường linh hoạt, chẳng chết cứng. Run sợ là dấy lòng kính, răn dè là giữ lòng kính, nể sợ là kính cẩn thận trọng, nghiêm túc là kính cẩn nghiêm nghị, hòa thuận là kính trọng sâu thẳm, khâm phục là kính trọng bậc thánh. Một đức tánh Kính mà có [các mức độ] sống sít, chín muồi, sâu, cạn; đấy chính là uyên nguyên của thánh học, xét suy tâm họa (cách viết chữ theo ý nghĩa của tâm) của cổ nhân, bèn biết đấy là tâm học. Há có nên coi đó là cái học văn tự suông, chướng ngại tánh linh, bế tắc ngộ môn, rốt cuộc chẳng thấu đạt cái tâm! Nào có biết Tự Học (môn học nghiên cứu về chữ) quả thật đã bao hàm cả tánh linh, mở toang cửa ngộ. Vì thế, tôi nêu ra đại lược, đừng chê là tôi ưa chuộng bơi móc những thứ ngấm ngầm, ẩn kín để khoe khoang khác lạ vậy!

 

Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú

(Phần 5)

Hết

 

» Chú thích:

[1] Phục đạo (伏道), còn gọi là Năng Phục Đạo, là địa vị có thể chế ngự hữu lậu hiện hành gây chướng ngại. Đoạn Đạo (斷道) đã hoàn toàn đoạn trừ các nghiệp chướng hữu lậu, vô lậu, cũng như tập khí.

[2] Tam Pháp Độ Luận là bộ luận của phái Khả Trụ Tử Bộ (còn gọi là Độc Tử Bộ, Vātsīputrīya, một bộ phái Phật giáo của Thượng Tọa Bộ). Bộ luận này được ngài Cù Đàm Tăng Già Đề Bà dịch sang tiếng Hán vào thời Đông Tấn.

[3] Đấy là nói y phục thời đức Phật tại thế: Chư tăng sau khi đã đắp y, dùng một mảnh vải dài hẹp làm đai lưng bó chặt cho y khỏi tuột, gọi là Kushalaka. Ngoài ra còn có đai lưng giữ cho chiếc xà rông ở phía dưới khỏi tuột, gọi là Samakaksika. Hiện thời, khi không đắp y theo kiểu hở vai phải, chư Tăng các nước theo Phật giáo Nam Truyền như Thái, Miến, Lào v.v… vẫn thường thắt đai lưng Kushalaka ra ngoài y ca-sa.

[4] Chi Đề (Caitya) còn được phiên âm là Chi Đề, Chi Đà, Chỉ Đế, Chế Đa, Chế Để, Chế Để Da, có nghĩa đen là “tích tập”. Lúc đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, các đệ tử chất gỗ thơm thành đống lớn để trà-tỳ (hỏa thiêu), gọi là Chi Đề. Do vậy về sau, các tháp miếu hoặc gò đống để thờ phụng, kỷ niệm Phật, đều được gọi là Chi Đề; cho đến các loại khám thờ đục vào đá để thờ Phật cũng gọi là Chi Đề. Luật Ma Ha Tăng Kỳ quy định, hễ có xá-lợi thờ trong ấy thì gọi là Tháp (Stūpa), không có thì gọi là Chi Đề. Nhưng về sau, hai danh từ này được sử dụng lẫn lộn. Tứ Chi Đề chính là bốn nơi có tháp miếu kỷ niệm nơi đức Phật giáng sanh, thành đạo, chuyển pháp luân, và nhập Niết Bàn.

[5] Tăng Hộ (Saṃgharakṣita) là một đệ tử của ngài Xá Lợi Phất. Theo kinh Nhân Duyên Tăng Hộ, trước khi xuất gia, Tăng Hộ từng cùng năm trăm thương nhân vào biển cả. Trên đường trở về, bị lạc mất đồng bạn, bèn đi một mình. Ở bờ biển, ông từng trông thấy năm trăm cảnh địa ngục, bèn thưa hỏi đức Phật. Đức Phật giải đáp từng cảnh và nêu rõ nhân duyên vì sao chúng sanh thọ khổ trong ấy.

