Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú (Phần 4)

 

Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú

(Phần 4)

地藏菩薩本願經科注

Đường Tam Tạng sa-môn Thật Xoa Nan Đà dịch kinh

唐三藏沙門實叉難陀譯

Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa soạn

古鹽匡菴青蓮苾芻靈椉父輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

(theo bản in tháng Bảy năm 2017

của Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội, Đài Loan)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

3.2.2.2. Thị nghiệp cảm sai biệt (chỉ dạy nghiệp cảm sai khác)

3.2.2.2.1. Phẩm đề (tựa đề của phẩm kinh này)

 

          (Kinh) Diêm Phù chúng sanh nghiệp cảm, phẩm đt.

          ()閻浮眾生業感品第四

          (Kinh: Phẩm thứ tư: Nghiệp cảm chúng sanh trong Diêm Phù).

          [Ý nghĩa của] đề mục phẩm này xem trong phần Luân Quán. Cây Diêm Phù chính là thụ vương (樹王, cây chúa) trong Nam Châu (Nam Thiệm Bộ Châu). Vì thế, tôi ghi ra đầy đủ những điều đã khảo cứu được để độc giả xem xét. Kinh Trường A Hàm nói: “Sở dĩ danh Diêm Phù giả, hạ hữu Kim Sơn, cao tam thập do-tuần. Do Diêm Phù thụ cố, danh vi Diêm Phù kim. Thụ hữu ngũ đại cô, tứ diện tứ cô, thượng hữu nhất cô. Quả đại như Ma Già Đà quốc nhất hộc chi ung. Trích kỳ quả thời, trấp tùy lưu xuất, sắc bạch như nhũ, vị cam như mật. Kỳ Đông cô quả, Càn Thát Bà sở thực. Kỳ Nam cô giả, thất quốc nhân sở thực. Nhất Câu Lâu (thử vân Bất Chánh Khiếu), nhị Câu La Bà (vân Khiếu Hoán), tam Tỳ Đề (vân Bất Chánh Thể), tứ Thiện Tỳ Đề (vân Hiền), ngũ Mạn Đà (vân Thiện Hiền), lục Bà La (vân Lao), thất Bà Lê (vân Thắng). Tây cô quả, hải trùng sở thực. Bắc cô quả, cầm thú sở thực. Thượng cô quả, tinh tú thiên sở thực” (Sở dĩ gọi là Diêm Phù vì phía dưới có Kim Sơn, cao ba mươi do-tuần. Do cây Diêm Phù, mà gọi tên là vàng Diêm Phù. Cây có năm nhánh lớn, bốn phía là bốn nhánh, phía trên có một nhánh. Quả to như cái vò có thể chứa được một hộc của nước Ma Già Đà (Maghada, Ma Kiệt Đà). Khi hái quả ấy, nhựa cây sẽ chảy ra thành dòng, màu trắng như sữa, vị ngọt như mật. Quả nơi nhánh phía Đông do Càn Thát Bà ăn. Nhánh phía Nam dành cho người trong bảy nước ăn, một là Câu Lâu (cõi này dịch là Bất Chánh Khiếu), hai là Câu La Bà (dịch là Khiếu Hoán), ba là Tỳ Đề (dịch là Bất Chánh Thể), bốn là Thiện Tỳ Đề (dịch là Hiền), năm là Mạn Đà (dịch là Thiện Hiền), sáu là Bà La (dịch là Lao), bảy là Bà Lê (dịch là Thắng). Quả của nhánh phía Tây để cho hải trùng ăn. Quả nơi nhánh phía Bắc dành cho chim, thú ăn. Quả nơi nhánh phía trên dành cho tinh tú thiên ăn).

          Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Diêm Phù Đề quả, vô dĩ vi thí. Kỳ hình đoàn viên, mãn bán do-tuần. Bà-la-môn thực, tức đắc tiên đạo, ngũ thông cụ túc, thọ mạng nhất kiếp. Phàm phu thực chi, đắc tứ Sa-môn quả, tam minh, lục thông vô bất tất bị” (Quả Diêm Phù Đề chẳng thứ gì có thể sánh ví được. Hình dạng của nó tròn trặn, to bằng nửa do-tuần. Bà-la-môn ăn vào liền đạt được tiên đạo, trọn đủ Ngũ Thông, thọ mạng một kiếp. Phàm phu ăn vào liền đắc tứ quả Sa-môn (Tứ Quả của Thanh Văn), tam minh, lục thông không gì chẳng đều trọn đủ). Lập Thế A Tỳ Đàm Luận nói: “Cây này sanh ở rìa Bắc cõi đất Diêm Phù Đề, bên bờ Nam của sông Nê Dân Đà La (Nimiṁdhara). Cội chính của cây ấy nằm ở chính giữa Nam châu. Từ chính giữa của cội cây, khoảng cách giữa hai góc Đông và Tây là một ngàn do-tuần. Cây sanh trưởng hoàn chỉnh, hình dạng đáng yêu. Lá che rợp cành, lâu ngày chẳng rụng; lần lượt che phủ, cao một trăm do-tuần. Phần dưới gốc to thẳng, trọn chẳng có mấu đốt. [Tính từ gốc lên cao] năm mươi do-tuần, mới có cành, nhánh. Thân cây có đường kính là năm do-tuần, chu vi là mười lăm do-tuần. Cành xòe ngang ra [mỗi phía] rộng năm mươi do-tuần. Đường kính ở chính giữa cây là một trăm do-tuần, chu vi là ba trăm do-tuần. Quả của nó ngon ngọt khôn sánh. Hạt của nó to như hạt cây Diêm Phù trong thế gian[1]. Phía trên có hình chim thú. Rễ của nó được phủ bằng kim sa (cát bằng vàng). [Ở dưới tán cây Diêm Phù], mưa Xuân chẳng dột nước, mùa Hè chẳng nóng, mùa Đông chẳng có gió lạnh. Thần Càn Thát Bà và Dược Xoa nương vào cây để ở”.

          Cái tên Uế Thụ của cây này đã được giải thích đại lược trong phần trước. Nay giải thích thêm. Lập Thế Luận nói: “Một người nương vào thần thông, muốn đến chỗ cây Diêm Phù Đề, liền tạ từ đức Phật, đi theo hướng Bắc, đi qua bảy rặng núi. Tới bên rặng Kim Sơn thứ bảy, lên đỉnh núi, hướng về phía Bắc, vươn mình nhìn ra xa, chỉ thấy tối đen, bèn sợ hãi quay về. Đức Phật bảo: ‘Chỗ hắc ám ấy chính là cây Diêm Phù (ở đây coi hắc ám là Uế). Lại nữa, mùi thơm của quả ấy có thể làm tâm người ta bị nhiễm, trở thành điên cuồng (đấy là coi ô nhiễm là Uế)”.

          Kinh Trường A Hàm nói: “Hà duyên nguyệt hữu hắc ảnh? Do Diêm Phù thụ ảnh, tại ư nguyệt trung, cố nguyệt hữu ảnh, khởi phi nguyệt cung bổn tự quang minh, nhân thụ cố hiện hắc ảnh” (Vì sao mặt trăng có bóng đen? Do bóng cây Diêm Phù in giữa mặt trăng, cho nên mặt trăng có bóng, há chẳng phải là nguyệt cung vốn có quang minh, do cây [Diêm Phù soi vào] mà hiện bóng đen”), cái tên Uế Thụ há chẳng phải là do nói theo nghĩa này ư? Nay dựa theo hai cách giải thích trên đây ngõ hầu chẳng bị sai lạc! Vì thế, chép tường tận ra, mong chư hiền chứng biết!

 

3.2.2.2.2. Phẩm văn (kinh văn thuộc phẩm này)

3.2.2.2.2.1. Địa Tạng trùng thuật phó chúc (Địa Tạng nhắc lại lời phó chúc)

3.2.2.2.2.1.1. Đại sĩ thuật sự (Đại sĩ thuật chuyện)

3.2.2.2.2.1.1.1. Thuật (trần thuật)

3.2.2.2.2.1.1.1.1. Tích thừa Phật lực phân hóa (xưa kia đã nhờ Phật lực mà phân thân hóa độ)

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngã thừa Phật Như Lai oai thần lực cố, biến bách thiên vạn ức thế giới, phân thị thân hình, cứu bạt nhất thiết nghiệp báo chúng sanh”.

          ()爾時地藏菩薩摩訶薩白佛言世尊我承佛如來威神力故徧百千萬億世界分是身形救拔一切業報眾生。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch với đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con nương vào sức oai thần của Phật, phân thân hình trọn khắp trăm ngàn vạn ức thế giới để cứu vớt hết thảy chúng sanh nghiệp báo”).

          Khi thánh mẫu vừa hỏi về địa ngục Vô Gián xong, ngài Địa Tạng lại trần thuật [chuyện độ sanh]. Ấy là vì chuyện phó chúc trước đó chưa xong, thế mà thánh mẫu đã hỏi ngay chuyện quả báo trong địa ngục, đúng là chỉ xâu vào kim, liên kết khít khao, nay [kinh văn] lại trần thuật [chuyện độ sanh] hòng nghĩa lý đừng bị gộp chung sai lạc. Đức Thế Tôn lại dạy rằng “[chúng sanh] tánh thức vô định, đến nỗi luân chuyển trong năm đường”, sẽ càng thấy ý nghĩa liên kết với phần nghiệp cảm Vô Gián trong đoạn kinh văn trước đó. Vì thế, hai phẩm này móc vào nhau như mắt xích, chẳng thể đứt lìa được! Do đó, sau phần Nghiệp Duyên, trước phần Nghiệp Cảm, bèn trần thuật [chuyện hóa độ] nhằm phát khởi phần kinh văn tiếp theo. Trước hết, [Địa Tạng Bồ Tát] trần thuật: Con cậy vào Phật lực mà phân thân. “Oai” (威) là Tứ Vô Úy[2]. “Thần” (神) chính là Lục Thần Thông. “Lực” (力) chính là Thập Lực. Trí Thập Lực của đức Phật sung mãn bên trong, cho nên đối trước ngoại duyên chẳng kinh sợ, rộng phát khởi thần thông hóa độ chúng sanh. Đấy là pháp của chư Phật, chứ Bồ Tát chưa đắc. Nay [hàng Bồ Tát] cũng có thể phân thân trong các cõi nhiều như cát, đều là do Từ lực của Như Lai ban cho, chẳng phải do khả năng của chính mình. Vì thế nói là “ngã thừa” (con nương vào). Nhưng phân thân cứu vớt chúng sanh chính là Đồng Sự Nhiếp trong Tứ Nhiếp. Do Pháp Nhãn của Bồ Tát mà thấy rõ căn duyên của chúng sanh, hễ có người cùng ưa thích, bèn phân hình tán ảnh (phân thân), hòa quang trọn khắp, cùng làm những sự nghiệp giống như họ, khiến cho ai nấy đều nhuần thấm lợi ích. Do cái nhân là sanh tâm thân ái, cho nên có thể cứu bạt nghiệp báo.

 

          (Kinh) Nhược phi Như Lai đại từ lực cố, tức bất năng tác như thị biến hóa.

          ()若非如來大慈力故即不能作如是變化。

          (Kinh: Nếu chẳng do sức đại từ của Như Lai, sẽ chẳng thể biến hóa như thế).

 

          Tiếp đó, Ngài chỉ rõ: [Chỉ cậy vào] sức của chính mình, sẽ khó thể giáo hóa. Như Đại Luận nói: “Chư Bồ Tát tu chuyện khổ hạnh, [do thấy] khó thực hiện, khó thành tựu, cho nên toan giải đãi. Đức Phật an ủi rằng: – Đừng nên chán mệt, hãy nên siêng tinh tấn. Hành Thập Lực này, sẽ đắc vô lượng quả báo”. Vì thế, nói: “Nếu chẳng có sức đại từ của Như Lai, sẽ chẳng thể biến hóa như thế”. Dời chuyển, thay đổi lẫn nhau là Biến (變), đang là Không mà bỗng biến thành Có thì là Hóa (化). Đấy là trong Nhất Thiết Hạnh Thiền thì Vô Ký Hóa Hóa Thiền[3] có thể hiện tám thứ biến hóa:

          – Một là có thể biến nhỏ.

          – Hai là có thể biến lớn.

          – Ba là có thể biến thành nhẹ.

          – Bốn là có thể tự tại.

          – Năm là có thể làm chủ.

          – Sáu là thể đến nơi xa.

          – Bảy là có thể động cõi đất.

          – Tám là có thể tùy ý mà làm.

          [Tám loại này] còn được gọi là Bát Tự Tại Ngã. Đấy là do Bồ Tát khéo trụ trong pháp hòa kính, [hòa hợp] với hết thảy như nước và sữa, muốn sanh cái tâm hy hữu cho chúng sanh. Vì thế, hiện sức đại thần thông, như chuyện được biến hóa bởi hóa nhân vốn chẳng có thật. Do vậy, kinh Đại Phẩm Bát Nhã nói: “Hết thảy các pháp đều là hóa”. Vì thế, trong các pháp, bèn có pháp biến hóa của Thanh Văn, Bích Chi, Bồ Tát, và chư Phật, có phiền não pháp biến hóa, có nghiệp nhân duyên pháp biến hóa. Như Niết Bàn chẳng sanh, chẳng diệt, không có tướng dối gạt thì là pháp chẳng biến hóa, do hết thảy đều bình đẳng. Nay nói là “biến hóa” tức là dựa theo sự sanh diệt do tình kiến mà nói đó thôi!

 

3.2.2.2.2.1.1.1.2. Kim mông Phật chúc độ sanh (nay mong được đức Phật phó chúc độ sanh)

 

          (Kinh) Ngã kim hựu mông Phật phó chúc, chí A Dật Đa thành Phật dĩ lai, lục đạo chúng sanh, khiển linh độ thoát.

          ()我今又蒙佛付囑至阿逸多成佛已來六道眾生遣令度脫。

          (Kinh: Nay con lại mong đức Phật phó chúc, sai con độ thoát chúng sanh trong lục đạo cho đến khi ngài A Dật Đa thành Phật).

          Chữ Kim (今, nay) tương ứng với vô ương số kiếp. A Dật Đa (Ajita) cõi này dịch là Vô Năng Thắng (không ai có thể hơn được), là họ của ngài Di Lặc. Tịnh Danh Sớ nói: “Có thuyết nói A Dật Đa là tên. Đã chẳng thể đích thân thấy chánh văn [trong tiếng Phạn] thì không thể chấp chặt một bề được”. Xét theo kinh Di Lặc Hạ Sanh, “thời Tu Phạm Ma tức dữ tử lập tự, danh viết Di Lặc” (khi ấy, ông Tu Phạm Ma đặt tên cho con là Di Lặc). Vậy thì “A Dật Đa là họ” đã là chuyện đích xác rồi!

 

3.2.2.2.2.1.1.2. Ủy (an ủi)

 

          (Kinh) Dụy nhiên! Thế Tôn! Nguyện bất hữu lự.

          ()唯然世尊願不有慮。

          (Kinh: Thưa vâng! Thế Tôn! Xin đừng lo lắng).

          “Dụy” (唯) là từ ngữ thể hiện ý đáp ứng nhanh chóng. Nay đức Phật chẳng gọi, sao [Bồ Tát] lại nhanh chóng thưa? Vì đấy chính là từ ngữ thường nói của người Tây Vực vậy.

 

3.2.2.2.2.1.2. Như Lai thị ý (đức Như Lai bày tỏ ý Ngài)

3.2.2.2.2.1.2.1. Sanh tánh vô định (tánh của chúng sanh bất định)

3.2.2.2.2.1.2.1.1. Pháp thị (chỉ dạy về pháp)

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Địa Tạng Bồ Tát: “Nhất thiết chúng sanh vị giải thoát giả, tánh thức vô định, ác tập kết nghiệp, thiện tập kết quả”.

          ()爾時佛告地藏菩薩一切眾生未解脫者性識無

惡習結業善習結果。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Địa Tạng Bồ Tát: “Trong hết thảy chúng sanh, những kẻ chưa giải thoát tánh thức bất định, do huân tập điều ác mà kết thành nghiệp, do huân tập điều thiện mà kết thành quả”).

 

          Câu đầu tiên là căn bản của lời phó chúc. Giải thoát có hai loại:

          – Nếu nói theo những người đã đắc A La Hán thì các đường Nê Lê đều bị bế tắc. Đấy là sự giải thoát của Tiểu Thừa.

          – Nếu nói “ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn để diệt độ” thì là sự giải thoát của Đại Thừa.

          Từ chữ “tánh thức” trở đi nhằm giải thích căn nguyên [vì sao] chưa giải thoát: “Do tánh thức vô định”. “Vô định” là định tánh chẳng vững vàng. Kinh Tứ Tự Xâm nói “học giả do dự, tâm bất chuyên hằng, hoặc tấn, hoặc thoái, cố sử mê hoặc, vãng lai bất tuyệt” (kẻ học do dự, tâm chẳng chuyên ròng, thường hằng, hoặc tiến, hoặc lùi, khiến cho bị mê hoặc, qua lại chẳng dứt) là nói về ý này.

          Từ chữ “ác tập” trở đi, giải thích nguyên do. “Tập” (習) là huân tập. Kinh Chiêm Sát nói: “Chúng sanh dĩ vô minh si ám huân tập nhân duyên, hiện vọng cảnh giới” (Chúng sanh do nhân duyên vô minh si ám huân tập mà hiện ra các cảnh giới hư vọng). Do huân tập điều ác, sẽ tạo các ác nghiệp như giết, trộm v.v… kết thành ác quả trong tam đồ. Do huân tập điều thiện, tạo các thiện nghiệp như Thí, Giới v.v… bèn kết thành thiện quả trời, người. [Trong đoạn kinh văn trên đây], trong phần nói về cái nhân ác thì lược đi chẳng nói đến cái quả, trong phần nói về thiện quả thì lược đi chẳng nói đến cái nhân. Kinh Trường A Hàm nói: “Bỉ Thiên Nhãn tịnh, kiến chư chúng sanh tử thử, sanh bỉ, tùng bỉ sanh thử, hình sắc hảo xú, thiện ác chư quả, tôn, ty, quý, tiện, tùy sở tạo nghiệp, báo ứng nhân duyên, giai tất tri chi. Thử nhân thân hành ác, khẩu ngôn ác, ý niệm ác, phỉ báng hiền thánh, tín tà đảo kiến. Thân bại, mạng chung, đọa tam ác đạo. Thử nhân thân hành thiện, khẩu ngôn thiện, ý niệm thiện, bất báng hiền thánh, kiến chánh tín hạnh. Thân hoại, mạng chung, sanh thiên nhân trung. Dĩ Thiên Nhãn tịnh, kiến chư chúng sanh tùy sở nghiệp duyên, vãng lai ngũ đạo” (Do người ấy Thiên Nhãn thanh tịnh, thấy các chúng sanh chết đây, sanh kia, từ nơi kia sanh vào nơi đây, hình sắc xấu, đẹp, các quả thiện, ác, cao, thấp, sang, hèn, tùy theo nghiệp đã tạo, nhân duyên báo ứng, thảy đều biết rõ. Người ấy thân làm ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, phỉ báng hiền thánh, tin tưởng kiến giải tà vạy, điên đảo. Thân bại, mạng chung, đọa trong ba đường ác. Người ấy thân hành thiện, miệng nói lời lành, ý niệm tốt lành, chẳng báng bổ hiền thánh, kiến giải chánh đáng, có tín hạnh, [đến khi] thân hoại, mạng chết, sẽ sanh trong đường trời người. Do Thiên Nhãn thanh tịnh, bèn thấy các chúng sanh thuận theo nghiệp duyên đã tạo, qua lại trong năm đường).

Đấy là chỉ dạy: “Do Hoặc tạo nghiệp”. Nghiệp là tâm suy nghĩ; thân và miệng lấy tâm làm chủ. Vì thế, kinh nói: “Chư pháp tâm vi bổn, chư pháp tâm vi thắng, ly tâm vô chư pháp, duy tâm thân, khẩu danh. Dĩ y tâm cố, thiện ác nghiệp thành” (Các pháp tâm làm gốc, tâm hơn hẳn các pháp. Lìa tâm, không có các pháp. Duy tâm, gọi là thân, miệng. Do vì nương vào tâm, nghiệp thiện, ác được thành). “Kết” (結) là Hoặc và Nghiệp nương vào nhau, như cái khăn thắt thành nút; nếu muốn tháo nút, ắt phải kéo ở giữa. Vì thế, quốc sư Nam Dương Huệ Trung nói: “Khi mê, thắt tánh thành tâm. Khi ngộ, tháo gỡ tâm thành tánh”, đó là lời nói trúng ngay vào cội gốc vậy!

 

          (Kinh) Vi thiện, vi ác, trục cảnh nhi sanh. Luân chuyển ngũ đạo, tạm vô hưu tức. Động kinh trần kiếp, mê hoặc chướng nạn.

          ()為善為惡逐境而生。輪轉五道暫無休息。動經塵劫迷惑障難。

          (Kinh: Làm lành, làm ác, theo cảnh mà sanh. Luân chuyển trong năm đường, chẳng có lúc tạm ngưng nghỉ. Trải qua các kiếp nhiều như vi trần, mê hoặc, chướng nạn).

          Hai câu “làm lành…” nhằm chỉ rõ [chúng sanh tánh thức] vô định, do nghiệp thiện hay ác đều ruổi theo cảnh mà sanh. Thiện tâm sanh thì đủ mọi thiện pháp sanh. Ác tâm sanh thì đủ mọi ác pháp sanh. Vì thế, kinh Mật Nghiêm dạy: “A Lại Da Thức, tùng vô thỉ thế lai, vi hý luận huân tập, chư nghiệp sở hệ, luân hồi bất dĩ. Như hải nhân phong, khởi chư thức lãng, hằng sanh, hằng diệt, bất đoạn, bất thường, nhi chư chúng sanh, bất tự giác tri, tùy ư tự thức, hiện chúng cảnh giới” (A Lại Da Thức từ đời vô thỉ đến nay bị hý luận huân tập, bị các nghiệp buộc ràng, luân hồi chẳng ngơi. Như biển do gió mà khởi các sóng thức, luôn sanh, luôn diệt, chẳng đoạn, chẳng thường, nhưng các chúng sanh chẳng tự hay biết, thuận theo cái thức của chính mình mà hiện ra các cảnh giới). Ấy là vì do Chân Như chẳng giữ lấy tự tánh, thuận theo duyên nhiễm hay tịnh, chẳng hợp mà hợp. Do đó, luân chuyển trong năm đường.

          Đại Luận viết: “Hỏi: Kinh nói có năm đường, cớ sao nói là lục đạo? Đáp: Đức Phật đã lìa thế gian lâu xa, kinh pháp lưu chuyển, năm trăm năm sau, bộ loại sai biệt khác nhau. Hoặc nói là năm đường, là vì trong kinh đức Phật nói gộp là năm. Hoặc nói là lục đạo, vì trong kinh đức Phật đã nói rộng thành sáu”. Nay nói là “năm” (ngũ đạo) là như Phật Thuyết Ngũ Khổ Chương Cú Kinh đã chép: “Tam giới ngũ đạo, sanh tử bất tuyệt. Phàm hữu ngũ khổ: Nhất viết chư thiên khổ, nhị viết nhân đạo khổ, tam viết súc sanh khổ, tứ viết ngạ quỷ khổ, ngũ viết địa ngục khổ” (Năm đường trong ba cõi sanh tử chẳng dứt. Có năm thứ khổ: Một là chư thiên khổ, hai là nhân đạo khổ (khổ trong loài người), ba là súc sanh khổ, bốn là ngạ quỷ khổ, năm là địa ngục khổ) là nói đến điều này. Năm đường như thế giống như cái trục quay để kéo nước giếng, xoay tròn lên cao xuống thấp. Vì thế nói là “luân chuyển”. Đó là vì tướng của nghiệp thiện ác chẳng thể chuyển, trong ức ngàn vạn đời, nó cứ theo sát, chẳng bỏ, như chủ nợ đi theo con nợ. Khi nhân duyên trọn đủ, liền tạo thành quả báo, khiến cho [người đã tạo nghiệp] thọ sanh trong năm đường, nhanh chóng như tên bay, cho nên nói là “tạm vô hưu tức” (chẳng hề tạm ngưng nghỉ).

          “Động kinh trần kiếp, mê hoặc chướng nạn” (Trải qua kiếp số nhiều như vi trần, mê hoặc, chướng nạn): “Mê hoặc” là nói Thập Sử. Do trong Thập Sử, năm lợi sử thuộc Kiến, năm độn sử thuộc Tư. Do Thập Sử mà khiến cho con người dấy lên Kiến Tư, hôn mê, Hoặc loạn. “Chướng” (障) là ba chướng, “nạn” (難) là tám nạn. Từ thời vô thỉ đến nay, trôi lăn trong sanh tử, chẳng thể đoạn Lậu, chẳng thể đạt được quả xuất thế, đến nỗi Thập Sử phiền não có thể chướng ngại lý Tứ Chân Đế. Lại tạo nghiệp chướng, chướng xuất thế pháp. Nghiệp đã thành, sẽ chuốc khổ, quả báo là sanh trong tám nạn trải qua kiếp số nhiều như vi trần, khó thể thoát ra. Do vậy, kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Tam giới như luân chuyển, nghiệp hệ luân bất đoạn. Thị cố xả ái dục, ly dục đắc Niết Bàn” (Tam giới như bánh xe xoay, nghiệp ràng buộc luôn xoay chuyển chằng ngừng. Vì thế bỏ ái dục, lìa dục đắc Niết Bàn). Ai nấy hãy nên nghe điều này rồi tự suy nghĩ tu tập vậy!

 

3.2.2.2.2.1.2.1.2. Dụ hiển (dùng thí dụ để nói rõ)

 

          (Kinh) Như ngư du võng, tương thị trường lưu. Thoát nhập tạm

xuất, hựu phục tao võng.

          ()如魚遊網將是長流。脫入暫出又復遭網。

          (Kinh: Như cá bơi trong lưới theo dòng nước dài, tạm được thoát ra rồi lại mắc lưới).

          “Cá” ví như năm đường. “Lưới” ví như tam giới. “Trường lưu” (Dòng nước dài) ví như nghiệp quả. “Thoát nhập” (Thoát khỏi lưới) ví như sanh tử luân chuyển. Cá là động vật thuộc loại thủy tộc, ví như chúng sanh tánh thức vô định. Bầy cá do tham ăn mà mắc phải lưới dầy. Chúng sanh do ái mà rơi vào lưới ma. Kinh Nhật Minh Bồ Tát nói: “Hựu như mật võng, chúng ngư đầu chi, khoa tràng, trở kỷ” (Lại như chiếc lưới dầy, những con cá sa vào đó, bị mổ bụng khoét ruột, phơi mình trên thớt). Kinh Tứ Tự Xâm nói: “Thân nhược họa bình, nội mãn bất tịnh, bất tri nội ngoại, thân đương quy tận. Thường dĩ thái sắc chi phấn trang nghiêm, tự vị đoan chánh, nhan mạo vô song. Tư đẳng chi nhân, la võng sở triền, mạc năng quán thân” (Thân như cái bình tô vẽ đẹp đẽ, bên trong chứa đầy những thứ bất tịnh! Chẳng biết trong, ngoài, thân sẽ đều chết sạch. Thường dùng màu sắc, phấn sáp để trang nghiêm, tự cho là đoan chánh, có nhan sắc và hình dáng chẳng ai bằng. Những kẻ như thế bị lưới rập ràng buộc, chẳng thể quán thân). Vì thế, Đại Luận nói: “Lưới dâm giăng bủa, ai nấy đều dấn mình vào. Đấy là do nghiệp cảm quả, đối ứng với Khổ Đế”.

          “Tương thị trường lưu” (Xuôi theo dòng nước dài): “Tương” (將) là thuận theo. Chữ Thị (是) chỉ A Lại Da Thức. Do chủng tử thiện hay ác trong cái Thức ấy huân tập hiện hành, khiến tạo ra nghiệp quả thiện hay ác liên miên chẳng ngừng, cũng giống như cá bơi theo dòng nước dài, hễ đi bèn chẳng trở lại. Vì thế, Duy Thức nói: “Như nước chảy xiết, các vật trên dưới như cá, cỏ v.v… đều bị cuốn theo dòng chẳng bỏ. Thức này cũng vậy, cùng với các tập khí bên trong, các pháp bên ngoài như Xúc v.v… luôn liên tục lưu chuyển” (A Lại Da Thức từ vô thỉ đến nay luôn tương ứng với năm thứ Tâm Sở là Tác Ý, Xúc, Thọ, Tưởng, và Tư). Đấy là do Hoặc mà tạo nghiệp, đối ứng với Tập Đế. Sách Kim Quang Minh Kinh Văn Cú cũng dùng nước để đối ứng với Tập Đế, vì bản thể của nước là thấm nhuần chúng sanh, như Tập có thể giúp Khổ. “Trường lưu”: Một nghiệp nếu thành, tội chẳng có ngằn mé, trăm ngàn vạn đời, thọ báo chẳng tận.

          “Thoát nhập tạm xuất” (Tạm được thoát ra): Từ tam đồ mà thăng lên nhân thiên. “Hựu phục tao võng” (Lại bị mắc lưới): Từ nhân thiên lại đọa vào tam đồ. Do vậy, kinh Ngũ Khổ Chương Cú nói: “Tam ác đạo giả, thị vi nhất thiết chúng sanh chi gia, tạm đắc vi thiên, tạm đắc vi nhân, thí như tác khách. Tác khách nhật thiểu, quy gia nhật đa” (Ba ác đạo chính là nhà của hết thảy chúng sanh. Tạm được làm trời, tạm được làm người, ví như làm khách. Làm khách thì ít, về nhà thì nhiều). Người học hãy suy nghĩ, gắng sức tinh tấn, hòng được thoát khổ; đấy chính là nói về chuyện này đấy.

 

3.2.2.2.2.1.2.1.3. Hợp minh (nói gộp chung lại)

 

          (Kinh) Dĩ thị đẳng bối, ngô đương ưu niệm.

          ()以是等輩吾當憂念。

          (Kinh: Do những kẻ ấy mà ta phải lo nghĩ).

          Đức Phật dạy: “Khó được thân người, khó trọn đủ sáu tình thức, miệng khó biện luận trúng, khó đạt được tài cán, thông minh, khó đạt được thọ mạng [lâu dài], khó gặp người sáng suốt, khó có lòng tin thẳng thắn, khó phát đại tâm, khó nghe kinh pháp, khó gặp đức Như Lai”. Thế gian có loài cây tên là Ưu Đàm Bát (Uḍumbara, Linh Thụy Hoa), chỉ có trái, không có hoa. Như Lai xuất thế, cây mới có hoa. Đã được làm thân người, có đủ sáu tình thức, miệng biện luận thông suốt, hay khéo, thọ mạng lâu dài, gặp gỡ người sáng suốt, phát Bồ Tát tâm, niềm tin ngay thẳng không lui sụt, nghe trọn kinh pháp, gặp Như Lai tại thế; đấy là những người đã từng tu hành phước đức trong đời trước, từ chỗ sáng vào chỗ sáng, noi theo dấu chân của Như Lai, hành mãi chẳng ngừng, sẽ ở trong đạo tràng, chẳng hủy căn cội, chẳng quên mất công sức trước kia. Hễ đánh mất đạo ý, sẽ trải bao kiếp số; cho nên đức Như Lai lo nghĩ tới họ. Bởi lẽ, đức Phật quán chúng sanh trong khắp cõi đất khác nào con một. Đức Phật lo họ tánh thức vô định, lại kết nghiệp quả thiện ác, nghĩ họ tạm thoát ra, sanh trong đường trời, người, rồi lại mắc phải lưới dầy tam đồ! “Vì thế, ta ân cần phó chúc ông hãy cứu giúp, giải thoát họ!”

 

3.2.2.2.2.1.2.2. Nhữ nguyện độ tội (ông nguyện hóa độ chúng sanh tội khổ)

        

          (Kinh) Nhữ ký tất thị vãng nguyện, lũy kiếp trọng thệ, quảng độ tội bối, ngô phục hà lự?

          ()汝既畢是往願累劫重誓廣度罪輩吾復何慮

          (Kinh: Ông đã trọn nguyện xưa ấy, nhiều kiếp phát trọng thệ rộng độ những kẻ tội khổ, ta còn lo chi nữa?)

          Chuẩn theo kinh văn trong phần trên, [từ ngữ] “tội bối” (罪輩, những kẻ tội khổ) chỉ chung năm đường. “Ta lo nghĩ chính là vì những kẻ ấy. Ông nay đã phát nguyện độ họ, ta còn lo lắng chi nữa!”

          Hỏi: Chư thiên thăng lên chốn thanh tịnh, tu ròng Thiền Định, thất chúng [Tăng tục] đoan nghiêm, cung kính vâng giữ luật nghi, vì sao cũng gọi là “tội bối”?

          Đáp: Trên cõi trời cũng có các nỗi khổ, tức cũng là khinh báo Nê Lê (địa ngục chịu báo ứng nhẹ). Lại nữa, lúc ở trong loài người, do chẳng học hiểu, luôn mê muội đối với đạo pháp, tuy tu các điều thiện, chẳng trừ tà báo. Vì thế, luận Câu Xá nói: “Kẻ tại gia do giữ lấy Ngũ Trần, cho nên dấy lên đấu tranh. Hàng xuất gia do giữ lấy các kiến giải, cho nên dấy lên đấu tranh”. Thành Thật Luận nói: “Nếu người nào trì giới mà chấp đó là thanh tịnh, thì gọi là Giới Thủ Kết, tức là cho rằng các thứ do chính mình chấp giữ mới là chân thật, những thứ khác đều là vọng ngữ, thì gọi là Kiến Thủ Kết”. Hai điều ấy chính là căn bản cho sự đấu tranh của người xuất gia. Hơn nữa, Giới Thủ là sự trói buộc của người xuất gia; các dục là sự trói buộc của người tại gia. Vì thế, những thứ như Giới Thủ v.v… chỉ là điều lành thế gian, chuốc lấy cái quả sanh tử; do vậy gọi là Tùy Khổ (thuận theo sự khổ), chẳng phải là đạo pháp chân thật. Kẻ ngu lắm mê, do chấp trước hư vọng mà sanh ra tội. Theo đó, [người xuất gia] há chẳng thuộc vào bọn tội khổ ư? Vì thế biết là thất chúng thuộc nội giáo hễ có chấp trước thì đều là sai! Lục sư ngoại đạo hễ chẳng chấp thì đều là chánh. Nếu đã thấu hiểu các pháp và nhân đều là Không, Nhất Chân vốn tịch diệt, nhập bình đẳng môn, dạo chơi trong nhà vô vi, hết thảy vô ngại, một đường thoát khỏi sanh tử, thì cái danh xưng “tội bối” há còn có ta trong ấy nữa hay chăng?

 

3.2.2.2.2.2. Đương cơ chánh vấn thệ nguyện (bậc đương cơ hỏi về thệ nguyện)

3.2.2.2.2.2.1. Tự Tại vấn lũy kiếp phát hà nguyện (ngài Định Tự Tại Vương hỏi trong bao kiếp [Địa Tạng Bồ Tát] đã phát nguyện gì)

3.2.2.2.2.2.1.1. Dĩ Địa Tạng các phát hà nguyện vấn (hỏi ngài Địa Tạng đã phát nguyện gì)

 

          (Kinh) Thuyết thị ngữ thời, hội trung hữu nhất Bồ Tát Ma Ha Tát, danh Định Tự Tại Vương, bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát lũy kiếp dĩ lai, các phát hà nguyện, kim mông Thế Tôn ân cần tán thán? Duy nguyện Thế Tôn, lược nhi thuyết chi”.

          ()說是語時會中有一菩薩摩訶薩名定自在王白佛言世尊地藏菩薩累劫已來各發何願今蒙世尊殷勤讚歎唯願世尊略而說之。

          (Kinh: Nói lời ấy xong, trong hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Định Tự Tại Vương, bạch cùng đức Phật rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát từ bao kiếp đến nay, đã phát những nguyện gì mà nay được đức Thế Tôn ân cần tán thán? Kính mong đức Thế Tôn hãy nói đại lược”).

          Trước tiên là giải thích về danh xưng [của bậc đương cơ]. Bậc đại sĩ Định Tự Tại Vương là rồng trong loài người. Thế gian có ái, Ngài đều xa lìa, đã giải thoát các trói buộc, các lậu đã hết, “Na Già thường tại Định, chẳng có lúc nào không định!” Được tự tại nơi Định, nên gọi là Định Tự Tại Vương. Từ “bạch Phật” trở đi là lời hỏi: Vừa mới nghe đức Thế Tôn nói Địa Tạng Bồ Tát đã phát nguyện ấy, phát ra trọng thệ suốt bao kiếp, chẳng biết trong bao kiếp ấy, Ngài đã phát những nguyện gì, khiến cho nay Ngài được đức Thế Tôn không ngớt lời tán thán trong đại hội vậy? Từ “duy nguyện” trở đi, là lời thỉnh cầu xin hãy nói nguyện trong bao nhiêu kiếp [của Địa Tạng Bồ Tát], xin hãy nói đại lược. Đức Phật thuyết pháp có hai môn là cặn kẽ và đại lược, nay [Định Tự Tại Vương Bồ Tát] thỉnh Phật nói đại lược.

 

3.2.2.2.2.2.1.2. Ước chúng sanh nghiệp cảm phát tâm đáp (trả lời: Do xét theo nghiệp cảm của chúng sanh mà phát tâm)

3.2.2.2.2.2.1.2.1. Giới thính, hứa thuyết (răn bảo hãy lắng nghe, hứa nói)

         

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Định Tự Tại Vương Bồ Tát: “Đế thính, đế thính, thiện tư niệm chi! Ngô đương vị nhữ, phân biệt giải thuyết”.

          ()爾時世尊告定自在王菩薩諦聽諦聽善思念之吾當為汝分別解說。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Định Tự Tại Vương Bồ Tát: – Lắng nghe, lắng nghe. Hãy khéo nghĩ nhớ! Ta sẽ vì ông phân biệt, giải nói).

          Răn dạy hãy lắng nghe, khéo nghĩ nhớ, vì Phật pháp rộng sâu, nguyện môn rộng lớn, chỉ do tín lực thì mới có thể tiếp nhận. Đại Luận nói: “Chuyên nhìn, nghe pháp như khát muốn uống, nhất tâm nhập vào ý nghĩa của từ ngữ. Hớn hở nghe pháp, tâm buồn vui lẫn lộn. Đối với người như thế thì đáng nên nói”. Do “lắng nghe, khéo suy nghĩ” có thể thành tựu Tam Huệ. Tiếp đó là hứa nói. Hết thảy các pháp vốn chẳng thể nói, bất sanh, bất diệt, pháp như Niết Bàn; nay do nhân duyên mà phân biệt, giải nói.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2. Đằng tích nguyện sự (nêu bày nguyện xưa)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1. Chánh minh tích nguyện lợi ích (nêu bày lợi ích do nguyện xưa)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1. Thuật tích thệ nguyện (thuật lại thệ nguyện xưa)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.1. Tiểu quốc vương sở phát nguyện (lời phát nguyện của tiểu quốc vương)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.1.1. Thuật vương Phật, kiếp, hiệu (nêu ra Phật hiệu, kiếp số và danh hiệu của vua)

         

          (Kinh) Nãi vãng quá khứ vô lượng A-tăng-kỳ na-do-tha bất khả thuyết kiếp. Nhĩ thời, hữu Phật, hiệu Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Kỳ Phật thọ mạng lục vạn kiếp.

          ()乃往過去無量阿僧祇那由他不可說劫。爾時有佛號一切智成就如來應供正徧知明行足善逝世間解無上士調御丈夫天人師世尊。其佛壽命六萬劫。

          (Kinh: Quá khứ vô lượng A-tăng-kỳ na-do-tha bất khả thuyết kiếp về trước. Lúc bấy giờ, có Phật, hiệu là Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị Phật ấy thọ sáu vạn kiếp).

          Trước hết, trần thuật kiếp số lâu xa. Từ “nhĩ thời” (lúc bấy giờ) trở đi, nêu ra danh hiệu của Phật. “Hiệu” (號) là do Khẩu (口) và Khảo (ㄎ) ghép lại; nếu thêm vào chữ Hổ (虎), sẽ có âm đọc giống như Hào (毫), thì có nghĩa là “âm thanh giận dữ của con cọp”. Lại có nghĩa là “hô lớn, gầm thét”. Xưa nay sai lầm chất chứa, rất khó thay đổi!