[6] Dã can (野干): Theo kinh Phật, dã can là loài cáo hoang hoặc chó rừng, hình dáng xấu xí, thân thể hôi thối, hình dáng giống cáo, màu lông xanh lẫn vàng, thường kéo thành bầy như chó rừng, tối đến tru như chó sói, ăn các loài thịt thối rữa. Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng Dã Can là một loại Hyena (linh cẩu đốm). Loài này rất hung bạo, không chỉ ăn xác chết, mà còn săn bắt mồi, hung bạo, đôi khi bắt nạt cả sư tử nếu chúng đông hơn về số lượng. Tiếng kêu của chúng nghe như tiếng người cười cuồng loạn, nên người Anh thường gọi chúng là Laughing Hyena.

[7] Từ điển Khang Hy giải thích Tật Lê là Thiết Qua (鐵撾). Qua là một loại vũ khí có cán, đầu cán gắn móc như vuốt  chim, hoặc  như  hình  bàn  tay  người, đúc  bằng  sắt

luyện, có các ngón quặp xuống, vừa có tác dụng tấn công (móc, đập), vừa để chụp bắt, khóa kín vũ khí của đối phương, nhất là đối với các loại vũ khí dài như thương, giáo, kích v.v…

[8] La là con vật lai giữa lừa và ngựa.

[9] Tứ tánh của mỗi pháp:

  1. Tự tánh: Như so đo một niệm tâm sanh từ các căn của chính mình.
  2. Tha tánh: So đo một niệm tâm sanh từ các trần.
  3. Cộng tánh: Chấp trước niệm tâm do căn và trần cùng sanh ra.
  4. Ly tánh: Chấp trước tâm niệm chẳng sanh từ căn và trần.

Nói chung, đây là sự suy lường chấp trước dựa theo căn và cảnh.

[10] Từ bi phổ, hoằng thệ phổ, tu hành phổ, đoạn hoặc phổ, nhập pháp môn phổ, thần thông phổ, phương tiện phổ, thuyết pháp phổ, cúng dường chư Phật phổ, thành tựu chúng sanh phổ.

[11] Hồng Phạm (洪範, khuôn phép lớn lao) là một thiên sách trong Thượng Thư (tức kinh Thư). Nội dung của thiên sách này là những lời khuyên dạy của Cơ Tử dành cho Châu Vũ Vương (Cơ Phát) về đại pháp trong trời đất. Về sau, sách Hán Thư đặt ra truyền thuyết: Khi Đại Vũ trị thủy, trời cao đã truyền cho vua thiên sách Hồng Phạm dùng làm cương lãnh cai trị. Cơ Tử tên thật là Tử Tư Dư, thuộc hoàng tộc nhà Thương (tức là con của Đế Văn Đinh), là chú của Đế Tân (Trụ Vương). Ông từng giữ chức Thái Sư, được phong ở đất Cơ (nay là huyện Thái Cốc tỉnh Sơn Tây), nên Sử thường gọi là ông là Cơ Tử. Ông từng khuyên can vua Trụ chăm lo triều chánh, đừng mê đắm dục lạc, nhưng bị Trụ vương cầm tù, phải giả điên để tránh họa sát thân. Khi Châu Vũ Vương phạt Trụ, Châu Vũ Vương đã đón ông về hỏi đạo trị quốc.

[12] Ngũ Luân là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, và Không (hư không). Khi đảnh lễ, do năm nơi đều áp sát đất, tức trán, hai bàn tay, hai gối áp sát đất, biểu thị Ngũ Luân không tịch, tâm địa bình đẳng, nhẫn nại như đất.

[13] Quang Trạch (467-529) là một vị Tăng thời Nam Triều, pháp hiệu là Pháp Vân, do trụ trì chùa Quang Trạch ở Giang Tô, nên thường gọi là Quang Trạch. Sư giỏi giảng kinh Pháp Hoa, có soạn bộ Pháp Hoa Kinh Nghĩa Ký, hay còn gọi là Quang Trạch Sớ. Những lời phê phán trên đây đều do ngài Linh Thừa trích từ sách Pháp Hoa Văn Cú của tổ Trí Giả.