          Chữ Tát Bà Nhã Đa (Sarvajñāna) trong tiếng Phạn, kinh Ban Châu phiên âm là Tát Vân (薩雲), dịch sang tiếng Hán là Nhất Thiết Trí Tướng, do trong nhất tâm mà đắc ba trí. Đã đắc trí huệ như thật thành tựu, bèn nương vào trí ấy để thành Chánh Giác, cho nên có danh hiệu là Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Đáng nhận đồ cúng dường tối thượng của chư thiên và người đời thì gọi là Ứng Cúng (Arhat). Chánh (正) là “các pháp bất động, bất hoại”. Biến (徧) là “chẳng phải là một pháp hay hai pháp”. Do đều biết tất cả hết thảy các pháp chẳng còn sót thừa, nên gọi là Chánh Biến Tri (正徧知, Samyak-saṃbuddha).

          “Minh” là Tam Minh, như sẽ giải thích [trong phần sau]. Hạnh là Bồ Tát từ sơ phát ý cho đến [chứng đắc] Kim Cang tam-muội, thân nghiệp và khẩu nghiệp thanh tịnh, tùy ý mà hành, cho nên gọi là Minh Hạnh Túc (明行足, Vidyā-caraṇa Saṁpanna). Như hành xứ của các vị Phật trước đó, nay đức Phật [Thích Ca] cũng hành như thế, vượt lên bậc nhất, vĩnh viễn chẳng trở lại (chẳng lui sụt thành Bồ Tát hoặc Nhị Thừa trong thế gian này) thì gọi là Thiện Thệ (善逝, Sugata). “Giải” tức là biết. Biết chúng sanh giới trong thế gian, hết thảy các phiền não và thanh tịnh thì gọi là Thế Gian Giải (世間解, Lokavid). Trong các pháp, Niết Bàn vô thượng, Phật là vô thượng trong các chúng sanh. Do không có gì để đoạn, nên gọi là Vô Thượng Sĩ (無上士, Anuttara). Phật có thể điều phục chúng sanh, khéo gìn giữ căn môn. Kinh Trường A Hàm nói: “Thiện ngự lục xúc, hộ trì điều phục, do như bình địa. Hạ tứ mã xa, thiện điều ngự giả, chấp tiên trì khống, sử bất thất triệt” (Khéo điều ngự sáu xúc (sáu cảm thọ do sáu căn tiếp xúc sáu trần), bảo vệ, gìn giữ, điều phục, giống như đất bằng. Điều khiển cỗ xe bốn ngựa kéo, người khéo điều khiển sẽ cầm roi khống chế, khiến cho xe chẳng bị trật bánh). Nếu nói là “điều ngự nữ nhân” thì chẳng tôn trọng. Do vậy, gọi là Điều Ngự Trượng Phu (調御丈夫, Puruṣa-damya-sārathi). Đức Phật độ chúng sanh trong những đường khác thì ít, độ chúng sanh trong đường trời, người thì nhiều. Vì thế, gọi là Thiên Nhân Sư (天人師, Śāsta deva-manuṣyāṇaṃ). Hết thảy trí huệ thành tựu, biết chúng sanh, phi chúng sanh số, các pháp thường, vô thường v.v… nên gọi là Phật (Buddha). Có đủ mười hiệu như trên đây, được cõi đời cùng tôn trọng, cho nên gọi là Thế Tôn (世尊, Bhagavat).

          “Thọ mạng sáu vạn kiếp” có phải là thọ mạng của thắng ứng thân Phật trong quốc độ thanh tịnh đó chăng? Nhưng xét theo thời số, kiếp có bốn loại: Một là biệt kiếp, hai là thành kiếp, ba là hoại kiếp, bốn là đại kiếp. Nếu lại phân tích rộng hơn, thì có sáu loại kiếp: Một là biệt, hai là thành, ba là trụ, bốn là hoại, năm là không, sáu là đại. Nếu nói gọn lại thì có ba loại kiếp: Một là tiểu, hai là trung, ba là đại. Từ lúc con người thọ mười tuổi, dần dần [tăng lên] cho đến tám vạn tuổi; tới lúc tám vạn tuổi, lại dần dần giảm xuống mười tuổi; đó là một Biệt Kiếp (do đối với Tổng mà gọi là Biệt, tức là Tăng Giảm Kiếp). Tiểu kiếp tức là Biệt Kiếp. Trung kiếp là nói một kiếp thành hay hoại, đại kiếp là nói gộp chung cả Thành và Hoại. Nói gộp lại thì tám mươi biệt kiếp là một đại kiếp. Nay nói sáu vạn kiếp thì phải xét theo tuổi thọ dài lâu như vị Phật trong cõi Cực Lạc, chẳng nên dùng ba loại kiếp trong cõi này để phán định; nhưng chỉ có Phật với Phật thì mới có thể biết mà thôi!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.1.2. Đằng tích vương nguyện sự (nêu bày chuyện phát nguyện của hai vị vua khi xưa)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.1.2.1. Tự nhị vương hữu thiện (thuật chuyện hai vua chơi thân với nhau)

 

          (Kinh) Vị xuất gia thời, vi tiểu quốc vương, dữ nhất lân quốc vương vi hữu, đồng hành Thập Thiện, nhiêu ích chúng sanh.

          ()未出家時為小國王與一鄰國王為友同行十善饒益眾生。

          (Kinh: Khi chưa xuất gia, làm một tiểu quốc vương, kết bạn với vị vua nước láng giềng, cùng hành Thập Thiện lợi ích chúng sanh).

          Kinh Hiền Ngu nói: “Nhược thính nhân dân, nhược tự kỷ thân, xuất gia nhập đạo, công đức vô lượng, phi thí vi tỷ, cao ư Tu Di, thâm ư cự hải, quảng ư hư không. Do xuất gia cố, tất thành Phật đạo” (Nếu cho phép nhân dân xuất gia nhập đạo thì sẽ như chính mình xuất gia nhập đạo, công đức vô lượng, không thí dụ nào có thể sánh ví được! [Công đức ấy] cao như Tu Di, sâu như biển cả, rộng như hư không. Do vì xuất gia, ắt thành Phật đạo). Đại sư (Trí Giả đại sư) bảo có bốn loại xuất gia:

          1) Thân lẫn tâm đều chẳng xuất.

          2) Thân xuất, tâm chẳng xuất.

          3) Thân chẳng xuất, tâm xuất (quán hạnh xuất gia).

          4) Thân lẫn tâm đều xuất, có thể thấy Phật Tánh, ra khỏi nhà Nhị Tử (Phần Đoạn sanh tử và Biến Dịch sanh tử) thì mới là xuất gia chân thật.

          Vị vua xưa kia [được nhắc đến trong đoạn chánh kinh trên đây] là hạng người thứ tư, cho nên có thể thành Phật. “Hữu” (友) là chí hướng tương hợp. Chí tương hợp, sẽ giúp ích lẫn nhau. Vì thế, chữ Hữu gồm hai chữ Hựu (又) trên dưới ghép lại, biểu thị ý nghĩa “hiệp lực”. Hai câu “đồng hành…” nhằm giải thích đạo bè bạn: “Chí đồng, đạo đồng”. Thập Thiện tương phản với Thập Ác. Phàm là bốn loại Luân Vương (Kim, Ngân, Đồng, Thiết) đều dùng Thập Thiện để giáo hóa nhân dân thành tập tục; bởi Thập Thiện chính là cái gốc để sanh lên cõi trời. Nay những vị tiểu vương đồng hành Thập Thiện, đều có cái tâm Phổ Từ (tâm Từ trọn khắp). Kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung nói: “Thập Ác oán gia, Thập Thiện hậu hữu, an thần đắc đạo, giai tùng thiện sanh. Hữu năng thủ tín, phước báo tự nhiên. Tùng thiện chí thiện, phi thần thọ dữ. Cố ban tuyên pháp giáo, thị hiện nhân dân, vị tác phước điền. Tín giả đắc thực, hậu sanh vô ưu” (Thập Ác là oán gia, Thập Thiện là bạn thân thiết. An tâm đắc đạo, đều do thiện sanh ra. Có ai có thể giữ chữ tín thì phước báo tự nhiên. Do thiện mà đạt đến thiện, chẳng phải do thần trao cho. Vì thế, ban bố, tuyên nói pháp giáo, chỉ bày cho nhân dân, vì họ làm ruộng phước. Người tin tưởng bèn vun trồng [Thập Thiện], sẽ chẳng phải lo âu cho đời sau). Tạo lợi ích cho lê dân như thế, chẳng đánh mất sự giáo hóa của bậc nhân vương vậy!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.1.2.2. Thuật nhị vương phát nguyện (thuật lời phát nguyện của hai vị vua)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.1.2.2.1. Xuất nguyện bổn (nêu ra cái gốc của sự phát nguyện)

 

          (Kinh) Kỳ lân quốc nội, sở hữu nhân dân đa tạo chúng ác. Nhị vương nghị kế, quảng thiết phương tiện.

          ()其鄰國內所有人民多造眾惡。二王議計廣設方便。

          (Kinh: Trong nước lân cận, tất cả nhân dân phần nhiều tạo các điều ác. Hai vua bàn kế, rộng lập phương tiện).

 

          Nhân dân là cái gốc của nước nhà. “Dân” là chúng sanh. Lúc trời đất mới sanh ra con người, bề ngoài họ chất phác, nội tâm chân thuần, ai nấy đều toàn là một khối hỗn độn. Các vị trời [hiện hữu] lúc trời được mở ra thì là “thiên dân”. Nhân loại sanh thành thì là “phàm dân”, cho nên gọi là “nhân dân”. “Chúng ác” (Các điều ác) tức là tạo đủ các nghiệp Thập Ác, hết sức tương phản với Thập Thiện. Kinh A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung nói: “Ký bất thiêu hương, nhiên đăng, lễ bái, hằng hoài hồ nghi, sân khuể, mạ lỵ, ác khẩu, tật hiền. Hựu bất Lục Trai, sát sanh thú thủ, bất kính Phật kinh. Nhược tật bệnh giả, tiện hô vu sư, bốc vấn, giải tấu, từ tự tà thần. Thử tùng túc hạnh ác đạo trung lai, hiện thế tội nhân, tử nhập Nê Lê, bị khảo lược trị, khốc bất khả ngôn. Giai do tích ác, kỳ hạnh bất thiện” (Đã chẳng thắp hương, đốt đèn, lễ bái, lại còn luôn hồ nghi, nóng giận, chửi rủa, nói lời thô ác, ghen ghét người hiền. Lại chẳng giữ sáu ngày trai giới, thích sát sanh, chẳng kính trọng kinh Phật. Nếu bị bệnh tật, liền gọi thầy đồng bói toán, giải hạn, [viết sớ] tâu trình, cúng tế tà thần. Đấy là kẻ quen thói từ xưa, từ trong ác đạo mà sanh đến. Tội nhân trong đời này, chết đi vào Nê Lê, bị tra khảo, hành hạ, trừng trị, đau đớn tàn khốc chẳng thể diễn tả được. Đấy đều là do điều ác tích tập, hành vi bất thiện). Vì thế, hai vua thương nghị, tính toán, rốt cuộc làm như thế nào để rộng lập phương pháp thuận tiện, hay khéo để cứu những người dân ác ấy, hòng chẳng đánh mất sự giáo hóa của vua, của thầy!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.1.1.2.2. Chánh phát nguyện

          [Phần này gồm hai ý]:

          – Một vị vua phát nguyện thành Phật trước.

          – Một vị vua phát nguyện độ chúng sanh trước.

          Vốn chia thành hai khoa, nay nói gộp lại để giải thích kinh văn cho tiện.

 

          (Kinh) Nhất vương phát nguyện, tảo thành Phật đạo, đương độ thị bối, linh sử vô dư.

          ()一王發願早成佛道當度是輩令使無餘。

          (Kinh: Một vua phát nguyện sớm thành Phật đạo, sẽ độ những hạng người ấy chẳng còn thừa sót).

          Đại Luận nói: “Thành tựu chúng sanh có hai loại: Có người thì tự

thành tựu công đức trước, sau đấy mới độ chúng sanh. Có người thành tựu chúng sanh trước rồi sau đó mới thành tựu công đức của chính mình”. Đấy chính là ý chỉ phát nguyện của hai vị vua. Do thành Phật chính là căn bản để độ chúng sanh, [đã thành Phật] thì mới có thể rộng hóa đạo. Vì thế, nguyện thành Phật. Do đó, kinh dạy: “Nhất nhân xuất thế, đa nhân mông khánh, phước lạc nhiêu ích, Phật Thế Tôn dã” (Một người xuất thế, nhiều người được nhờ ơn, phước lạc trọn đầy, đó chính là Phật Thế Tôn). Vì thế, tự thành tựu trước thì mới có thể độ những kẻ ác ấy đều nhập Diệt Độ chẳng còn thừa sót. Đấy chính là lúc mới phát tâm liền thành Chánh Giác.

 

          (Kinh) Nhất vương phát nguyện: “Nhược bất tiên độ tội khổ, linh thị an lạc, đắc chí Bồ Đề, ngã chung vị nguyện thành Phật”.

          ()一王發願若不先度罪苦令是安樂得至菩提我終未願成佛。

          (Kinh: Một vị vua phát nguyện: “Nếu chẳng độ kẻ tội khổ trước, khiến cho họ được an lạc, đạt đến Bồ Đề, tôi nguyện trọn chẳng thành Phật”).

          Một vị vua suy nghĩ: Chính mình chưa đắc độ, hãy độ chúng sanh trước, thì mới là Bồ Tát phát tâm, há có nên vì chính mình trước ư? Như Đại Luận nói: “Đức Phật nói ta dùng thiên nhãn thanh tịnh, thấy các chúng sanh chết đây, sanh kia, theo nghiệp thiện hay ác mà hứng chịu các quả báo. Ta nay hãy nên độ thoát những kẻ có tội trước, khiến cho họ đạt được niềm vui vô thượng Niết Bàn. Thà ở trong sanh tử dài lâu, thề trọn chẳng nguyện thành Phật”. Đấy chính là cái tâm phát khởi hoằng nguyện ban đầu, rốt cuộc do lòng đại bi mà vào chốn hoạn nạn. Do vậy, hai vị vua phát nguyện, dường như bất đồng!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.1.3. Kết nhị vương kim cổ (kết lại, biện định bản thân của hai vua xưa và nay)

 

          (Kinh) Phật cáo Định Tự Tại Vương: – Nhất vương phát nguyện tảo thành Phật giả, tức Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai thị. Nhất vương phát nguyện vĩnh độ tội khổ chúng sanh, vị nguyện thành Phật giả, tức Địa Tạng Bồ Tát thị.

          ()佛告定自在王一王發願早成佛者即一切智成就

如來是。一王發願永度罪苦眾生未願成佛者即地藏菩薩是。

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài Định Tự Tại Vương: – Một vị vua phát nguyện sớm thành Phật, chính là Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Một vị vua phát nguyện vĩnh viễn độ chúng sanh tội khổ, chưa nguyện thành Phật, tức là Địa Tạng Bồ Tát).

 

          Nhân vương phát nguyện thành đạo như cầm bằng khoán nhận vật. Vì thế nói: “Pháp tánh như biển cả, chẳng nói có đúng, sai. Phàm phu, bậc hiền thánh, bình đẳng chẳng cao thấp. Chỉ do tâm cấu đã diệt, bèn chứng đắc [dễ dàng] như lật bàn tay”. Xét ra, vị quốc vương ấy đúng là như thế. Nhưng chuyện trong trần sa kiếp, giống hệt như ngày hôm nay; đấy chính là Phật nhãn không pháp nào chẳng biết, không chuyện gì chẳng thấy.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2. Quang Mục nữ sở phát nguyện (cô Quang Mục phát nguyện)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.1. Thuật Phật hiệu, kiếp, thọ (thuật Phật hiệu, kiếp số, thọ mạng)

 

          (Kinh) Phục ư quá khứ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Kỳ Phật thọ mạng tứ thập kiếp.

          ()復於過去無量阿僧祇劫有佛出世名清淨蓮華目如來。其佛壽命四十劫。

          (Kinh: Lại trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp đời quá khứ, có Phật xuất thế, tên là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Đức Phật ấy thọ mạng bốn mươi kiếp).

          Đức Phật xuất thế, nay dùng Phật Thích Ca để suy ra các vị cổ Phật. Như kinh Nhân Quả nói: “Bồ Tát công hạnh mãn túc, vị đăng Thập Địa, tại nhất sanh bổ xứ, sanh Đâu Suất Thiên. Kỳ vận tương chí, đương hạ tác Phật, tức quán ngũ sự: Nhất, quán sanh thục dữ vị thục? Nhị, quán thời chí dữ vị chí? Tam, quán hà quốc xử trung? Tứ, quán hà tộc quý thịnh? Ngũ, quán quá khứ nhân duyên, thùy vi phụ mẫu? Quán dĩ, hạ sanh” (Bồ Tát công hạnh trọn đủ, địa vị đạt tới Thập Địa, thuộc về Nhất Sanh Bổ Xứ, sanh vào trời Đâu Suất. Khi pháp vận sắp đến, sắp giáng sanh thành Phật, Ngài liền quán năm sự: Một là quán căn cơ của chúng sanh chín muồi hay chưa? Hai là quán đã đến thời hay chưa? Ba là quán sẽ ở trong nước nào? Bốn là quán dòng dõi nào cao quý, thịnh vượng? Năm là quán nhân duyên quá khứ, ai là cha mẹ? Quán xong bèn giáng sanh). Dùng chuyện nay để suy lường chuyện xưa, [các vị cổ Phật xuất thế] cũng giống như thế.

          “Thanh Tịnh Liên Hoa Mục” (mắt như hoa sen thanh tịnh) là một trong ba mươi hai tướng. Như bảo nữ hỏi đức Phật: “Như Lai có ba mươi hai tướng đại nhân, tiền thế túc mạng đã hành công đức gì mà dẫn đến có tướng [cao quý, đẹp đẽ] trọn khắp thân thể?” Đức Phật bảo: “Tướng đại nhân ‘tròng mắt của Như Lai có màu xanh ánh đỏ (cám thanh)’ là do đời xưa kia thường dùng mắt Từ nhìn mọi người. Tướng đại nhân ‘mắt của Như Lai như trăng non’ là do trong đời quá khứ không có tâm thô bạo, tâm tánh hòa thuận”. Đức Phật ấy đã dùng tướng đạt được để lập danh hiệu. Đó gọi là “diện như tịnh mãn nguyệt, mục nhược thanh liên hoa” (mặt như trăng tròn sạch, mắt như hoa sen xanh), ấy là vì Báo Phật (Báo Thân Phật) được gọi là Tịnh Mãn (Rocana, Lô Xá Na). Các ác đều tận, các đức đều trọn, vì được diệu mục thiên nhiên (mắt mầu nhiệm tự nhiên) như hoa sen thanh tịnh.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2. Đằng La Hán độ sanh (thuật chuyện La Hán cứu độ chúng sanh)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1. Tự tích nguyện sự (thuật chuyện phát nguyện xưa kia)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1. Tội mẫu đọa khổ (bà mẹ phạm tội đọa vào cảnh khổ)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.1. Cử năng độ La Hán (nêu ra vị La Hán có thể hóa độ)

 

          (Kinh) Tượng Pháp chi trung, hữu nhất La Hán, phước độ chúng sanh.

          ()像法之中有一羅漢福度眾生。

          (Kinh: Trong thời Tượng Pháp có một vị La Hán phước độ chúng sanh).

          Tượng Pháp (Sad-dharma-pratirūpaka) là [thời kỳ] ở giữa Chánh Pháp (Sad-dharma) và Mạt Pháp (Sad-dharma-vipralopa), chính là thời “tháp tự kiên cố”, do chỉ tu chuyện phước đức hữu vi, tức là như câu chuyện tạc vẽ hình tượng trong đoạn kinh tiếp theo. La Hán: Do cái nhân là Khất Sĩ, thành cái quả là Ứng Cúng. Kinh Nhất Thiết Pháp Cao Vương nói: “Tứ hạnh, tứ đắc, bát Phú-già-la, ưng thọ thế gian thiên nhân cúng dường, hiệp chưởng, cung kính, vô thượng phước điền” (Tứ hướng và tứ quả[4], là tám hạng người, đáng nhận lãnh sự cúng dường, chắp tay, cung kính của trời người trong thế gian, là ruộng phước vô thượng). Vì thế, trong kinh Trường A Hàm, Kiên Cố Niệm Chuyển Luân Vương bảo Thái Tử rằng: “Tất cả các sa-môn trong cõi của ngươi hành hạnh thanh tịnh, chắc thật, công đức trọn đủ, riêng đạt tới Niết Bàn, nhân từ bố thí chẳng chán, biết đủ đối với cơm áo, ôm bát khất thực để tạo phước cho chúng sanh”. Vì thế nói là “phước độ chúng sanh”.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2. Thuật sở ngộ hiếu nữ (thuật chuyện gặp người con gái có hiếu)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.1. Xuất danh (nêu tên)

 

          (Kinh) Nhân thứ giáo hóa, ngộ nhất nữ nhân, tự viết Quang Mục, thiết thực cúng dường.

          ()因次教化遇一女人字曰光目設食供養。

          (Kinh: Do lần lượt giáo hóa, gặp một cô gái tên là Quang Mục, sắp đặt thức ăn cúng dường).

         

          Như Lai đã diệt độ, La Hán theo thứ tự dạy mọi người hóa ác thành lành, chuyển phàm thành thánh. “Tên là Quang Mục”: Theo kinh Linh Xu, tinh khí của ngũ tạng lục phủ đều đổ dồn vào mắt, tạo thành tròng mắt. Cái ổ chứa đựng tinh túy là con mắt. Tinh túy của xương là tròng mắt, tinh túy của gân là tròng đen. Bởi mắt có hình giống như hoàn thuốc, con ngươi ở chính giữa ngay trước mắt, giống như mặt trời, mặt trăng tỏa sáng ở phương Đông Nam rồi mờ tối (lặn) ở Tây Bắc. Nhưng mắt có thể phát quang, do tinh túy của tạng phủ đều bẩm thọ từ Thổ nơi tỳ tạng (lá lách). Tỳ đứng đầu các Âm [trong cơ thể], mắt chính là chỗ hội tụ của huyết khí. Vì thế, tỳ mà hư thì tinh khí của ngũ tạng[5] đều mất chỗ cai quản, chẳng thể quy tụ, chẳng thể tỏa sáng nơi mắt được. Nay thánh nữ đã có thể hiếu thuận song thân, cung kính Tam Bảo, tự nhiên có thần cao, thần thủy, thần quang, chân khí, chân huyết, chân tinh, bồi đượm chất dịch của mắt, [khiến cho mắt] tỏa sáng dị thường. Nếu luận theo pháp, mắt biểu thị Định, quang biểu thị Huệ. Do Định phát Huệ, huệ quang chuyên chú nơi mắt, nên có tên gọi cao đẹp (Quang Mục) này.

          “Thiết thực cúng dường”: Thức ăn chính là ngoại mạng của chúng sanh. Người cầm thức ăn thí cho người khác, sẽ có năm công đức, sẽ đắc đạo: Một là thí mạng, hai là thí sắc, ba là thí lực, bốn là thí an (thí yên ổn), năm là thí biện (ban cho biện tài), đấy là năm phước. Nếu thí cho La Hán, phước gấp trăm lần! Như xưa kia, ngài A Na Luật (A Nậu Lâu Đà, Aniruddha) dâng thí một chén cơm cho vị Bích Chi Phật, bèn cảm quả báo chín mươi mốt kiếp chẳng nghèo túng; lại còn đắc đạo quả. Do đó, cần phải cúng dường!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.2. Vấn nguyện (hỏi về ước nguyện)

 

          (Kinh) La Hán vấn chi, dục nguyện hà đẳng?

          ()羅漢問之欲願何等

          (Kinh: La Hán hỏi rằng: “Muốn nguyện những gì?”)

          Thời đức Phật, khuôn phép thông thường khi tiếp nhận cúng dường là ăn xong, ắt phải hỏi [thí chủ] mong muốn gì. Như ngài Ca Diếp hỏi bà mẹ nghèo: “Nay ý cụ mong mỏi những gì? Giàu sang, có thế lực trong thế gian, Chuyển Luân Thánh Vương, và Tứ Thiên Vương, Thích Phạm chư thiên, nếu muốn đắc quả Tu Đà Hoàn cho đến Chánh Giác đều có thể thỏa nguyện” là như vậy đó.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3. Bạch sự (thưa trình sự việc)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.1. Hiếu nữ trần sự (hiếu nữ thưa chuyện)

      

          (Kinh) Quang Mục đáp ngôn: “Ngã dĩ mẫu vong chi nhật, tư phước cứu bạt, vị tri ngã mẫu sanh xử hà thú?

          ()光目答言我以母亡之日資福救拔未知我母生處何趣。

          (Kinh: Quang Mục đáp rằng: “Trong ngày mẹ con mất, con đã làm phước để cứu bạt, chẳng biết mẹ con sanh vào đường nào?”)

          “Vong” (亡) là đã mất, chẳng còn. Chữ “vong” là do Nhập (入, vào) và Ẩn (乚) ghép lại, ý nói: “Vào chỗ ẩn kín”. Mẹ chết, con làm phước giúp cho, đấy chính là chuyện chánh yếu của người con hiếu thảo. Cha mẹ sanh ra thân ta, ta nương nhờ bú mớm mà khôn lớn thành người. Ân ấy, đức ấy, trải bao kiếp khó đền! Kinh Niết Bàn dạy: “Tri ân giả, đại bi chi bổn. Bất tri ân giả, thậm ư súc sanh” (Biết ơn là cái gốc của lòng đại bi. Kẻ chẳng biết ơn, tệ hơn súc sanh). Nay cô Quang Mục muốn biết chỗ mẹ thác sanh, có thể nói là biết được cái gốc để báo ân, vượt xa những tình kiến thông thường vậy.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2. La Hán nhập Định

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.1. Thuật định trung kiến mẫu (La Hán thuật chuyện trong Định thấy mẹ [của cô Quang Mục])

         

          (Kinh) La Hán mẫn chi, vị nhập Định quán, kiến Quang Mục nữ mẫu đọa tại ác thú, thọ cực đại khổ.

          ()羅漢愍之為入定觀見光目女母墮在惡趣受極大苦。

          (Kinh: La Hán thương xót, bèn nhập Định để quán, thấy mẹ cô Quang Mục đọa vào đường ác, chịu khổ cực lớn).

 

          [La Hán] thương xót cô hiếu thảo gấp bội lẽ thường; vì thế, nhập Định quán mẹ cô ta sanh về đâu. Chữ Kiến (見) ở cuối câu trước, hiển thị huệ nhãn có thể quán. Mẹ cô ta chính là cảnh khổ để quán. Tuân theo cách giải thích bài kệ “ngã dĩ Phật nhãn quán kiến lục đạo chúng sanh” trong kinh Pháp Hoa của đại sư (Trí Giả đại sư) để tách chữ Kiến thuộc về câu trên thuộc về khoa “minh Phật hữu năng kiến nhãn” (chỉ ra: Phật có mắt có thể thấy), còn “lục đạo chúng sanh” thuộc về Ngũ Trược được thấy. Trong bài kệ năm chữ của kinh ấy, còn tách chữ Kiến thuộc về câu sau; huống chi kinh văn ở đây liên tiếp, há chẳng đọc theo cách này ư? Nếu không, coi hai chữ “quán kiến” thuộc câu kế tiếp thì càng thông thuận hơn, vì trí và cảnh ngầm khế hợp. “Cực đại khổ” tức là đại địa ngục Vô Gián.     

          Hỏi: Theo Đại Luận, Huệ Nhãn chẳng thấy tướng “tận diệt, một, khác” của chúng sanh, chẳng thọ hết thảy các pháp. Huệ Nhãn chẳng thể độ chúng sanh, chẳng có gì phân biệt, cho nên sanh ra Pháp Nhãn. Nay Huệ Nhãn của La Hán liễu tri không tịch, làm sao có thể thấy mẹ cô ta chịu khổ cho được?

          Đáp: Huệ Nhãn biết Không, tức là chẳng chấp nơi cảnh Không, há có phải là giống như mù từ lúc bẩm sanh, hoàn toàn chẳng thấy gì ư? Vì thế, kinh Đại Phẩm Bát Nhã dạy: “Huệ Nhãn Bồ Tát, vô pháp bất kiến, vô pháp bất tri, vô pháp bất thức, thị vi Huệ Nhãn tịnh” (Huệ Nhãn Bồ Tát không pháp nào chẳng thấy, không pháp nào chẳng biết; không pháp nào chẳng nhận rõ. Đấy là Huệ Nhãn tịnh), kinh văn đã nói rõ, có thể dựa theo đó [để biện định]. Huống hồ là vị La Hán lần lượt giáo hóa, tức là đã thuộc ý nghĩa “Bồ Tát xuất Giả”! Bởi lẽ, A La Hán đã giống như Thập Hạnh của Biệt Giáo cùng trừ Tứ Trụ [phiền não], tự có thể có tiến cao hơn, đoạn trừ Trần Sa trong pháp giới. Do vậy, ngài Tứ Minh nói: “Cũng có pháp duyên từ bi, thuận theo cõi đời để lợi lạc chúng sanh”.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2. Thuật xuất Định vấn đáp (tường thuật chuyện xuất Định vấn đáp)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.1. Vấn hạnh nghiệp (hỏi hạnh nghiệp của mẹ cô ta)

 

          (Kinh) La Hán vấn Quang Mục ngôn: “Nhữ  mẫu  tại  sanh, tác hà hạnh nghiệp? Kim tại ác thú, thọ cực đại khổ”.

          ()羅漢問光目言汝母在生作何行業今在惡趣受極大苦。

          (Kinh: La Hán hỏi Quang Mục rằng: “Mẹ cô khi còn sống đã làm hạnh nghiệp gì? Nay bà ta đang ở trong đường ác chịu khổ tột bậc”).

          “Tác” (作) là tạo tác. Như đức Phật đã nói: Tam giới, ngũ đạo, tội cấu khổ não, không gì chẳng do Tác! Hết thảy những thứ ngang trái chẳng phải do trời ban bố, mà là do tự làm, tự chịu! “Hạnh” có nghĩa là “chuyển dời”, là Tâm Sở pháp thuộc vào Ngũ Ấm. Do Vô Minh Hoặc từ quá khứ, dấy từ ba nghiệp, tạo tác các pháp, cho nên gọi là “hạnh nghiệp”. Nghiệp thành, báo hiện, cho nên ở trong đuờng ác, hứng chịu nỗi khổ to lớn tột bậc!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2. Đáp sở tập ([Quang Mục] đáp về những chuyện mẹ đã từng làm)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.1. Thuật sự, cầu cứu (thuật chuyện, xin cứu giúp)

 

          (Kinh) Quang Mục đáp ngôn: “Ngã mẫu sở tập, duy háo thực đạm ngư miết chi thuộc. Sở thực ngư miết, đa thực kỳ tử, hoặc sao, hoặc chử, tứ tình thực đạm. Kế kỳ mạng số, thiên vạn phục bội.

          ()光目答言我母所習唯好食噉魚鼈之屬。所食魚鼈多食其子或炒或煮恣情食噉。計其命數千萬復倍。

          (Kinh: Quang Mục đáp rằng: “Mẹ con quen thói chỉ thích ăn những loài cá và ba ba. Ăn cá, ba ba thì phần nhiều ăn cá con, ba ba con, hoặc chiên, hoặc nấu, mặc sức ăn nuốt. Tính theo sanh mạng, gấp ngàn vạn lần!”)

 

          “Sở tập” là tập tánh, tập khí. Chủng tử của tập khí ác huân tập bên trong, hiện hành chuyển tập khí thành điều ác. Tiếp đó, [kinh văn] nói đến chuyện tạo nghiệp. “Duy” (唯) nghĩa là chỉ có. “Háo” (好) là ham thích chẳng thể buông bỏ được. Nữ nhân tánh dịu dàng, nhưng dễ vướng mắc, hễ ham thích gì sẽ đắm đuối, chẳng bỏ được! Nay mẹ cô Quang Mục chỉ ham ăn nuốt cá và ba ba, không thể bỏ được ý thích ấy. Sách Tỳ Nhã[6] nói: “Miết dĩ nhãn thính, khung tích liên hiếp, giáp trùng dã. Nhất danh Thần Thủ (ngư mãn tam bách lục thập, long vi dẫn phi xuất thủy, nội miết tắc bất khứ)” (Ba ba dùng mắt để nghe, mai khom thành hình vòm, nối liền với hông, thuộc loại động vật có vỏ cứng, còn gọi là Thần Thủ – hễ cá đủ số ba trăm sáu mươi con thì rồng sẽ dẫn chúng bay vượt khỏi nước, nhưng trong chỗ nước ấy mà có ba ba thì cá chẳng thể vượt ra được). Sách Cổ Kim Chú[7] nói: “Ba ba là người hầu của Hà Bá” (trong thơ Phóng Sanh của ông Đào Hiết Am ở Cối Kê có câu: “Làm quan sầu giam hãm, thủy tộc khổ bị bắt”). Kinh Thi có câu “bào miết tiên ngư” là nói đến gỏi cá tươi. “Bào miết, khoái lý” (炰鼈膾鯉) tức là món nấu chín thì có ba ba nướng, món ăn tanh (ăn sống) thì có gỏi cá chép. Mẹ cô Quang Mục thường thích ăn những thứ ấy đó chăng? Đây là nói về chuyện sát sanh, kế đó nói về cách ăn.

          “Duy háo ngư miết chi tử, sao chử tứ thực” (Chỉ chuộng cá con, ba ba con, mặc tình chiên, nấu để ăn) tức là khiến cho mẹ lẫn con đều chết. Nhưng mạng mẹ là một, mạng con chẳng biết là bao nhiêu! Từ khi lập gia đình cho đến lúc chết, bà ta luôn quen thói làm như vậy, sát hại sanh mạng của mẹ con (cá, ba ba) chẳng thể tính toán được. Vì thế nói là “thiên vạn phục bội” (gấp mấy ngàn vạn lần). Đấy là đánh đổi tánh mạng của bao nhiêu con vật để cung phụng cho một bữa ăn. Không chỉ là nhẫn tâm, lại còn tổn phước! Ông Tô Đông Pha nói: “Đao xẻ cá, ba ba để làm một bữa ngon, người ăn thật đã, kẻ chết thật khổ!” Châu Ngung nói: “Tánh mạng đối với chúng cực khẩn thiết, ta lại phung phí tánh mạng chúng vì vị ngon”. Đấy đều là những lời lẽ buốt dạ của người có lòng nhân. “Tình” là do thiên chân (tâm tình thuần phác của mỗi người) cảm vật mà dấy động, là sự ham muốn nơi tánh. Nhân dục (lòng ham muốn của con người) chẳng thể gọi là “tình” được, vì khí chất của nó vọng động, cho nên trái nghịch thiên chân gấp bội tình. Ai thường kiềm chế, kiểm điểm, sẽ sợ hãi mà thả loài vật. Nếu một khi đã buông lung, sẽ chẳng thể nào ngăn dứt được! Vì vậy, Phó Đại Sĩ bảo: “Độc tự tinh, kỳ thật ly thanh danh, thôi kiểm tứ vận tịnh vô sanh, kinh cức tùng lâm hà xứ sanh?” (Tự tánh thanh tịnh tâm tinh diệu, thật sự lìa khỏi ngôn thuyết, danh tự. Suy lường tứ vận[8] hoàn toàn là vô sanh, rừng rậm gai góc còn sanh từ đâu được nữa?) Có thể nói là “khéo chế ngự vọng tình, tuân theo thiên chân” vậy.

 

          (Kinh) Tôn giả từ mẫn, như hà ai cứu?

          ()尊者慈愍如何哀救

          (Kinh: Tôn giả thương xót, [xin hãy chỉ dạy] cứu vớt bằng cách nào?)

          Từ chữ “tôn giả” trở đi là cầu xin hãy rủ lòng Từ cứu vớt. Vì mẹ con đã nghiệp sâu, tội nặng, hứng chịu nỗi khổ to lớn ấy. Nay khẩn cầu tôn giả từ bi xót thương, rốt cuộc con nên xót xa cứu bạt như thế nào đây?

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2. Phương tiện độ thoát

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.1. Niệm Phật, tạc tượng

 

          (Kinh) La Hán mẫn chi, vị tác phương tiện. Khuyến Quang Mục ngôn: “Nhữ khả chí thành niệm Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, kiêm tố họa hình tượng, tồn vong hoạch báo”.

          ()羅漢愍之為作方便。勸光目言汝可志誠念清淨蓮華目如來兼塑畫形像存亡獲報。

          (Kinh: La Hán thương xót, vì cô ta lập ra phương tiện. Khuyên Quang Mục rằng: “Con hãy nên chí thành niệm Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, và đắp, vẽ hình tượng thì kẻ còn lẫn người mất đều được thiện báo”).

          Niệm Phật, đắp tượng chính là phương cách để xót xa cứu vớt. Điều được duy trì trong tâm thì gọi là Chí, chữ Chí (志) gồm Tâm (心) và Chỉ (止) ghép lại, hàm ý: “Thâm trầm, kiên định”. Đức chân thật thì gọi là Thành (誠, chân thành), đó là cội rễ của tánh mạng. Do trời đạt được điều này (Thành) mà thành trời, do đất đạt được Thành mà thành đất, con người do đạt được Thành mà tự thành tựu. Chẳng Thành, chính là tự hoại, tuyệt trừ căn cội của tánh mạng, sụp lở, hư nát thiên địa của chính mình. [Chữ Thành (誠)] từ Thành (成) mà lập ý, chỉ thẳng chân tâm của con người; lại còn ghép thêm bộ Ngôn (言), nhằm lan truyền lòng thành của ta, chẳng khác gì thốt lời tiết lộ căn cội của trời vậy. Ghép hai chữ Thành (成) và Ngôn (言) để tạo thành chữ Thành (誠), nhằm diễn tả: Không chuyện gì chẳng chân thật. Thốt ra lời nói hay hành động, đều là vận dụng lòng Thành của ta, đều có công năng đạt đến nhất trí [giữa tâm niệm và hành vi, ngôn ngữ]. Niệm Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai chính là căn cội để khạc nhổ, bỏ đi tà kiến điên đảo, là cái gốc để nhổ trừ tham, sân, là cái nhân để tu niệm Phật, là cái quả để chứng thấy Phật. Vì thế, đức Phật dạy các tỳ-kheo: “Ngã diệt độ hậu, nhược xưng ngã danh, sở hoạch phước đức vô lượng vô biên. Cố giáo linh xưng Bổn Sư Phật danh dã” (Sau khi ta diệt độ, nếu xưng danh ta, sẽ đạt được phước đức vô lượng vô biên. Vì thế, dạy xưng danh của đức Bổn Sư Phật).

          “Tố họa hình tượng” (Đắp, vẽ hình tượng): Nhồi đất để tạo hình tượng là Tố (塑), dùng ngũ sắc để vẽ vời là Họa (畫). Như vua Ưu Điền (Udayana) hỏi đức Phật rằng: “Như sau khi đức Phật diệt độ, nếu có chúng sanh tạo hình tượng của Phật, sẽ đạt được phước gì?” Đức Phật bảo nhà vua rằng: “Nhược đương hữu nhân tác Phật hình tượng, công đức vô lượng, bất khả xưng kế, thế thế sở sanh, bất đọa ác đạo. Thiên thượng, nhân trung, thọ phước khoái lạc, nãi chí tác Đại Phạm Vương, đoan chánh vô tỷ, hậu giai đắc sanh Vô Lượng Thọ Phật quốc, tác đại Bồ Tát, tối tôn đệ nhất, đương đắc thành Phật, nhập Nê Hoàn đạo” (Nếu trong tương lai có người tạo hình tượng Phật, [người ấy] công đức vô lượng, chẳng thể tính kế: Đời đời sanh ra chẳng đọa vào đường ác. Ở trên cõi trời, hay trong cõi người, hưởng phước vui sướng, cho đến làm Đại Phạm Vương, đoan chánh khôn sánh. Về sau, sẽ đều được sanh vào cõi Phật Vô Lượng Thọ, làm đại Bồ Tát, tôn quý bậc nhất, sẽ được thành Phật, nhập đạo Niết Bàn). Vì thế, nay [La Hán] khuyên [Quang Mục] làm hai chuyện ấy khiến cho người mất lẫn kẻ còn đều được báo ứng tốt đẹp.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.2. Họa tượng, cúng lễ (vẽ tượng, cúng dường, lễ bái)

 

          (Kinh) Quang Mục văn dĩ, tức xả sở ái, tầm họa Phật tượng, nhi cúng dường chi. Phục cung kính tâm, bi khấp, chiêm lễ.