[14] Chân Cang (真剛) là tên một thanh bảo kiếm thời cổ. Theo truyền thuyết, vua nước Việt là Câu Tiễn đã dùng ngựa trắng và trâu trắng tế thần núi Côn Ngô, sai người lấy sắt từ núi đó, đúc thành tám thanh kiếm báu: Yểm Nhật, Đoạn Thủy, Chuyển Phách, Huyền Tiễn, Kinh Nghê, Diệt Hồn, Khước Tà, và Chân Cang. Về sau, từ ngữ này (Chân Cang) thường được dùng để chỉ những thứ tinh luyện, sắc bén vô song. Vì lẽ đó, khi Triệu Cao thao túng chánh quyền nhà Tần sau khi Tần Thủy Hoàng chết, đã lập ra một đội sát thủ (gọi là Lục Kiếm Nô), dùng Chân Cang để đặt tên cho một thủ lãnh của bọn sát thủ này.

[15] Do ngài Kinh Khê Trạm Nhiên (tổ thứ sáu của tông Thiên Thai) trụ tích tại chùa Diệu Lạc ở Thường Châu để giảng kinh Pháp Hoa, nên người thời ấy gọi Ngài là Diệu Lạc đại sư. Những câu nói của Ngài khi được ghi là “Diệu Lạc nói” trong suốt bộ Khoa Chú này đều trích từ bộ Pháp Hoa Văn Cú Ký của Ngài.

[16] Hư Không Khố Tạng, tức là Hư Không Tạng Bồ Tát (Ākāśagarbha), còn được dịch là Hư Không Dựng, Hư Không Quang v.v… Mật hiệu là Khố Tạng Kim Cang, là một trong tám vị đại Bồ Tát được tôn sùng nhất trong Phật giáo Đại Thừa (Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Kim Cang Thủ (hoặc Đại Thế Chí), Hư Không Tạng, Địa Tạng, Di Lặc, và Trừ Cái Chướng). Ngài biểu thị trí huệ, công đức và của cải vô lượng như hư không. Ngài thường được tạc tượng như sau: Thân có màu chất báu, đầu đội mũ báu Ngũ Phật. Tay phải cầm huệ kiếm báu tỏa đủ màu. Tay trái đặt cạnh hông, cầm hoa sen báu. Trên hoa có Như Ý bảo châu. Trong Thai Tạng Giới Mạn Đà La, Ngài có một viện riêng gọi là Hư Không Tạng Viện, và làm tôn chủ của viện ấy. Còn trong Kim Cang Giới Mạn Đà La, Ngài được gọi là Kim Cang Tràng Bồ Tát.

[17] Tằng Thái chỉ có nghĩa là các loại lụa, hay the lượt năm màu, dùng dâng cúng. Do trong các tự viện, nhất là tự viện của Tây Tạng, họ thường dùng lụa thêu hoa văn có năm màu, kết thành những chiếc lọng dài, có nhiều lớp may nhún lại, mỗi lớp một màu, nên chúng tôi tạm dịch là “lọng lụa”.

[18] Mô Mẫu (嫫母) là thứ phi của Hiên Viên Hoàng Đế. Bà là người cực xấu thời đó, Sử chép bà trán dồ, mũi gẫy, béo phục phịch, da đen như sơn, nhưng tột bậc hiền huệ. Khi nguyên phi là Luy Tổ bệnh nặng qua đời, Hoàng Đế cử bà chưởng quản hậu cung, trông nom việc tế tự.