          ()光目聞已即捨所愛尋畫佛像而供養之。復恭敬心悲泣瞻禮。

          (Kinh: Quang Mục nghe xong liền bỏ ngay những vật mình yêu thích, vẽ tượng Phật để cúng dường. Lại dùng tâm cung kính, buồn khóc, chiêm ngưỡng, lễ bái).

          Vẽ tượng, cúng dường thì mọi người dễ làm; bỏ ngay những thứ chính mình yêu thích, người ta khó làm được! Nay đã bỏ vật yêu thích để vẽ tượng, cung kính, khóc lóc, lễ bái, cậy Phật cứu mẹ, dùng đạo để báo tình thân, cái tâm thuần hiếu sáng ngời thiên cổ vậy!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3. Dạ mộng kiến Phật (đêm mộng thấy Phật)   

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.1. Hiếu nữ kiến Phật cáo ngữ (hiếu nữ thấy Phật bảo ban)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.1.1. Nữ kiến thắng tướng (cô gái thấy tướng thù thắng)

 

          (Kinh) Hốt ư dạ hậu, mộng kiến Phật thân, kim sắc hoảng diệu, như Tu Di sơn, phóng đại quang minh.

          ()忽於夜後夢見佛身金色晃耀如須彌山放大光明。

          (Kinh: Chợt vào cuối đêm, mộng thấy thân Phật sắc vàng chói ngời như núi Tu Di, phóng đại quang minh).

          “Đêm mộng thấy Phật”: Kinh Tạp Bảo Tạng nói: “Phật pháp khoan quảng, tế độ vô nhai. Chí tâm cầu đạo, vô bất hoạch quả. Nãi chí hý tiếu, phước bất đường quyên” (Phật pháp mênh mông, tế độ chẳng ngằn mé. Chí tâm cầu đạo, không ai chẳng đắc quả. Cho đến cười giỡn, phước chẳng luống uổng). Vì thế, hiếu nữ bỏ vật ưa thích để vẽ tượng, buồn khóc, chiêm ngưỡng, lễ bái, Phật liền hiện thân, còn phóng quang minh. Do người có cảm, [Phật, Bồ Tát] từ bi ứng hiện phù hợp căn cơ. Sắc tướng, quang minh [hiển hiện] trong mộng để an ủi kẻ có lòng buồn thương, khẩn thiết. Theo luật Thiện Kiến[9], có bốn loại mộng:

          1) Mộng do Tứ Đại bất hòa (thấy núi lở, bay lên không trung, cọp, sói, giặc giã rượt đuổi v.v…)

          2) Mộng thấy những gì trước đó đã thấy (ban ngày thấy đen, trắng, nam, nữ, đêm liền mộng thấy [những hình ảnh đó]).

          3) Mộng thấy chư thiên (chư thiên hiện ra giấc mộng thiện, ác để dạy con người biết chuyện thiện, ác).

          4) Mộng do nghĩ tưởng (đời trước có phước hay tội chướng, nay hiện thành giấc mộng đẹp đẽ hay ác mộng).

          Hai loại đầu chẳng thật, hai loại sau chân thật. [Giấc mộng của cô Quang Mục] thuộc hai loại sau. Kinh Xuất Sanh Bồ Đề Tâm nói: “Nhược hữu mộng kiến Phật hình tượng, chư tướng cụ túc trang nghiêm thân, chúng sanh kiến giả ưng hoan hỷ, niệm đương tất tác Điều Ngự Sư” (Nếu nằm mộng thấy hình tượng Phật, thân có các tướng trọn đủ trang nghiêm, hãy nên hoan hỷ, nghĩ ta ắt sẽ làm bậc Điều Ngự Sư). Nay Quang Mục nằm mộng, há chẳng phải là thuần vì lòng đại hiếu xuất thế, cảm cách Đệ Nhất Nghĩa Thiên (Phật), đến nỗi có sự ứng hiện tốt lành đó ư? “Kim sắc…”: Phía Đông núi Đại Tu Di và bảy núi vàng tiểu Tu Di thuần là vàng ròng. Thân Phật chói ngời cũng giống như những núi ấy. Lại còn phóng quang minh, sắc tướng càng mầu nhiệm!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.1.2. Phật cáo sanh xứ (Phật bảo chỗ mẹ cô Quang Mục sanh về)

 

          (Kinh) Nhi cáo Quang Mục: “Nhữ mẫu bất cửu, đương sanh nhữ gia, tài giác cơ hàn, tức đương ngôn thuyết”.

          ()而告光目汝母不久當生汝家纔覺饑寒即當言說。

          (Kinh: Bèn bảo Quang Mục: “Chẳng bao lâu mẹ con sẽ sanh vào nhà con, vừa mới biết đói lạnh, sẽ liền nói năng).

          Mộng thấy thân Phật phóng quang dạy chỗ mẹ đã sanh về, là chuyện tuyệt lạ! “Sanh vào nhà con”: An ủi, dạy chỗ mẹ sanh về. “Tức ngôn thuyết” (Liền nói năng): Ngầm chỉ mẹ sẽ cầu cứu.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.2. Tội mẫu thác sanh tỳ gia (người mẹ có tội thác sanh vào nhà đầy tớ)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.2.1. Sanh xuất cầu cứu (sanh ra bèn cầu cứu)

         

          (Kinh) Kỳ hậu gia nội, tỳ sanh nhất tử. Vị mãn tam nhật, nhi nãi ngôn thuyết, khể thủ, bi khấp, cáo ư Quang Mục.

          ()其後家內婢生一子。未滿三日而乃言說稽首悲泣告於光目。

          (Kinh: Về sau trong nhà ấy, người hầu gái sanh một con trai. Chưa đầy ba ngày, đã có thể nói, nó dập đầu, buồn khóc, bảo Quang Mục).

          Kinh văn chia thành ba tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất nói về cái duyên sanh hạ. Từ chữ “sanh tử” (sống chết) trở đi, [là tiểu đoạn thứ hai], tường thuật cảnh khổ. Từ “mông nhữ” (mong ngươi) trở đi [là tiểu đoạn thứ ba] trần thuật sự nhờ cậy, cầu cứu. “Tỳ tử” (con của người tớ gái): Nô phụ (奴婦, vợ người đầy tớ) là mẹ sanh ra đứa bé ấy. Chữ Đà Sách Ca (Dāsaka) trong tiếng Phạn được cõi này dịch là Nô (奴, đầy tớ). Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng: “Kẻ nam mắc tội [phải làm tôi tớ] là nô, kẻ nữ mắc tội là tỳ”. Chữ Tỳ (婢) gồm chữ Nữ (女) và Ty (卑, kém hèn) ghép lại. Kinh Trường A Hàm nói: “Sanh tử đọa địa năng ngôn, cố danh Thanh Vương” (Sanh con ra, đứa bé rơi xuống đất bèn có thể nói, nên gọi là Thanh Vương). Nay mà trẻ mới sanh liền có thể nói, ai nấy đều sợ hãi, gọi là Đáng Sợ. Nay đứa trẻ mới sanh ba ngày, liền dập đầu, khóc lóc, kể lể cũng là chuyện quái dị. Phật lực khiến thành ra như vậy để kẻ ấy đừng mê mất túc duyên.

 

          (Kinh) Sanh tử nghiệp duyên, quả báo tự thọ. Ngô thị nhữ mẫu, cửu xử ám minh. Tự biệt nhữ lai, lũy đọa đại địa ngục.

         ()生死業緣果報自受。吾是汝母久處暗冥。自別汝來累墮大地獄。

          (Kinh: Nghiệp duyên sanh tử, quả báo tự chịu. Ta là mẹ ngươi, ở trong chốn tối tăm đã lâu. Từ khi giã biệt ngươi đến nay, đọa mãi trong đại địa ngục).

 

          Hai câu “sanh tử…” [diễn  tả] tình  lý  thảm  đạm. Bậc  hiền  nhân

thuở xưa đã nói: “Tử sanh cũng lớn thay”, há chẳng đau lòng ư? Nghiệp duyên là cái nhân của Thập Ác, quả báo ở trong tam đồ. Thập Địa Luận nói: “Giết chóc có ba quả báo. Một là dị thục quả, tức ba ác đạo. Hai là đẳng lưu quả, tức là trong đời người nhiều bệnh tật, đoản mạng. Ba là tăng thượng quả, tức là cảm ngoại vật đều kém tươi nhuận, chẳng tồn tại lâu dài”. Kinh Thụ Đề nói: “Hà vật tối uế trược? Sanh tử tối uế trược. Hà vật lạc địa ngục? Thập Ác lạc địa ngục. Tự tác, tự thọ; vô đại thọ giả” (Vật gì dơ bẩn nhất? Sanh tử dơ bẩn nhất! Vật gì đọa địa ngục? Thập Ác đọa địa ngục. Tự làm tự chịu, không ai chịu thay!) Kinh dạy: “Tác thị đắc thị, giai hành sở trí. Vô hoạnh dữ giả” (Làm gì được quả nấy, đều do đã làm mà ra, chứ không chuyện gì bỗng dưng mà có), chuyện ấy đã quá rõ ràng. Vì thế, luôn là chuyện đáng than thở cảm thương!

          “Cửu xử ám minh” (Ở trong chốn tối tăm đã lâu): Kinh Ngũ Khổ Chương Cú nói: “Đản tọa xan tham thực, cố đọa Hắc Thằng thành, Thiết Vi lưỡng sơn gian, yểu yểu hà minh minh. Thần thức đọa kỳ trung, bất đổ nhật nguyệt tinh, triển chuyển bất tương kiến, đản văn khiếu hô thanh” (Chỉ vì tham ăn uống, nên đọa ngục Hắc Thằng, giữa hai tầng núi Thiết Vi, mù mịt tối âm thầm, chẳng thấy ánh mặt trời, mặt trăng, xoay vần chẳng trông thấy, chỉ nghe tiếng thét gào) là nói về chuyện này.

          “Tự biệt” (Từ khi cách biệt): “Tự” (自) là kể từ khi. Vô Thường Kệ có đoạn: “Thân tri hàm khí xả, nhậm bỉ thằng khiên khứ, tương chí Diễm Ma Vương, tùy nghiệp nhi thọ báo, ác nghiệp đọa Nê Lê, tạo nghiệp khổ thiết thân” (Thân quyến đều buông bỏ, mặc dây thừng lôi đi, đến chỗ vua Diễm Ma, theo nghiệp mà thọ báo, ác nghiệp đọa Nê Lê, tạo nghiệp khổ cùng cực). Vì thế, từ đại địa ngục này sang một đại địa ngục khác!

         

          (Kinh) Mông nhữ phước lực, phương đắc thọ sanh, vi hạ tiện nhân. Hựu phục đoản mạng, thọ niên thập tam, cánh lạc ác đạo. Nhữ hữu hà kế, linh ngô thoát miễn?

          ()蒙汝福力方得受生為下賤人。又復短命壽年

十三更落惡道。汝有何計令吾脫免

          (Kinh: Nhờ phước lực của ngươi mới được thọ sanh, làm kẻ hạ tiện. Lại còn đoản mạng, thọ mười ba năm, lại rơi vào ác đạo. Ngươi có cách gì khiến cho ta được thoát khỏi hay không?)

          Từ “mông nhữ” trở đi, trước hết cho biết: Nhờ vào phước lực mà thoát tội trong quá khứ. Sau đấy mới cầu cứu hòng thoát nỗi khổ trong tương lai. Phước lực chính là [phước báo của việc] xưng danh, tạc tượng, [cho nên] thoát khỏi địa ngục, thọ sanh. “Hạ tiện, đoản mạng” là báo nhẹ của nghiệp nặng. “Cánh lạc ác đạo” (Lại rơi vào ác đạo) chính là dư ương chưa hết.

          Chữ Tát Câu Lô Đề trong tiếng Phạn được cõi này dịch là Mại Tánh, tức kẻ hạ tiện. Kinh Tứ Nhân Xuất Hiện nói: “Hoặc hữu nhân sanh ty tiện gia, cập dư bần tiện gia, vô hữu ẩm thực. Tuy phục đắc thực, xú uế nan thường. Sanh như thử gia, bỉ thân khẩu ý hành ác cố dã” (Hoặc có người sanh vào gia đình hèn kém và những gia đình nghèo hèn khác, chẳng có đồ ăn thức uống. Tuy có được đồ ăn, lại hôi thối khó nuốt. Kẻ sanh vào những gia đình như vậy là do thân, miệng, ý đã làm ác).

          “Đoản mạng”: Thọ mạng trong thế gian có ba hạng: Hạ phương là sáu mươi, trung phương là tám mươi, thượng phương là một trăm hai mươi tuổi. Nay tuổi thọ đã thuộc bậc hạ mà còn bị giảm bớt, chẳng phải là đoản mạng thì là gì? “Mạng”, theo kinh Đại Tập, nói về giai đoạn Ca La La[10], bèn có ba sự: Một là mạng, hai là hơi ấm, ba là thức. Thở ra hít vào thì gọi là Mạng, chủng tử của thức ấy được gọi là Thời Mạng Căn. Nương theo tâm mà giả lập, Mạng là năng y (chủ thể thực hiện sự nương tựa), tâm là sở y (cái để mạng nương vào). Nay đã sanh làm kẻ hạ tiện, lại còn đoản mạng, rồi lại rơi vào ác đạo. Ba quả trọn đủ, há chẳng khổ ư? Vì thế, liền cầu phương cách hòng thoát được, tránh khỏi!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.2.2. Thẩm vấn nghiệp hạnh (tra hỏi nghiệp hạnh)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.2.2.1. Chánh vấn bổn tội (hỏi thẳng tội gốc)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.2.2.1.1. Dĩ tác hà hạnh nghiệp trưng (gạn hỏi đã tạo hạnh nghiệp gì)

           

          (Kinh) Quang Mục văn thuyết, tri mẫu vô nghi, ngạnh yết bi đề, nhi bạch tỳ tử: “Ký thị ngã mẫu, hợp tri bổn tội, tác hà hạnh nghiệp, đọa ư ác đạo?”

          ()光目聞說知母無疑哽咽悲啼而白婢子既是我母合知本罪作何行業墮於惡道

          (Kinh: Quang Mục nghe nói, biết là mẹ chẳng nghi, nghẹn ngào, buồn khóc, thưa với đứa con của đầy tớ: “Đã là mẹ tôi, ắt biết tội mình đã tạo hạnh nghiệp gì mà đọa trong ác đạo?”)

 

          Trước hết là thuật chuyện. Đã nghe nói như trên, sự thật, tình thật, đã biết đúng là mẹ, chẳng còn hồ nghi! Vì thế, rè giọng, nghẹn lời, kêu khóc, buồn thương, Từ chữ “ký thị” (đã là) trở đi là gạn hỏi. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng “ký” (既) có nghĩa là Đã. Đã là mẹ tôi, phải biết đã tạo tội gì, lại gạn hỏi là vì sợ có chuyện trá ngụy.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.2.2.1.2. Dĩ sát mạ thọ báo đáp (trả lời: Do giết chóc và chửi bới mà thọ báo)

 

          (Kinh) Tỳ tử đáp ngôn: “Dĩ sát hại, hủy mạ, nhị nghiệp thọ báo. Nhược phi mông phước cứu bạt ngô nạn, dĩ thị nghiệp cố, vị hợp giải thoát”.

          ()婢子答言以殺害毀罵二業受報。若非蒙福救拔吾難以是業故未合解脫。

          (Kinh: Đứa con của người tớ gái đáp rằng: “Do hai nghiệp sát hại và hủy báng chửi bới mà thọ báo. Nếu chẳng nhờ phước của ngươi cứu vớt nạn cho ta, do vì nghiệp ấy, sẽ chưa được giải thoát”).

          Trước hết, trả lời ngay về cái nghiệp của chính mình mà thọ báo. Chỉ vì sát sanh và hủy mạ (hủy báng, chửi bới), tức hai nghiệp thân và miệng mà đến nỗi mắc quả báo địa ngục. Vì thế, trong kinh Hiền Ngu, cô Tô Mạn bảo các con: “Sát sanh chi tội đương nhập địa ngục, thọ chư khổ não, sổ thiên vạn tuế. Thường vi lộc đầu, thố đầu, chư cầm thú đầu. A Bàng ngục tốt chi sở liệp xạ, vô ương số tuế. Tuy tư giải thoát, kỳ hà do hồ?” (Do cái tội sát sanh sẽ vào địa ngục, chịu các khổ não mấy ngàn vạn năm! Thường làm thân nai, thân thỏ, thân các loài cầm thú, bị A Bàng ngục tốt săn bắn trải qua vô ương số năm. Tuy mong giải thoát, biết nhờ vào đâu?) Tuân Tử nói: “Dữ nhân thiện ngôn, noãn ư bố bạch. Thương nhân chi ngôn, thâm ư mâu kích” (Nói lời tốt lành với người khác, ấm áp hơn vải vóc. Nói lời tổn thương người khác, sâu hơn mâu, kích), huống hồ hủy báng, chửi bới ư?  

Vì thế, Thành Thật Luận nói: “Nếu kẻ nào ác khẩu, mạ lỵ nhiều cách, sẽ do những lời ấy mà thọ báo”. Vì thế, do hai nghiệp ấy mà gánh tội trong địa ngục. Từ chữ “nhược phi” (nếu không) trở đi, chỉ rõ: Do phước lực cứu vớt mà được giải thoát. Sát sanh đứng đầu các tội, hủy mạ đứng đầu muôn điều ác. Nếu chẳng do con gái ta được La Hán chỉ dạy, nhờ vào phước lợi do xưng danh, tạc tượng để cứu bạt hoạn nạn của ta, thì do báo ứng của hai nghiệp giết chóc và chửi bới, há có lúc giải thoát được chăng?

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.1.2.3.2.2.2.2.3.2.2.2. Chuyển trưng ngục báo (chuyển sang gạn hỏi tội báo trong địa ngục)

 

          (Kinh) Quang Mục vấn ngôn: “Địa ngục tội báo, kỳ sự vân hà?” Tỳ tử đáp ngôn: “Tội khổ chi sự, bất nhẫn xưng thuyết. Bách thiên tuế trung, tốt bạch nan cánh”.

          ()光目問言地獄罪報其事云何婢子答言罪苦之事不忍稱說。百千歲中卒白難竟。

          (Kinh: Quang Mục hỏi rằng: “Chuyện tội báo trong địa ngục là như thế nào?” Đứa con của người tớ gái đáp rằng: “Chuyện tội khổ chẳng nỡ nói kể. Trong trăm ngàn năm, khó thể nói trọn hết được”).

          Trước hết là Quang Mục hỏi, kế đó là đứa con của người tớ gái đáp. “Bất nhẫn” là những lời quá đáng chẳng thể thốt ra miệng hay nghe lọt vào tai nổi! Dù muốn nói ra, cũng chẳng thể hình dung được một phần. “Tốt” (卒) là trọn hết. “Cánh” (竟) là kết thúc. Dẫu trong trăm ngàn năm, chỉ sợ chẳng thể kể trọn hết những chuyện khổ được!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.2. Hiếu nữ phát nguyện (người con gái hiếu thảo phát nguyện)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.2.1. Quang Mục văn khổ, vị mẫu phát nguyện (Quang Mục nghe kể khổ, vì mẹ phát nguyện)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.2.1.1. Khấp hướng không giới, trần mẫu  khổ báo (khóc hướng lên không trung, thuật khổ báo của mẹ)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.2.1.1.1. Nguyện thoát hiện sanh báo (nguyện mẹ thoát khỏi khổ báo trong đời này)

         

          (Kinh) Quang Mục văn dĩ, đề lệ hào khấp, nhi bạch không  giới:

“Nguyện ngã chi mẫu, vĩnh thoát địa ngục. Tất thập tam tuế, cánh vô trọng tội, cập lịch ác đạo”.