Vô Diêm Nữ là Chung Ly Xuân, còn gọi là Chung Vô Diệm (鍾無艷), quê ở Vô Diêm (無鹽, nay là thôn Vô Diêm, huyện Bình, tỉnh Sơn Đông). Sử chép bà cực xấu xí, trán lồi, xương to, thân thể cục mịch, to lớn như đàn ông, mũi huếch, bụng phệ, hầu lộ, tóc thưa thớt, da đen kịt, bốn mươi tuổi vẫn chưa lấy chồng. Về sau, bà đến ra mắt Tề Tuyên Vương (Điền Tích Cương), vạch ra bốn điều đáng lo ngại cho nước Tề, khiến Tề Tuyên Vương tỉnh ngộ, bãi bỏ nữ nhạc, đuổi bọn quan lại xua nịnh, nghe lời can gián, huấn luyện binh mã, tiết kiệm quốc khố. Vua bèn lập bà thành vương hậu, dùng bà làm cố vấn trị quốc. Đến đời Nguyên, Trịnh Quang Tổ là một nhà soạn hý khúc (tuồng hát), đã soạn tuồng Xú Nữ Tề Hậu Vô Diêm Liên Hoàn, tô vẽ bà như một người văn võ toàn tài, vốn là tiên nữ mắc đọa mà mang hình dáng xấu xí, trực tiếp cầm binh đánh dẹp các nước chư hầu đối nghịch, khiến cho Tề Tuyên Vương trở thành bá chủ chư hầu thời đó.

[19] Nguyên Huân (元勳) là danh từ khác để gọi các bậc khai quốc công thần, hoặc những người có công lao rất lớn đối với vương triều.

A Hành (阿衡): Vốn là một chức quan được lập ra từ đời Thương, có vai trò kiêm nhiệm cả Thái Sư lẫn Thái Bảo. Về sau, A Hành được dùng dể chỉ các vị cố vấn cao cấp của nhà vua hoặc Tể Tướng.

[20] Ngài Lặc Na Tam Tạng (Ratnamati) do thấy dân chúng ở phương Bắc không có thói quen lễ Phật, bèn chỉ ra bảy loại lễ:

  1. Ngã mạn lễ: Thân tuy lễ bái, chẳng có tâm cung kính, bề ngoài ra vẻ cung kính, trong tâm ngã mạn.
  2. Cầu danh lễ: Muốn có được tiếng thơm là người tu hành siêng năng, giả dối hiện oai nghi lễ bái.
  3. Thân tâm lễ: Miệng niệm danh hiệu Phật, tâm tưởng tướng hảo, công đức của Phật, thân cung kính hành lễ, không có niệm nào khác.
  4. Trí tịnh lễ: Huệ tâm sáng suốt, nhạy bén, đạt tới cảnh giới của Phật, trong tâm thanh tịnh, rỗng rang, vô ngại. Khi lễ một vị Phật chính là lễ hết thảy chư Phật trong mười phương pháp giới.
  5. Biến nhập pháp giới lễ: Các pháp như thân, tâm, đều chẳng lìa pháp giới sẵn có. Lễ một lễ bèn trọn khắp pháp giới. Tâm ta chẳng lìa Phật, tánh tướng bình đẳng, vốn chẳng có tăng hay giảm.
  6. Chánh quán tu thành lễ: Tuy nhiếp tâm nơi chánh niệm, lễ thân Phật chẳng khác lễ thân chính mình, thấy hết thảy chúng sanh có Phật tánh bình đẳng với Phật. Hiểu rõ lý chúng sanh và Phật bình đẳng, chỉ do mê hay giác mà sai khác.
  7. Thật Tướng bình đẳng lễ: Cách lễ trên đây còn có lễ và quán tách rời, tự và tha khác biệt; còn trong cách lễ này chẳng có tự lẫn tha, phàm và thánh như một, Thể và Dụng bất nhị v.v…

[21] Hàm Trì (咸池) vốn là nơi mặt trời lặn xuống theo thần thoại cổ Trung Hoa. Do đó khi vua mất, cũng gọi là “hàm trì”. Nhưng Trịnh Huyền chú giải Hàm Trì ở đây là một khúc nhạc do Hoàng Đế đặt ra. Về sau, vua Nghiêu có tăng bổ thêm.

[22] Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải của từ điển trực tuyến Baidu.