          ()光目聞已啼淚號泣而白空界願我之母永脫地獄。畢十三歲更無重罪及歷惡道。

          (Kinh: Quang Mục nghe xong, thổn thức, trào nước mắt, gào khóc, mà bạch cùng hư không: “Nguyện cho mẹ con vĩnh viễn thoát khỏi địa ngục. Hết [tuổi thọ] mười ba năm, chẳng còn trọng tội và trải qua ác đạo nữa”).

          “Hào” (號) là khóc to. Trong tâm đau xé dạ, ngoài khóc lóc, kêu gào. Khóc hồi lâu tắt tiếng, thì gọi là Khấp (泣). Ôm lòng đau khổ, bạch cùng hư không: “Nguyện cố mẫu của con vĩnh viễn thoát khỏi địa ngục. Hết tuổi thọ mười ba năm ngắn ngủi, sẽ tiêu nỗi khổ dài lâu trong mười tám ngục, chẳng còn trải qua ác đạo, thọ khổ vô lượng nữa!”

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.2.1.1.2. Nguyện thoát hậu sanh báo (nguyện thoát báo trong đời sau)

 

          (Kinh) Thập phương chư Phật từ ai mẫn ngã, thính ngã vị mẫu sở phát quảng đại thệ nguyện: Nhược đắc ngã mẫu vĩnh ly tam đồ, cập tư hạ tiện, nãi chí nữ nhân chi thân, vĩnh kiếp bất thọ giả.

          ()十方諸佛慈哀愍我聽我為母所發廣大誓願若得我母永離三塗及斯下賤乃至女人之身永劫不受者。

          (Kinh: Mười phương chư Phật từ bi thương xót con, hãy nghe con vì mẹ phát thệ nguyện rộng lớn: Nếu mẹ con được vĩnh viễn thoát khỏi tam đồ và thân hạ tiện, cho đến muôn đời chẳng thọ thân nữ nhân).

          Cầu mười phương chư Phật hiện đang trụ trong hà sa thế giới trong đời này, một là hiển thị tâm thệ nguyện rộng lớn, hai là khẩn thiết cầu Phật rủ lòng Từ thương xót. “Tam đồ, hạ tiện” là như kinh Tâm Địa Quán đã nói: “Hoặc hữu dĩ tham đa tài, nhi vi khủng bố. Tự kỷ tài bảo hằng cầu tích tụ, nhi bất thọ dụng, hà huống năng thí bần phạp chúng sanh. Ư kỷ tài bảo, thâm sanh tham trước. Ư tha tài bảo, dục linh tổn giảm. Dĩ thị nhân duyên, mạng chung chi hậu, đọa đại địa ngục, thọ vô lượng khổ. Như thị khổ báo, danh vi đệ nhất chánh cảm chi quả. Tùng địa ngục xuất, thọ súc sanh thân. Thân thường lao khổ, thủy, thảo bất túc, kinh đa thời trung, thù tổn tha tài. Như thị chúng sanh, danh vi đệ nhị chánh cảm chi quả. Thọ thị tội dĩ, sanh ngạ quỷ trung, khốn cơ khát khổ, vô lượng thiên kiếp bất văn tương thủy ẩm thực chi danh. Kỳ yết như châm, kỳ phúc như sơn. Túng đắc ẩm thực, tùy biến vi hỏa. Như thị khổ thân, danh vi đệ tam chánh cảm chi quả. Tất thị tội dĩ, lai sanh nhân gian, bần cùng hạ tiện, vị tha sở sử. Ư chư tài bảo, sở cầu nan đắc. Ư nhất thiết thời, nhi bất tự tại. Như thị dư báo, danh tương tự quả” (Hoặc có kẻ do tham nhiều của cải, nên sợ hãi. Đối với của cải của chính mình, luôn mong tích tụ mà chẳng hưởng dụng, huống hồ có thể thí cho chúng sanh nghèo thiếu! Đối với của cải của chính mình bèn sanh lòng tham đắm sâu xa; đối với tài sản của người khác, cứ muốn họ bị hao tổn, giảm bớt. Do nhân duyên ấy, sau khi mạng chung, đọa vào đại địa ngục, chịu khổ vô lượng. Khổ báo như thế gọi là cái quả chánh cảm thứ nhất. Từ địa ngục thoát ra, làm thân súc sanh. Thân thường nhọc nhằn, khổ sở, cỏ, nước chẳng đủ. Trải qua nhiều lần [như vậy] để đền cái tội hao tổn tài sản của người khác. Chúng sanh như thế được gọi là cái quả chánh cảm thứ hai. Thọ tội ấy xong, sanh làm ngạ quỷ, khốn khổ vì đói khát, trong vô lượng ngàn kiếp, chẳng được nghe tên gọi của các thứ chất dịch, nước, đồ ăn thức uống. Cổ họng như cái kim, bụng to như núi. Dẫu được thức ăn, chúng sẽ biến thành lửa. Thân khổ sở như thế gọi là cái quả chánh cảm thứ ba. Tội ấy hết rồi, sanh vào nhân gian, nghèo túng, hạ tiện, bị kẻ khác sai khiến. Đối với các của cải, mong cầu mà khó được. Trong hết thảy các thời, chẳng được tự tại. Dư báo như thế, được gọi là cái quả tương tự), hết sức phù hợp [với những điều đang được nói] trong đoạn này. Chữ Giả (者) nhằm nhắc lại những chuyện trên đây, ý nói: Nếu như mẹ con thoát khỏi quả báo trong thân hiện tại và thân sau, con liền đối trước đức Phật phát nguyện độ sanh rộng lớn!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.2.1.2. Nguyện đối bổn Phật, phát ngã thệ tâm (nguyện đối trước đức Phật mà phát ra cái tâm thệ nguyện của ta)      

 

          (Kinh) Nguyện ngã tự kim nhật hậu, đối Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai tượng tiền, khước hậu bách thiên vạn ức kiếp trung, ưng hữu thế giới, sở hữu địa ngục cập tam ác đạo, chư tội khổ chúng sanh, thệ nguyện cứu bạt, linh ly địa ngục, ác thú, súc sanh, ngạ quỷ đẳng.

          ()願我自今日後對清淨蓮華目如來像前卻後百千萬億劫中應有世界所有地獄及三惡道諸罪苦眾生

願救拔令離地獄惡趣畜生餓鬼等。

          (Kinh: Nguyện con từ nay trở đi, đối trước tượng của Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, trong trăm ngàn vạn ức kiếp sau này, trong những thế giới nào mà có tất cả các chúng sanh tội khổ trong địa ngục và ba ác đạo, con thệ nguyện cứu bạt khiến cho họ lìa khỏi địa ngục, đường ác, súc sanh, ngạ quỷ v.v…)

 

          “Từ ngày hôm nay trở đi”: Nêu ra cái tâm ban đầu, bởi lẽ, mong đạt được vạn dặm, mà bước đầu chẳng cất bước, công [tu tập] trong ba đại A-tăng-kỳ kiếp, chẳng do phát tâm ban đầu thì làm sao đạt được? Vì thế, luận Cựu Tỳ Bà Sa[11] nói: “Nếu lìa sơ tâm, sẽ chẳng thành đạo vô thượng. Hết thảy công đức đều do sơ tâm”. Vì thế, biết kinh này trước sau bốn lượt nêu rõ sự phát tâm của ngài Địa Tạng. [Trong chánh kinh] “hậu” đã là “tiền” (trước), “kim” là lúc ban đầu. Vì thế nói “tự kim” (từ nay). “Đối Phật tượng tiền” (Đối trước tượng Phật): Nêu ra chỗ chủ yếu [để Quang Mục] nương vào mà phát tâm. Bách thiên vạn ức kiếp” (Trăm ngàn vạn ức kiếp) là thời gian trải qua. “Ưng hữu thế giới” (Hễ có thế giới): Nhằm nói trọn hết các quốc độ y báo. “Địa ngục…” ý nói: Đều độ hết những chúng sanh chịu khổ.

 

          (Kinh) Như thị tội báo đẳng nhân, tận thành Phật cánh, ngã nhiên hậu phương thành Chánh Giác.

          ()如是罪報等人盡成佛竟我然後方成正覺。

          (Kinh: Những kẻ tội báo như thế đều thành Phật hết rồi, sau đấy, con mới thành Chánh Giác).

 

          Từ chữ “như thị” trở đi nói rõ: Độ xong hết chúng sanh rồi mới tự thành Chánh Giác. Nhiều phen phát nguyện, không gì chẳng đều như thế. Vì thế biết: Công đức phát tâm ban đầu, dẫu ức kiếp xưng tụng, tán dương, vẫn chẳng thể trọn hết được!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.2.2. Không Phật cảm hiếu, tán nguyện, cáo sanh (đức Phật ở trên hư không cảm động vì lòng hiếu thảo, tán thán lời phát nguyện, và bảo cho biết chỗ mẹ sẽ sanh về)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.2.2.1. Ấn chứng tiền nguyện (ấn chứng lời nguyện trên đây)

 

          (Kinh) Phát thị nguyện dĩ, cụ văn Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai nhi cáo chi viết: – Quang Mục! Nhữ đại từ mẫn, thiện năng vị mẫu phát như thị đại nguyện.

          ()發是願已具聞清淨蓮華目如來而告之曰光目汝大慈愍善能為母發如是大願。

          (Kinh: Phát lời nguyện ấy xong, cô nghe trọn vẹn lời đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai bảo rằng: “Này Quang Mục! Con đại từ mẫn, khéo có thể vì mẹ phát nguyện to lớn như thế”).

 

          “Cụ” (具) là cùng với, đầy đủ. [“Cụ văn”] là nghe trọn đủ lời dạy ấy. “Đại từ mẫn” vì [lời phát nguyện] duyên pháp giới. “Thiện năng vị mẫu phát nguyện” (Khéo có thể vì mẹ phát nguyện): Tán thán cô Quang Mục đã phát tâm với trí huệ mẫn tiệp ấy. Nếu chỉ vì mẹ phát tâm, thì có hay khéo gì? Chính là vì cô ta đã dùng cái tâm độ rộng khắp, cầu cho mẹ sạch hết tội, ví như nước to ắt dập tắt lửa nhỏ, há có chuyện chẳng diệt ư? Vì thế, tán thán [lời phát nguyện của cô] đã hay lại khéo.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.1.2.2.2. Cáo chuyển hậu báo (bảo cho biết báo ứng thân sau)

 

          Gồm hai ý:

          – Chuyển thân hiện tại thành phạm chí [trong thân sau].

          – Chuyển thân sau thành Phật quả.

          Nay gộp cả hai khoa lại để giải thích vì kinh văn tuy tách biệt mà ý nghĩa liên quan.

         

          (Kinh) Ngô quán nhữ mẫu, thập tam tuế tất, xả thử báo dĩ, sanh vi Phạm Chí, thọ niên bách tuế. Quá thị báo hậu, đương sanh Vô Ưu Phật quốc, thọ mạng bất khả kế kiếp.

          ()吾觀汝母十三歲畢捨此報已生為梵志壽年百歲。過是報後當生無憂國土壽命不可計劫。

          (Kinh: Ta quán mẹ con, sau khi mười ba tuổi, xả báo thân này, sanh làm Phạm Chí, tuổi thọ trăm năm. Hết báo thân ấy, sẽ sanh vào cõi Phật Vô Ưu, thọ mạng chẳng thể tính kiếp).

               Lìa nhà hạ tiện, sanh trong dòng Tịnh Hạnh; đổi thân đoản mạng thành bậc Trường Thọ Tiên. Đấy là do sức niệm Phật và tạc tượng của hiếu nữ. “Phạm Chí” (Brahmachārin): Dịch sát nghĩa là Tịnh Duệ (淨裔), tức là dòng dõi của bậc tịnh phạm (phạm hạnh thanh tịnh), kế thừa, tu tập pháp của Phạm Thiên. Họ tự nói sanh từ miệng của Phạm Thiên, cho nên riêng họ có danh xưng là Phạm. Chỉ riêng Ngũ Thiên Trúc có [chủng tánh này], các nước khác không có. Kinh Trường A Hàm gọi họ là Bà-la-môn. Con vừa cầu Phật, phát tâm, ba báo của mẹ đều chuyển. Sanh ra liền là kẻ hạ tiện để chuyển báo trước. Lại sanh làm Phạm Chí, để chuyển báo trong hiện tại. Về sau thành tựu quả Phật, nhằm chuyển hậu báo. Quốc độ Vô Ưu tức là Cực Lạc, vì chuyển ưu thành lạc. Bởi lẽ, hễ sanh vào địa ngục, do bị thiêu đốt nên ưu sầu. Kế đó, sanh trong nhà kẻ tôi tớ, bèn lo sầu vì hạ tiện. Hết tuổi thọ mười ba, lại lo sầu vì đọa vào ác đạo lần nữa. Sau đó sanh làm Phạm Chí, sẽ lo sầu vì tà hạnh, tự đại. Nay các mối lo sầu đều dứt, cho nên sanh vào quốc độ Vô Ưu. Đức Phật và nhân dân trong cõi ấy thọ mạng vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp, cho nên nói là “thọ mạng bất khả kế kiếp” (thọ mạng chẳng thể tính kiếp).

 

          (Kinh) Hậu thành Phật quả, quảng độ nhân thiên, số như Hằng hà sa.

         ()後成佛果廣度人天數如恆河沙。

          (Kinh: Về sau thành Phật quả, rộng độ trời người, số nhiều như cát sông Hằng).

          “Quảng độ nhân thiên” (Rộng độ trời người): Xưa kia là người mẹ có tội, là tử tù được độ từ địa ngục, mai sau làm Như Lai, chính là bậc Đại Giác có thể hóa độ trời, người. Phát tâm tạc tượng, công không chi to bằng! Vì thế, trong kinh Nhất Thiết Pháp Cao Vương, đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Sơ phát Bồ Đề chi tâm, Bồ Tát Ma Ha Tát, tức phát tâm nhật, dĩ thị nhất thiết Thanh Văn, Duyên Giác, chúng sanh phước điền. Nhất thiết chúng sanh giai ư Bồ Tát trung sanh, Bồ Tát sở hóa” (Bồ Tát Ma Ha Tát sơ phát tâm Bồ Đề, ngay trong ngày phát tâm đã là phước điền của hết thảy Thanh Văn, Duyên Giác, và chúng sanh. Hết thảy chúng sanh đều do Bồ Tát mà sanh, được Bồ Tát hóa độ). Vì thế, chúng sanh được hóa độ nhiều như số lượng cát trong sông Hằng.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.2.2.2. Kết hội cổ kim (kết lại để dung hội xưa và nay)

 

          (Kinh) Phật cáo Định Tự Tại Vương: – Nhĩ thời, La Hán phước độ Quang Mục giả, tức Vô Tận Ý Bồ Tát thị. Quang Mục mẫu giả, tức Giải Thoát Bồ Tát thị. Quang Mục nữ giả, tức Địa Tạng Bồ Tát thị.

          ()佛告定自在王爾時羅漢福度光目者即無盡意菩薩是。光目母者即解脫菩薩是。光目女者即地藏菩薩是。

          (Kinh: Đức Phật bảo Định Tự Tại Vương: – Vị La Hán phước độ Quang Mục lúc bấy giờ chính là Vô Tận Ý Bồ Tát. Mẹ của Quang Mục chính là Giải Thoát Bồ Tát. Cô Quang Mục chính là Địa Tạng Bồ Tát).

          Xưa kia thành tựu tiểu quả, nay làm bậc Đại Thừa, hồi Tiểu hướng Đại vậy. Vô Tận Ý (Akṣayamati) thì như trong Biệt Hành Sớ[12] đã giải thích. Nay theo lời Ký thì: “Do nguyện và hạnh đều vô tận, đều là vô tác, cho nên có tên là Vô Tận, do đều chính là pháp giới, đều chứa đựng hết thảy Phật pháp”. Giải Thoát Bồ Tát (Vimoksa) xưa kia đọa vào thiết thành (thành bằng sắt), trải đủ mọi nỗi cay đắng. Lại sanh vào nhà tớ gái, lại còn đoản mạng. Về sau, làm Phạm Chí, rốt cuộc đọa vào dòng tà. Nay trở ngược lại làm bậc đại giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, có thể mong thành Phật quả. Còn Quang Mục do được La Hán chỉ dạy, mẹ cô ta do Quang Mục mà được siêu thăng. Nay đức Phật sắp kết thúc sự giáo hóa [trong cõi Sa Bà], sau khi thăng lên trời Đao Lợi, người hóa độ và kẻ được hóa độ đều cùng đến, con và mẹ cùng tới, cách biệt kiếp số dài lâu nhiều như cát trong sông Hằng, thế mà một hội nghiễm nhiên! “Đánh trống, gảy đàn tỳ bà, trở về cùng một nhà”[13], đó có phải là nói về chuyện này đấy chăng?  

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.2. Thị kim lợi ích (chỉ dạy sự lợi ích trong hiện tại)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.2.1. Kết chỉ đại nguyện (kết lại phần chỉ bày đại nguyện)

          Tiết này giống như trong phần tiểu kết của đoạn văn trước, hòng mở đầu cho khoa kế tiếp, tức là tiểu kết phần chỉ bày đại nguyện, chính là nhằm làm cho chúng sanh tạo ác trong đời vị lai sẽ quy kết về cội gốc để thoát khổ. Đối với chỗ hay khéo của việc lập thành từng khoa mà ý nghĩa vẫn nhất quán, các bậc hậu hiền chớ nên không biết!

 

          (Kinh) Quá khứ cửu viễn kiếp trung, như thị từ mẫn, phát Hằng hà sa nguyện, quảng độ chúng sanh.

          ()過去久遠劫中如是慈愍發恆河沙願廣度眾生。

          (Kinh: Trong kiếp lâu xa về đời quá khứ, đã từ mẫn như thế, phát nguyện nhiều như cát sông Hằng, rộng độ chúng sanh).

 

          Từ thuở đầu phát tâm [cho đến] sau khi được phó chúc, số kiếp dài lâu, há có thể tính toán, dò lường nổi ư? Câu “như thị từ mẫn” (từ bi xót thương như thế) nhằm tiểu kết đại lược bốn phen [phát nguyện] trên đây, [chỉ rõ Bồ Tát] đã phát nguyện rộng lớn trong Hằng sa kiếp. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa dẫn kinh Đại Thừa rằng: “Nếu có người hỏi: ‘Gì là căn bản của hết thảy các điều thiện?’ Hãy nên nói là lòng Từ! Lòng Từ nếu chẳng trọn đủ Thập Lực, Tứ Vô Sở Úy, ba mươi hai tướng của Phật thì là lòng Từ của Thanh Văn. Nếu trọn đủ [những điều ấy] thì là lòng Từ của Như Lai, tức là đại pháp tụ, tức là đại Niết Bàn. Sức Từ rộng sâu, trọn đủ hết thảy phước đức trang nghiêm”. Nay Địa Tạng Bồ Tát dùng cái tâm đại Niết Bàn để tu thánh hạnh, đạt được địa vị Vô Úy, có đủ hai mươi lăm phép Vương tam-muội, đại dụng không ngằn mé, là phạm hạnh chân thật. Vì thế, vừa nói “từ mẫn” thì công đức đã trọn đủ!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.2.2. Tán khuyến quy kính (tán thán, khuyên hãy quy kính)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.2.2.1. Ác giả quy kính thoát báo (kẻ ác do quy kính mà thoát khỏi ác báo)

 

          (Kinh) Vị lai thế trung, nhược hữu nam tử, nữ nhân, bất hành thiện giả, hành ác giả.

          ()未來世中若有男子女人不行善者行惡者。

          (Kinh: Trong đời vị lai, nếu có nam tử, nữ nhân, là kẻ  chẳng  làm

lành, chuyên làm ác).

          Phần đầu đoạn kinh văn này phân loại, liệt kê những kẻ ác. Từ chữ “nhược ngộ” (若遇, nếu gặp) [trong phần sau, tức từ “nhược ngộ thiện tri thức, khuyến linh…” (nếu gặp thiện tri thức khuyên…)] trở đi, [nói rõ]: Do quy y mà chuyển đổi quả báo. Hai pháp thiện và ác được sanh thành từ Ý. Ví như nước và lửa được sử dụng khác nhau. Vì thế, kinh dạy: “Thiện nghiệp ưng tu, ác hạnh ưng ly” (Nên tu thiện nghiệp, nên lìa hạnh ác). Thiện phước theo sát con người như bóng theo hình, chẳng thể rời được! Chuyện tội hay phước cũng đều y hệt như thế, chớ nên hồ nghi, kẻo tự đọa vào ác đạo! Tội, phước phân minh, tin chắc chẳng mê, sẽ trụ nơi an ổn dài lâu. Lời Phật chí thành, trọn chẳng lừa người! Kẻ chẳng tin nhân quả chính là Nhất Xiển Đề. Như Bà-la-môn Tệ Túc (Pāyāsi) thường ôm giữ những kiến giải khác lạ, nói “chẳng có đời khác, mà cũng chẳng có tái sanh, chẳng có thiện báo hay ác báo”, thường bảo người khác: “Bọn sa-môn dị kiến cứ nói kẻ sát sanh cho đến tà kiến thân hoại mạng chung, đều đọa trong địa ngục. Họ bảo kẻ chẳng sát sanh cho đến kẻ chẳng tà kiến thì thân hoại mạng chung đều sanh lên trời. Chưa từng thấy người chết trở lại kể về chỗ họ đọa vào. Vì vậy, ta chẳng tin có đời sau và thiện báo hay ác báo”. Ấy là vì ông ta chẳng hiểu nghiệp báo sai khác, cho nên mới rêu rao những lời lẽ bài bác, cho là không có nhân quả!

 

          (Kinh) Nãi chí bất tín nhân quả giả, tà dâm, vọng ngữ giả, lưỡng thiệt, ác khẩu giả, hủy báng Đại Thừa giả. N thị  chư  nghiệp

chúng sanh, tất đọa ác thú.

          ()乃至不信因果者邪婬妄語者兩舌惡口者毀謗大乘者。如是諸業眾生必墮惡趣。

          (Kinh: Cho đến kẻ chẳng tin nhân quả, kẻ tà dâm, nói dối, kẻ nói đôi chiều, nói lời thô ác, hủy báng Đại Thừa. Các chúng sanh tạo nghiệp

như thế, ắt đọa trong đường ác).

          “Nãi chí” (Cho đến): Chuyện ác lắm nỗi, chẳng thể nói đại khái bằng một hai điều được! Nhưng bất tín là tội nặng, cho nên đặc biệt chỉ ra. Tà dâm là đầu mối của ba ác nghiệp nơi thân. Chẳng phải là có dính líu tới ngoại sắc thì mới là tà, chỉ cần khởi tâm, đã là dâm dật, chẳng chánh đáng. Ấy là vì người đời chẳng biết toàn thân bất tịnh, lầm lạc đắm đuối vẻ đẹp cuốn hút, trái nghịch đạo Phạm Thiên (tịnh hạnh), chướng ngại Bồ Đề nghiệp, tạo thành cái nhân cho tứ sanh, thành tựu cái quả trong tam đồ, vun tưới khiến cho nghiệp càng thêm nặng. Vì thế, tội tà dâm đứng đầu trong những điều răn cấm của thánh đạo.

          “Vọng ngữ” là hư vọng, chẳng thật. Theo kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, vọng ngữ khiến cho kẻ khác phiền não, sẽ đánh mất công đức chân thật, thường như [ở trong chốn] tối tăm, dẫu còn sống mà như đã chết, cứ nói đao cắt lưỡi mình, [đau khổ] còn hơn lửa mạnh, rắn độc. Sau khi chết đi, đọa vào địa ngục, miệng tuôn mủ, máu v.v…

          Lưỡng Thiệt là một miệng nói hai lời, dường như có hai cái lưỡi! Kinh dạy: “Thái hỷ đa ngôn ngữ, tăng tham linh tha úy, khẩu quá tự khoa đản, lưỡng thiệt đệ nhất xử” (Quá thích nói năng nhiều, tăng tham, khiến người sợ. Miệng phạm lỗi khoe, dối, lưỡng thiệt tội đứng đầu).

          Ác Khẩu là thô ác rủa xả người khác. Kinh Pháp Cú nói: “Tuy vi sa-môn, bất nhiếp thân khẩu, thô ngôn, ác thuyết, đa sở trúng thương, chúng sở bất ái, trí giả bất tích, thân tử thần khứ, luân chuyển tam đồ. Tự tử, tự sanh, khổ não vô lượng. Chư Phật thánh hiền, sở bất ái tích” (Tuy làm sa-môn, chẳng nhiếp thân miệng, nói lời thô ác, tổn thương nhiều kẻ, mọi người chẳng mến, người trí chẳng tiếc. Thân chết, tâm đi, luân chuyển tam đồ. Tự chết, tự sống, khổ não vô lượng. Chư Phật thánh hiền, đều chẳng yêu tiếc). Giả sử thân chẳng phạm lầm lỗi, nhưng khẩu nghiệp chẳng thận trọng, vẫn đọa ác đạo! Đại Luận nói: “Một con quỷ đầu như đầu lợn, trùng thối từ miệng bò ra, thân có quang minh kim sắc. Con quỷ ấy đời trước là tỳ-kheo, ác khẩu chửi bới vị khách tỳ-kheo. Do thân giữ tịnh giới, cho nên có quang minh; do miệng thốt lời ác, cho nên trùng thối từ miệng rơi ra”. Vì thế, kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Ninh dĩ lợi kiếm tiệt cát kỳ thiệt, bất dĩ ác ngôn thô ngữ, đọa tam ác đạo” (Thà dùng gươm bén cắt phăng cái lưỡi, chẳng vì lời lẽ thô ác mà đọa trong ba ác đạo). Hủy báng Đại Thừa như trong phần trước và phần sau đã giải thích. “Các chúng sanh tạo nghiệp như thế”: Tổng kết những kẻ bất thiện ắt đọa vào đường ác, kết thành tội xứ.

 

          (Kinh) Nhược ngộ thiện tri thức, khuyến linh nhất đàn chỉ gian, quy y Địa Tạng Bồ Tát, thị chư chúng sanh, tức đắc giải thoát tam ác đạo báo.    

          ()若遇善知識令一彈指間歸依地藏菩薩是諸眾生即得解脫三惡道報。

          (Kinh: Nếu gặp thiện tri thức, khuyên hãy quy y Địa Tạng Bồ Tát trong khoảng một cái khảy ngón tay, các chúng sanh ấy liền được giải thoát quả báo trong ba ác đạo).

          Từ “nhược ngộ thiện tri thức” (nếu gặp thiện tri thức) trở đi, nói về sự giải thoát. “Nhược” (Nếu) là từ ngữ bất định. Trong ác mà nếu có mảy thiện thì hoặc là có thể gặp [thiện tri thức]; nếu không thì khó gặp! Sách Pháp Hoa Văn Cú viết: “Hoặc nói Tri là Thức, hoặc nói nghe tiếng là Tri, thấy hình dáng là Thức”. Nay [thiện tri thức] dạy [những kẻ ấy] trong khoảng một cái khảy ngón tay, hãy quy y Địa Tạng Bồ Tát, đấy là thiện tri thức thật sự, [những kẻ có tội ấy] liền được thoát khỏi ba ác báo. Theo Ma Ha Tăng Kỳ Luật (Sāṁghikavinaya), hai mươi niệm là một cái chớp mắt. Hai mươi cái chớp mắt là một cái khảy ngón tay. Theo luận Tân Tỳ Bà Sa, trong khoảng tráng sĩ khảy ngón tay đã trải qua sáu mươi bốn sát-na; nhưng quy y chỉ trong khoảng một cái khảy ngón tay đã giải thoát ngàn đời trong ác đạo! Sức quy y chẳng thể lường ngằn mé; vì thế, khuyên hãy quy y.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.1.2.2.2. Chí tâm phụng sự thọ phước (chí tâm phụng sự sẽ được phước)

         

          (Kinh) Nhược năng chí tâm quy kính, cập chiêm lễ, tán thán, hương, hoa, y phục, chủng chủng trân bảo, hoặc phục ẩm thực, như thị phụng sự giả.

          ()若能志心歸敬及瞻禮讚歎香華衣服種種珍寶

或復飲食如是奉事者。

          (Kinh: Nếu có thể chí tâm quy kính và chiêm ngưỡng, lễ bái, tán thán, dùng hương, hoa, y phục, các thứ trân bảo, hoặc lại dùng thức ăn, phụng sự như thế).

          Trước hết, nói đến sự cúng dường. Câu đầu tiên là nói chung. Những câu như “chí tâm…” ý nghĩa đã rõ. “Hương, hoa”, theo Mật Bộ, hương có thể giúp đạt được hoan hỷ tam-muội. Dùng thứ ấy để cúng dường, liền đạt được trí vô ngại của Như Lai. Hoa là bảo trang nghiêm tam-muội. Dùng nó để cúng dường, sẽ mau chóng đạt được được ba mươi hai diệu tướng của Như Lai. Từ ngữ Chấn Việt (Cīvara) trong tiếng Phạn được cõi này dịch là Y Phục. Y (衣, áo) là Y (依, nương nhờ); do nó có thể ngăn nóng lạnh, che giấu điều xấu xí. “Chủng chủng trân bảo” (Các thứ trân bảo): Phật Địa Luận có nói đến vô lượng món bảy báu.

          “Ẩm thực”: [Tiếng Phạn là] Bán Giả Bồ Thiện Ni (Pañcabhoja-nīya), tiếng Hán là Ngũ Đạm Thực (五噉食, năm thứ ăn nuốt), tức là cơm, bánh, bột rang v.v… Những thứ ấy gọi là Chánh Thực. Từ giờ Thìn tới giờ Ngọ, tùy ý ăn dùng. Sau giữa trưa, không được ăn nữa. Bán Giả Kha Đản Ni (Pañcakhādanīya), dịch sang tiếng Hán là Ngũ Tước Thực (五嚼食, năm món để cắn xé), tức là những thứ củ, thân, lá, hoa, quả v.v… Những món ấy được gọi Bất Chánh Thực. Sau khi thọ trai, không được ăn trái cây, rau dưa. Câu “như thị phụng sự” (phụng sự như thế) nhằm kết lại những thứ cúng dường trên đây để nhắc lại.

         

          (Kinh) Vị lai bách thiên vạn ức kiếp trung, thường tại chư thiên, thọ thắng diệu lạc. Nhược thiên phước tận, hạ sanh nhân gian, do bách thiên kiếp thường vi đế vương, năng ức túc mạng, nhân quả bổn mạt.

          ()未來百千萬億劫中常在諸天受勝妙樂。若天福盡下生人間猶百千劫常為帝王能憶宿命因果本末。

          (Kinh: Trong trăm ngàn vạn ức kiếp nơi đời vị lai, thường làm chư thiên, hưởng diệu lạc thù thắng. Nếu phước trời đã hết, bèn sanh trong nhân gian, vẫn trong trăm ngàn kiếp thường làm đế vương, có thể nhớ túc mạng và nhân quả đầu đuôi).

          Từ “vị lai” trở đi là nói về phước báo, nói rõ “sanh lên trời hưởng

phước”. Từ “nhược thiên phước” (nếu phước trời) trở đi, nói rõ về dư phước. Như kinh Bách Duyên [có chép] một người do nhân duyên hái hoa cúng Phật, mạng chung, sanh về Đao Lợi Thiên. Lại nữa, tỳ-kheo Chiên Đàn Hương lúc sanh ra, các lỗ chân lông trên thân tỏa mùi hương Chiên Đàn, miệng tỏa mùi thơm như hoa Ưu Bát La (Utpala, hoa sen xanh). Đấy là do Ngài đã dùng hương Chiên Đàn cúng dường tháp của Tỳ Bà Thi Phật (Vipaśyin). Đức dường như trời đất thì gọi là Đế (帝), do nhân nghĩa sanh ra thì gọi là Vương (王); như Ngũ Đế Tam Vương[14] trong thế gian.

          “Ức túc mạng…” (Nhớ túc mạng) là đắc Túc Mạng Trí. Như trong kinh A Ma Họa, đức Phật dạy: “Bỉ dĩ tâm định, thanh tịnh vô uế, nhu nhuyễn, điều phục, tiện năng ức thức túc mạng vô số nhược can chủng sự. Năng ức nhất sanh chí vô số sanh, kiếp số thành bại, tử thử, sanh bỉ, danh tánh, chủng tộc, ẩm thực, hảo ố, thọ mạng trường đoản, sở thọ khổ lạc, hình sắc, tướng mạo, giai tất ức thức” (Người ấy do cái tâm đã định, thanh tịnh, chẳng nhơ, nhu nhuyễn, điều phục, liền có thể nhớ biết vô số chuyện chừng đó trong đời trước. Có thể nhớ từ một đời đến vô số đời, kiếp số thành bại, chết đây, sanh kia, danh tánh, chủng tộc, các thứ ăn uống, ưa ghét, thọ mạng dài hay ngắn, khổ hay vui đã hứng chịu, hình sắc, tướng mạo, thảy đều nhớ biết). Vì thế, tuy từ cõi trời giáng hạ, làm bậc đế vương, nhưng hiểu rành rẽ, nhớ biết trăm ngàn kiếp trước! Thoạt đầu là do cái nhân chiêm ngưỡng, lễ bái đức Địa Tạng mà cảm cái quả sanh lên cõi trời. Cái gốc là thoạt đầu sanh lên trời, cái ngọn là nay làm vua, không chuyện gì chẳng nhớ biết và hiểu rõ. Ví như có người từ thôn xóm của mình đến quốc ấp khác, ở tại nơi ấy, đi, đứng, nói năng, im lặng. Lại từ cõi ấy đến nước khác, xoay vần như thế; sau đấy, trở về nước mình, chẳng nhọc tâm trí, mà có thể nhớ biết trọn hết những nước đã từng đi qua. Từ cõi này sang cõi kia, từ cõi kia sang chốn này, đi, đứng, nói năng, im lặng, thảy đều nhớ hết. Đấy chính là sức oai thần của ngài Địa Tạng, há có thể nghĩ bàn nổi chăng? Phần nói về lợi ích đã xong.

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.2. Kết hiển thần lực thông kinh (kết lại phần nói về thần lực, dạy hãy lưu thông kinh này)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.2.1. Như Lai kết hiển (Như Lai kết lại phần nói về thần lực)

 

          (Kinh) Định Tự Tại Vương! Như thị Địa Tạng Bồ Tát, hữu như thử bất khả tư nghị đại oai thần lực, quảng lợi chúng sanh. Nhữ đẳng chư Bồ Tát, đương ký thị kinh, quảng tuyên lưu bố.

          ()定自在王如是地藏菩薩有如此不可思議大威神力廣利眾生。汝等諸菩薩當記是經廣宣流布。

          (Kinh: Này Định Tự Tại Vương! Như đức Địa Tạng Bồ Tát này có sức oai thần to lớn chẳng thể nghĩ bàn như vậy, rộng lợi ích chúng sanh; hàng Bồ Tát các ông hãy nên ghi nhớ kinh này, lưu thông, truyền bá rộng rãi).

         

          Câu “như thị” kết lại phần nói về đấng có thể hóa độ. Câu “hữu như” nói rõ tác dụng ban bố [lợi ích]. Kinh nói về nhân và pháp chẳng thể nghĩ bàn như thế, há có nên chẳng ghi tạc trong tâm, lưu thông, truyền bá rộng rãi hay chăng?

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2. Đương cơ thừa mạng (bậc đương cơ vâng lãnh mạng lệnh)

3.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1. Ủy Phật, thông kinh (an ủi đức Phật, hứa nguyện lưu thông kinh này)

 

          (Kinh) Định Tự Tại Vương bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Nguyện bất hữu lự. Ngã đẳng thiên vạn ức Bồ Tát Ma Ha Tát, tất năng thừa Phật oai thần, quảng diễn thị kinh ư Diêm Phù Đề, lợi ích chúng sanh”.

          ()定自在王白佛言世尊願不有慮。我等千萬億菩薩摩訶薩必能承佛威神廣演是經於閻浮提利益眾生。

          (Kinh: Ngài Định Tự Tại Vương bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Xin đừng lo âu. Ngàn vạn ức Bồ Tát Ma Ha Tát chúng con ắt có thể nương vào oai thần của Phật mà rộng diễn kinh này trong Diêm Phù Đề hòng lợi ích chúng sanh”).

          Phật pháp phải nên lưu thông khắp các cõi  nhiều  như  cát, lợi  ích

chẳng hạn cuộc trong Diêm Phù! Nhưng người ở Nam châu, tánh thức vô định, ác nghiệp đặc biệt nhiều, cho nên phải phiền các vị Phật, Bồ Tát đặc biệt hướng đến Nam Thiệm Bộ Châu vậy!

 

3.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2. Bạch dĩ kính thoái (bạch xong, cung kính lui ra)

 

          (Kinh) Định Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Thế Tôn dĩ, hiệp chưởng cung kính, tác lễ nhi thoái.

          ()定自在王菩薩白世尊已合掌恭敬作禮而退。

          (Kinh: Định Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Thế Tôn xong, chắp tay, cung kính, làm lễ lui ra).

         

          Ý nghĩa đã rõ, ngài Định Tự Tại Vương vấn đáp đã xong.

3.2.2.2.2.2.2. Thiên vương vấn hà cánh lập thệ nguyện (thiên vương hỏi vì sao Bồ Tát còn lập thệ nguyện)

3.2.2.2.2.2.2.1. Thiên vương nhiếp tiền nghi vấn (thiên vương dựa theo những điều đã nói trước đó để nêu nghi vấn)

3.2.2.2.2.2.2.1.1. Kinh gia tự nghi (người trùng tuyên kinh trần thuật)

         

          (Kinh) Nhĩ thời, tứ phương thiên vương, câu tùng tòa khởi, hiệp chưởng cung kính.

         ()爾時四方天王俱從座起合掌恭敬。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, thiên vương bốn phương đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, cung kính).

          [Do các vị thiên vương ấy] ủng hộ cuộc đất thuộc bốn đại châu, ngăn ngừa ác quỷ xâm lăng, cho nên gọi là “tứ phương thiên vương”. Theo kinh Thế Ký, núi chúa Tu Di có bốn mặt, cao bốn vạn hai ngàn do-tuần. Cung điện nơi tứ thiên đại vương ngự có bảy tầng thành báu. Lan can, lưới mành, hàng cây, linh báu, mỗi thứ đều có bảy tầng. Vô số các loài chim cùng hòa tiếng hót.

          Vách núi phía Đông là hoàng kim, có thiên vương tên là Đề Đầu Lại Trá (Dhṛtarāṣṭra), cõi này dịch là Trì Quốc (持國), do vị này hộ trì quốc độ, thống lãnh Càn Thát Bà (Ghandarva, Hán dịch là Tầm Hương Hành, họ là nhạc thần thế tục của Thiên Đế) và Phú Đan Na (Bhūtana, Hán dịch là Xú (hôi thối), là loài mạnh mẽ nhất trong các ngạ quỷ, chuyên gây ra nhiệt bệnh).

          Mặt phía Nam bằng lưu ly, có thiên vương tên là Tỳ Lưu Lặc Xoa (Virūḍhaka), Hán dịch là Tăng Trưởng (增長), do Ngài khiến cho thiện căn của chính mình lẫn người khác tăng trưởng, thống lãnh Cưu Bàn Trà (Kumbhāṇḍa, Hán dịch là Ung Hình (甕形, [nghĩa là] có hình dạng như cái vò, là loài yếm mị quỷ) và Bệ Lệ Đa (Preta, hoặc Pitṛ, Hán dịch là Tổ Phụ Quỷ, là loài thấp kém nhất trong các ngạ quỷ).

          Mặt phía Tây của núi bằng bạch ngân, có  thiên  vương  tên  là  Tỳ

Lưu Bác Xoa (Virūpākṣa), Hán dịch là Tạp Ngữ (雜語), do vị này có thể nói các thứ ngôn ngữ, thống lãnh Tỳ Xá Xà (Piśāca, Hán dịch là Đạm Tinh Khí Quỷ (quỷ ăn tinh khí), còn gọi là Điên Cuồng Quỷ) và rồng độc (mắt độc, âm thanh độc, hơi độc, chạm vào sẽ bị trúng độc).

          Vách núi phương Bắc bằng thủy tinh, thiên vương tên Tỳ Sa Môn (Vaiśravaṇa), Hán dịch là Đa Văn (多聞), do tiếng tăm phước đức vang dội bốn phương, thống lãnh Dạ Xoa (Yaksa, Hán dịch là Khinh Tiệp (輕捷, nhẹ nhàng, nhanh nhẹn) vì chúng có thể bay rất nhanh trong hư không), La Sát (Rākṣasa, Hán dịch là Khả Úy (可畏, đáng sợ), còn gọi là Bạo Ác).