[23] Đế Tuấn (帝俊) là vua cõi trời thời thượng cổ trong thần thoại Trung Hoa. Đế Tuấn và vợ là Hy Hòa (羲和) đẻ ra mười mặt trời, cùng với vợ lẽ là Thường Hy (常羲) đẻ ra mười hai mặt trăng. Mười mặt trời chính là mười con quạ vàng ba chân. Theo các nhà nghiên cứu, Đế Tuấn chính là thị tộc tổ của các sắc dân Đông Di và Bách Việt (nói cách khác, Đế Tuấn là nhân cách hóa của chim thiêng, vật tổ của các dân tộc ấy). Đế Tuấn lại còn sanh ra Hắc Xỉ (răng đen), U Cốc (hang tối), Đế Điểu, Yến Long v.v… Những người này trở thành thỉ tổ của các quốc gia tương ứng.

[24] Ngũ Thanh là năm âm, tức năm notes nhạc cơ bản: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Bát âm là âm thanh từ các nhạc khí được phân loại dựa theo chất liệu:

– Kim là các nhạc khí chế bằng kim loại như biện chung (dàn chuông), não bạt, thanh la, cồng, chiêng, khánh, lục lạc v.v…

– Thạch là các nhạc khí bằng đá hoặc phần chính yếu để phát ra âm thanh bằng đá như biện khánh…

– Thổ: Nhạc khí làm bằng đất như huân (sáo đất, ocarina), phẫu…

– Cách: Nhạc khí có màng rung bằng da như các loại trống.

– Ty: Nhạc khí dùng dây như các loại đàn nhị, đàn tranh, cổ cầm, không hầu (harp) v.v…

– Mộc: Nhạc khí bằng gỗ như mõ, phách, ngữ (có hình dáng hổ, hay kỳ lân, trên lưng có nhiều mấu nổi lên, người diễn tấu dùng thanh gỗ chà lên để phát ra âm thanh soàn soạt) v.v…

– Bào: Các loại nhạc khí dùng quả bầu làm phần cộng hưởng như sênh, vu (loại sênh lớn), hồ lô ty v.v…

– Trúc: Các nhạc cụ làm bằng tre như tiêu, địch, quản, trì v.v…

[25] Ba Ty Dạ (Pāpīyas), hoặc còn viết là Pāpman, Pāpimant, còn phiên âm là Ba Tỳ Duyện, Ba Duyên, Ba Bệ, Ba Tỵ, Ba Tỳ, Ba Ty Diện, tức là thiên ma Ba Tuần, hay Ma Vương.

[26] Cửu Kết (九結) là chín thứ phiền não thắt chặt, cuốn trói chúng sanh, tức là Ái, Sân, Mạn, Vô Minh, Kiến (kiến giải thiên lệch), Thủ (chấp giữ), Nghi, Tật (ghen ghét), Xan (keo kiệt).

[27] Mleccha (còn phiên âm là Miệt Lệ Xa, Di Ly Xa, Mật Lợi Xa, Tất Lật Xa, Di Lợi Xa) nghĩa gốc là “kẻ dã man, mọi rợ”, chỉ các sắc dân chưa được khai hóa, thiếu văn minh. Về sau, từ ngữ này thường được dùng để chỉ những kẻ ở biên địa tức những vùng xa xôi, không văn minh. Nghĩa thứ hai là chỉ những sắc dân man rợ xâm nhập Ấn Độ, phá hoại văn hóa tôn giáo của Ấn Độ như các sắc dân Ả Rập, Đột Quyết, hoặc những người theo Hồi giáo tàn phá, hủy hoại các chùa tháp của Ấn Độ giáo và Phật giáo, hoặc nói rộng hơn thì là những kẻ ỷ vào sức mạnh phá hoại Phật pháp.

[28] Lục phủ: Còn gọi là Lục Tạng, tức ruột già, ruột non, bao tử, bàng quang, tam tiêu, và mật, tương ứng với ngũ tạng (gan, tim, tỳ (lá lách), phổi, và thận). Theo Trung Y, ngũ tạng là Âm, lục phủ là Dương; ngũ tạng tương ứng ngũ hành, còn lục phủ tương ứng với lục tình (mừng, giận, thích, ghét, buồn, vui).

[29] Luận Hành (論衡) là trước tác trọng yếu của tư tưởng gia Vương Sung thời Đông Hán, gồm mười ba quyển, tám mươi lăm thiên, chủ yếu diễn thuật quan điểm vô thần luận của tác giả, nhằm phản đối sự sùng bái đối với các thể loại sấm vĩ (sách tiên đoán, sấm giảng) và các thứ phương thuật thần bí bói toán, bùa chú, cầu khẩn quỷ thần đương thời.

[30] Theo Trung Y, Ngũ Lao là năm chứng tổn thương do mệt nhọc quá sức: Nhìn quá lâu sẽ tổn thương huyết, nằm quá lâu sẽ tổn thuơng khí, ngồi quá lâu sẽ tổn thương thịt, đứng quá lâu sẽ tổn thương xương, đi quá lâu sẽ tổn thương gân. Thất Thương là ăn quá no sẽ tổn thương tỳ (lá lách), giận dữ sẽ tổn thương gan, nâng vật nặng quá sức hoặc ngồi quá lâu nơi ẩm thấp sẽ tổn thương thận, uống đồ lạnh sẽ tổn thương phổi, ưu sầu sẽ tổn thương tim, dầm mưa dãi gió, nhiễm nóng lạnh sẽ tổn thương thân hình, hoảng sợ sẽ tổn thương chí. Nói tổng quát, ngũ lao thất thương là từ ngữ phiếm chỉ tất cả các tác nhân gây bệnh.

[31] Ngũ Âm Chú Trớ là một thuyết trong Đạo giáo, theo đó, kẻ ác ở nơi miếu thờ tà thần, dùng giấy vàng và châu sa viết tên họ năm, tháng, ngày, giờ của người hắn tính nguyền rủa, rồi nguyền rủa độc địa, phun nước lên, sau đó giẫm đạp dưới chân, nguyền cho người ấy mắc đủ loại tai ương. Do tính theo ngũ phương nên gọi là Ngũ Âm Chú Trớ (nguyền rủa theo năm âm thanh). Do đó, trong Đạo giáo có riêng một bộ kinh là Thái Thượng Lão Quân Thuyết Giải Thích Chú Trớ Kinh để dạy cách hóa giải tà thuật này. Ở đây, ngài Linh Thừa chỉ mượn cách nói này để sánh ví bệnh nhân đang bị cừu gia oán đối kiện cáo trong âm ty.

[32] Chiêu Đề (Caturdeśa) có nghĩa gốc là “bốn phương”. Vật cúng thí cho tứ phương Tăng được gọi là Chiêu Đề Tăng Vật. Ở đây, Chiêu Đề được dùng với nghĩa Chiêu Đề Tăng (chư tăng bốn phương).

[33] Tôn Chân Nhân là Tôn Tư Mạo (541-682) là một đạo sĩ kiêm thầy thuốc trứ danh đời Đường, có mỹ hiệu là Dược Vương. Về sau, ông được Đạo giáo tôn làm thần chủ

quản y dược với thánh hiệu là Thiên Y Diệu Ứng Quảng Viện Thiện Tế Chân Quân. Ông tinh thông học thuyết của Bách Gia Chư Tử, kiêm cả hai nhà Đạo và Phật. Các đời vua Châu Tuyên Đế, Châu Tĩnh Đế, Tùy Văn Đế, Đường Cao Tông đều dùng chức tước, tiền bạc khuyến dụ ông làm ngự y, nhưng ông đều uyển chuyển từ chối. Chỉ riêng Đường Thái Tông được ông làm ngự y một thời gian ngắn rồi cáo bệnh về ẩn cư.

[34] Đông Lai Lữ Thị là Lữ Tổ Khiêm (1137-1181), tự là Bá Cung. Do họ Lữ là một danh gia vọng tộc ở quận Đông Lai (nay thuộc vùng Yên Đài và Oai Hải tỉnh Sơn Đông), nên ông thường được gọi là Đông Lai tiên sinh. Ông là một triết gia và giáo dục gia nổi tiếng đời Nam Tống, là cháu tám đời của danh thần Lữ Mông Chánh. Tư tưởng của ông tạo nên học phái Lữ Học (còn gọi là Vụ Học vì quê ông ở Vụ Châu). Ông được coi là nhân vật đại biểu cho Kim Hoa học phái thời ấy.

[35] “Hư thực” là danh từ Trung Y dùng để phân loại bệnh tật. “Âm Dương, hàn nhiệt, hư thực, biểu lý” được gọi là “trị bệnh bát tự” (tám chữ để trị bệnh). Hư là chánh khí trong thân thể quá yếu, không đủ, còn Thực là tà khí quá nhiều, quá thịnh. Nói cách khác, khi các hoạt động sinh lý bình thường của mỗi bộ phận trong thân thể suy giảm, trục trặc thì gọi là hư chứng. Khi tà khí quá thịnh hoặc chánh khí không hiển lộ rõ rệt thì gọi là thực chứng. Biểu hiện thường thấy của hư chứng là sắc mặt xanh xao, trắng bệch, thân thể mỏi mệt, ủ rũ, đổ mồ hôi trộm, tay chân lạnh, vô lực, hơi thở ngắn, yếu ớt, phân lỏng, bí tiểu tiện, mạch yếu v.v… Thực chứng ho ra đàm, huyết đọng dưới da, nóng nảy, bứt rứt, bụng trướng, cáu kỉnh, thở phì phò, đàm dãi quá nhiều, lưỡi đầy bợn v.v…

[36] Trong A Di Đà Kinh Sớ Sao, tổ Liên Trì có nói: Ở Bắc Câu Lô Châu (Uất Đan Việt), mẹ thọ thai xong bèn sanh con dưới gốc cây. Sanh xong, bỏ đi không nhìn tới nữa. Người qua đường giơ ngón tay liền phun ra sữa nuôi cho đứa trẻ lớn lên.

[37] Mười lăm quỷ thần não loạn trẻ con thường du hành trong thế gian theo kinh Thủ Hộ Chư Đồng Tử và kinh Thủ Hộ Đại Thiên Quốc Độ là: Di Thù Ca (Mañjuka), Di Ca Vương (Mrgarāja), Khiên Đà (Skanda), A Ba Tất Ma La (Apasmāra), Mâu Trí Ca (Mustikā), Ma Trí Ca (Mātrikā), Diêm Di Ca (Jāmikā), Ca Di Ni (Kāminī), Lê Bà Đê (Revatī), Phú Đa Na (Pūtana), Mạn Đa Nan Đề (Mātrnāndā), Xá Cứu Ni (Śakunī), Càn Trá Bà Ni (Kanthapaninī), Mục Khư Mạn Trà (Mukhamanditikā), và Lam Bà (Ālambā).

[38] Bạch Nguyệt (Śuklapakṣa) là cách tính lịch của Ấn Độ, từ ngày mồng Một (trăng non) cho đến ngày Rằm trăng tròn gọi là Bạch Nguyệt. Từ ngày Mười Sáu trở đi cho đến ngày cuối tháng (không có trăng) gọi là Hắc Nguyệt (Kṛṣṇapakṣa).

[39] Thập Trực Nhật chính là Thập Trai Nhật vừa nói. Kể từ đời Đường, chính quyền đã hạ lệnh: Trong mười trai nhật, nghiêm cấm tử hình tội nhân, giết mổ động vật, và đánh bắt cá. Ngoài ra, trong ba tháng trường trai (tháng Giêng, tháng Năm, và tháng Chín) cấm các hành vi giết chóc như tử hình, giết mổ động vật.

[40] Chúng tôi dịch câu này theo cách giải thích của Kiều Chánh Nhất trong bản bạch thoại của bộ Pháp Cú Thí Dụ Kinh, phẩm Đao Trượng.

[41] Tức là quỳ một chân, ngẩng thẳng đầu, thẳng lưng, đầu gối trái dựng thẳng lên, lòng bàn chân trái áp đất. Cách quỳ này biểu thị ý tuân phục, sẵn sàng đứng lên thực hiện việc được giao phó.

File đính kèm

STT Tên File Tải xuống
1 File Word: Địa Tạng Khoa Chú (Toàn Tập) Xem File

Tin liên quan