          Bốn thiên vương mỗi vị đều có chín mươi mốt đứa con, đều tên là Nhân Đà La (Indra), có đại thần lực; nhưng trong bốn vị trời này, Tỳ Sa Môn tôn quý nhất. Nếu Tỳ Sa Môn nghĩ tới họ, thiên vương ba phương đều nghiêm trang, ngự xa giá tới chỗ thiên vương Tỳ Sa Môn, đứng ở một bên. Vì thế, thiên vương phương Bắc thống lãnh ba phương kia. “Tùng tòa nhi khởi” (Từ chỗ ngồi đứng lên): Khâm thừa pháp yếu, do trong tâm khát ngưỡng, nên chắp tay, cung kính.

3.2.2.2.2.2.2.1.2. Thiên vương thuật nghi (thiên vương thưa bày điều nghi)   

          (Kinh) Bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát ư cửu viễn kiếp lai, phát như thị đại nguyện, vân hà chí kim, do độ vị tuyệt, cánh phát quảng đại thệ ngôn?”

          ()白佛言世尊地藏菩薩於久遠劫來發如是大願云何至今猶度未絕更發廣大誓言

          (Kinh: Bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa đến nay đã phát đại nguyện như thế, cớ sao cho đến giờ vẫn độ chưa hết, lại còn phát lời thề rộng lớn?”)

 

          Do [nghe đức Phật trần thuật] bốn phen hoằng thệ, bèn dựa theo những điều đáng nghi trên đây để thưa hỏi. Bởi lẽ, vị Đại Sĩ này từ kiếp lâu xa đến nay đã phát đại nguyện ấy, lẽ ra phải độ hết chúng sanh rồi. Nay đã độ chẳng hết, lại còn phát nguyện lần nữa, có phải là do nguyện lực chưa đạt tới? Hay là do chúng sanh khó độ ư? Vì thế nói là “vân hà” (cớ sao).

3.2.2.2.2.2.2.1.3. Nguyện Phật vị thuyết (xin đức Phật hãy nói cho)

          (Kinh) Duy nguyện Thế Tôn, vị ngã đẳng thuyết.

          ()唯願世尊為我等說。

          (Kinh: Kính mong đức Thế Tôn hãy nói cho chúng con biết).

 

          “Vị ngã đẳng thuyết” (Vì chúng con mà nói) là vì chuyện có mối tương quan. Do chúng con đang hộ trì bốn phương, mà Nam Châu đặc biệt lắm ác nghiệp. Vị Bồ Tát ấy tuy ôm tấm lòng cứu vớt của bậc đại sĩ, con cũng giữ tâm tư hộ trì thế giới khỏi tai ương. Vì thế, kính xin đức Phật hãy nói để chúng con thoát khỏi nghi thành, an ủi chúng sanh trong đời vị lai.

3.2.2.2.2.2.2.2. Như Lai vị hậu đáp thích (Như Lai vì chúng sanh trong đời mai sau mà trả lời, giải thích)

3.2.2.2.2.2.2.2.1. Tán hứa (khen ngợi, chấp thuận)

         

          (Kinh) Phật cáo tứ thiên vương: – Thiện tai! Thiện tai! Ngô kim vị nhữ, cập vị lai, hiện tại thiên nhân chúng đẳng, quảng lợi ích cố, thuyết Địa Tạng Bồ Tát ư Sa Bà thế giới, Diêm Phù Đề nội, sanh tử đạo trung, từ ai cứu bạt, độ thoát nhất thiết tội khổ chúng sanh phương tiện chi sự.

          ()佛告四天王善哉善哉吾今為汝及未來現在天人眾等廣利益故說地藏菩薩於娑婆世界閻浮提內生死道中慈哀救拔度脫一切罪苦眾生方便之事。

          (Kinh: Đức Phật bảo bốn vị thiên vương: – Lành thay! Lành thay! Ta nay sẽ vì lợi ích rộng rãi cho các ông và đại chúng trời người trong hiện tại và vị lai mà nói những sự phương tiện do Địa Tạng Bồ Tát từ bi, thương xót độ thoát hết thảy chúng sanh tội khổ trong đường sanh tử nơi Diêm Phù Đề của thế giới Sa Bà).

          Tán thán thiên vương gồm hai điều: Một là vì họ thưa hỏi hay khéo, hai là vì họ khéo hộ trì thế gian. Nói Sa Bà là bao gồm cõi đại thiên (tam thiên đại thiên thế giới). Nêu ra Diêm Phù tức là đặc biệt chú trọng Nam Châu (Nam Thiệm Bộ Châu). “Sanh tử đạo trung” (Trong đường sanh tử): Do lục đạo đều có sanh, lão, bệnh, tử; nay dùng sanh để bao gồm lão, dùng tử để nhiếp bệnh; vì thế, chỉ nói trước, sau, lược bớt trung gian. Thăng trầm đắp đổi, khổ lạc tương thông, sanh tử tuần hoàn, chưa từng ngưng nghỉ. Vì thế, Địa Tạng Bồ Tát vận dụng  vô  duyên  đại

từ để cứu vớt, tế độ.

          “Chúng sanh tội khổ”: Đức Phật nói: “Nhất thiết chúng sanh thường tại trường ngục, thập nhị trùng thành vi chi, tam trùng cức ly ly chi, lục tặc bạt đao tý chi, năng ư kỳ trung đắc thoát xuất giả, thậm nan, thậm nan!” (Hết thảy chúng sanh thường ở trong ngục dài, mười hai lớp thành vây bọc, ba tầng rào gai rào kín, sáu tên giặc tuốt đao truy tìm, kẻ có thể từ trong đó mà thoát ra rất ư là khó). “Trường ngục” là tam giới, “mười hai lớp thành” là mười hai nhân duyên, “ba tầng rào gai” là Tam Độc. Nay ngài Địa Tạng do vì những chúng sanh ấy mà tạo phương tiện độ thoát, khiến cho họ hiểu tam giới là Không, chẳng hành theo những tập quán của tam hữu (ba cõi) nữa, tức là “độ thoát tam giới”. Họ biết sự khởi diệt của mười hai nhân duyên, có thể vượt thoát gốc si, sẽ thoát khỏi mười hai lớp thành. Biết dâm, giận, si thì tam cấu sẽ không trói buộc nữa, ý chẳng còn đắm chấp, tức là dẹp được ba lớp rào gai. Hiểu rõ sáu tình thức đều chẳng có gốc ngọn, bèn lìa khỏi sáu tên giặc đang tuốt đao. Đấy đều là những chuyện Đại Sĩ khéo tạo phương tiện để độ thoát vậy.

3.2.2.2.2.2.2.2.2. Nguyện văn (tứ thiên vương mong được nghe)

          (Kinh) Tứ thiên vương ngôn: “Dụy nhiên! Thế Tôn! Nguyện nhạo dục văn”.

          ()四天王言唯然世尊願樂欲聞。

          (Kinh: Tứ thiên vương thưa: “Thưa vâng! Thế Tôn! Con ưa thích mong được nghe”).

         

          Trong kinh Hoa Nghiêm, Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát nói: “Tương thị hàm cung kính, nhất tâm tất chuyên ngưỡng, như phong niệm hảo mật, như khát tư cam lộ” (Nhìn ngắm, đều cung kính, nhất tâm chuyên chiêm ngưỡng, như ong nghĩ mật ngon, như khát mơ cam lộ). Nay [tứ thiên vương] cũng giống như thế; vì thế nói là “nguyện nhạo dục văn”.

3.2.2.2.2.2.2.2.3. Chánh cáo (dạy bảo)

3.2.2.2.2.2.2.2.3.1. Lược thị trùng phát nguyện ý (dạy sơ lược về ý nghĩa vì sao Bồ Tát phát nguyện nhiều lượt)          

          (Kinh) Phật cáo tứ thiên vương: “Địa Tạng Bồ Tát cửu viễn kiếp lai, ngật chí ư kim, độ thoát chúng sanh, do vị tất nguyện. Từ mẫn thử thế tội khổ chúng sanh, phục quán vị lai vô lượng kiếp trung, nhân mạn bất đoạn. Dĩ thị chi cố, hựu phát trọng nguyện”.

          ()佛告四天王地藏菩薩久遠劫來迄至於今度脫眾生猶未畢願。慈愍此世罪苦眾生復觀未來無量劫中因蔓不斷。以是之故又發重願。

          (Kinh: Đức Phật bảo tứ thiên vương: “Địa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa mãi cho đến nay độ thoát chúng sanh, nhưng nguyện vẫn chưa trọn hết. Ngài từ bi xót thương chúng sanh tội khổ trong đời này, lại quán trong vô lượng kiếp nơi đời vị lai, cứ dây dưa chẳng dứt. Do vì lẽ ấy, Ngài lại phát trọng nguyện”).

 

          Trước hết, thuật nguyện từ bi thuở trước, kế đến là nêu ra ý nghĩa vì sao Ngài lại phát nguyện. “Từ mẫn thử thế” (Từ bi, thương xót đời này): Kinh A Nan Phân Biệt chép: “Phật ân phi bất đại, tội do chúng sanh cố. Thế trược đa ác nhân, hoàn tự đọa điên đảo. Tự tác chúng tội bổn, mạng tận vãng vô trạch. Đao kiếm giải thân hình, dương đồng ốc kỳ khẩu. Tao ngộ chúng ách nạn, độc thống bất khả ngôn. Nhược sanh hoàn vi nhân, hạ tiện bần cùng trung” (Chẳng phải là ơn Phật không lớn, mà là do chúng sanh tự tạo tội. Đời trược có lắm kẻ ác, vẫn tự đọa vào điên đảo. Tự gây các gốc tội, khi mạng hết, sẽ ra đi không thể chọn lựa. Đao, gươm xẻ thân hình, nước đồng sôi rót đầy miệng. Gặp gỡ các thứ ách nạn, đau khổ dữ dội chẳng thể nói được. Nếu lại được làm người, thì là kẻ hạ tiện, nghèo túng). Vì thế, Đại Sĩ từ mẫn độ thoát họ.

          “Phục quán vị lai” (Lại thấy trong tương lai): Như kinh nói: “Thương sanh ngột mạng, kỳ tội mạc đại, oán đối tương báo, vô hữu đoạn tuyệt. Hiện thế bất an, sổ phùng tai hung. Tử nhập địa ngục, xuất ly nhân hình, đương đọa súc sanh, vị nhân đồ cát, dĩ nhục cung nhân, vô hữu cánh thời. Thế thế vi oán, hoàn tương báo thường. Thần đồng hình dị, tội thâm như thị. Ký do nghiệp duyên, triển chuyển tương nhân, thí như cát lũy, lũy ư cù mộc, oanh khiên bất đoạn” (Tổn hại sanh mạng, không tội nào lớn hơn, oán đối báo đền, chẳng có lúc nào chấm dứt. [Người phạm tội ấy] đời hiện tại bất an, nhiều lượt gặp tai nạn hung hiểm. Chết rồi đọa vào địa ngục, đánh mất thân người, sẽ đọa làm súc sanh, bị người khác cắt xẻ để lấy thịt cung ứng cho kẻ khác, chẳng có lúc nào xong. Đời đời bị kẻ oán trả thù. Thần thức chẳng đổi, thân hình đã khác. Tội sâu như thế là do nghiệp duyên, xoay vần làm nhân, ví như dây leo, bám vào cây to, quấn quít chẳng dứt).

          “Mạn” (蔓) thuộc loại dây leo. Ý nói như dây leo tràn lan. Tả Truyện viết: “Vô sử tư mạn, mạn, nan đồ dã” (Chớ để cho chuyện xấu phát triển tràn lan; nó đã tràn lan thì khó thể thâu thập được). Nay nghiệp chằng néo cái thân, hệt như dây leo mọc tràn lan trong hang, chỉ thấy lá nó um tùm, chẳng có chỗ nào ngưng dứt! Đấy là do Hoặc vun bồi nghiệp, do nghiệp được phiền não vun bồi mà sanh ra cái quả trong vị lai, do sanh trong vị lai nên lại tạo nghiệp, do nghiệp lại đọa vào khổ. Do vì lẽ ấy, lại nhọc nhằn Địa Tạng Đại Sĩ phát nguyện cực trọng lần nữa, cũng như dây leo tràn lan, phủ kín cả hang chẳng biết đâu vào với đâu!

3.2.2.2.2.2.2.2.3.2. Quảng minh tùy cơ thuyết pháp (nói chi tiết về việc Đại Sĩ tùy cơ thuyết pháp)

3.2.2.2.2.2.2.2.3.2.1. Đại sĩ độ thoát

3.2.2.2.2.2.2.2.3.2.1.1. Tổng thị phương tiện (dạy chung về phương tiện)

          (Kinh) Như thị Bồ Tát, ư Sa Bà thế giới Diêm Phù Đề trung, bách thiên vạn ức phương tiện, nhi vi giáo hóa.

          ()如是菩薩於娑婆世界閻浮提中百千萬億方便而為教化。

          (Kinh: Trong Diêm Phù của thế giới Sa Bà, Bồ Tát dùng trăm ngàn vạn ức phương tiện để giáo hóa như thế đó).

 

          Quang minh giáo hóa ứng khắp các căn cơ, ứng hiện trọn khắp Sa Bà. Bi nguyện tuyên dương rộng lớn, đặc biệt lưu truyền nơi Nam Thiệm Bộ Châu. Sách Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa nói: “Ba nghiệp của Bồ Tát không gì chẳng lợi lạc chúng sanh. Nay chỉ nói đến thân thuyết pháp, chẳng nói đến ý, mà dùng hai nghiệp kia để ứng hợp khít khao căn cơ của chúng sanh, đấy chính là sự thiện xảo của ý vậy. Nay dùng phương tiện thích đáng với thân luân và ý luân, nhằm xét soi thông suốt căn cơ”. Câu kế tiếp chính là nói đến khẩu luân thuyết pháp. “Trăm ngàn vạn ức” nhằm tỏ rõ: Nghiệp dụng bất đồng của cái tâm, thực hiện phương tiện hóa độ đối với mỗi căn cơ mỗi khác. Như quyển thứ mười bảy của bộ Đại Luận có viết: “Pháp Thân Bồ Tát biến hóa vô lượng thân vì chúng sanh thuyết pháp, nhưng tâm Bồ Tát chẳng có phân biệt. Như cây đàn của A Tu La thường tự phát ra tiếng, tùy ý tấu nhạc, chẳng cần người khảy, chẳng tán tâm, chẳng nhiếp tâm, do phước đức báo sanh, cho nên có thể tùy ý người nghe mà phát ra tiếng”. Pháp Thân Bồ Tát cũng giống như thế, chẳng phân biệt, cũng chẳng tán tâm, cũng chẳng có tướng thuyết pháp, do vô lượng phước đức, Thiền Định, trí huệ, tùy ý phát ra đủ mọi âm thanh. Vì thế, kinh Thập Luân tán thán: “Hiện tác chủng chủng thân, vị chúng sanh thuyết pháp, cụ túc Thí công đức, bi mẫn chư chúng sanh” (Hiện đủ mọi thứ thân, vì chúng sanh thuyết pháp, trọn đủ công đức Thí, thương xót các chúng sanh) là nói về ý này vậy.

3.2.2.2.2.2.2.2.3.2.1.2. Biệt minh thuyết pháp (nói riêng về các phương tiện thuyết pháp)

3.2.2.2.2.2.2.2.3.2.1.2.1. Chánh minh tùy cơ thuyết hóa (nói về sự tùy thuận căn cơ để thuyết pháp, hóa độ)

 

          Phàm là bậc có thể thuyết pháp thì có nhuyễn ngữ và khổ ngữ sai khác; giáo pháp được ban bố có Chân Đế và Tục Đế khác biệt. Do căn cơ phức tạp, hạnh sai khác, khiến cho giáo pháp khác biệt và cách hóa độ không giống nhau.

          Hỏi: Nghiệp báo khổ ấy đã chẳng phải là thiện sự, [vậy thì] chẳng bằng nói thẳng vào điều thiện khiến cho họ tu tập, cần gì phải xứng theo tình kiến của họ để nói những nghiệp khổ?

          Đáp: Nhân, quả, thiện, ác cần phải đối ứng với pháp. Nếu không nói lỗi của tham, sân v.v… sẽ do đâu mà hiển thị những thiện pháp? Nếu không tuyên xưng tam đồ là khổ, sẽ chẳng có cách nào hiển thị niềm vui trong cõi nhân, thiên! Vì thế, cần phải nói ra những hành vi tạo tội của phàm phu để người ta hay biết, sẽ chán lìa, trở về với thiện. Nếu là kẻ độn căn, nghe những nghiệp khổ ấy, khi họ sanh lòng chán nhàm, sẽ liền cầu niềm vui thế gian. Do đó, họ chuyển tâm, tu các phước nghiệp. Nếu là bậc lợi căn, nghe những khổ nghiệp ấy, khi sanh tâm chán nhàm, liền cầu giải thoát. Do vậy mà chuyển tâm, có thể tu đạo quán, liền có thể từ trong Hoặc, dấy lên cái nhân xuất ly. Vì thế, kinh dạy: “Nhất thiết phiền não giai thị Phật chủng” (Hết thảy phiền não đều là chủng tử để thành Phật). Do đó, biết khổ nghiệp chính là cái gốc để chán lìa, là cái duyên để dấy lên điều thiện; vì vậy, cần phải nói ra. Nếu chẳng nói những ác nghiệp, những hành vi tạo tội ấy, chúng sanh do chẳng nhận biết, sẽ cứ thường làm chẳng dứt. Tuy xứng theo tình kiến của họ mà nói các lỗi ác, nhưng ngoài tâm, chẳng có nghiệp khổ nào khác. Do kẻ ngu chưa thấu hiểu, cho nên nhất định cần phải nói đến tội. Vì thế, nương theo Tục Đế, thốt lời cay đắng, thiết tha để  giáo  hóa  họ. Nay  luận  bàn  về  điều  thứ

nhất.

          (Kinh) Tứ thiên vương! Địa Tạng Bồ Tát, nhược ngộ sát sanh giả, thuyết túc ương đoản mạng báo. Nhược ngộ thiết đạo giả, thuyết bần cùng khổ sở báo. Nhược ngộ tà dâm giả, thuyết tước, cáp, uyên ương báo.

          ()四天王地藏菩薩若遇殺生者說宿殃短命報。若遇竊盜者說貧窮苦楚報。若遇邪婬者說雀鴿鴛鴦報。

          (Kinh: Này tứ thiên vương! Địa Tạng Bồ Tát nếu gặp kẻ sát sanh, bèn nói báo ứng đoản mạng do túc ương (ương họa trong quá khứ). Nếu gặp kẻ trộm cắp, sẽ nói bị báo ứng bần cùng, khổ sở. Nếu gặp kẻ tà dâm, sẽ nói báo ứng làm chim công[15], bồ câu, uyên ương).

          Trước hết, nêu lên quả báo của Thập Ác. Giết, trộm, dâm là ba điều ác nơi thân. Sát sanh là tội nặng, nên nêu ra trước hết. Ai nấy đều yêu quý mạng sống, con vật nào cũng đều tham sống, ngay cả những thứ hàm linh ngọ ngoạy (sâu bọ) cũng đều có Phật Tánh. Giết chúng để ăn, tức là giết chư Phật. [Do vậy], thường đọa trong tam đồ, chịu vô lượng khổ. Nếu được làm người, các căn chẳng đầy đủ, thọ mạng tổn giảm. Như một con quỷ hỏi ngài Mục Liên: “Tôi sanh ra con trai, con gái, nhưng chúng nó đều chết sớm, nghĩ tưởng [dòng dõi sẽ bị] đoạn tuyệt. Do tội gì mà đến nỗi như thế?” Ngài Mục Liên đáp: “Khi ngươi làm người, thấy con cái sát sanh, bèn giúp cho chúng nó vui thích, cùng nhau ăn thịt những con vật ấy. Do giết chóc nên đoản mạng, do hoan hỷ nên đau đớn”.

          “Thiết đạo” (竊盜, trộm cắp): Tuân Tử nói: “Lén lấy vật dụng thì gọi là Đạo”. Tiền bạc, ngọc, lụa, là những thứ để nương cậy bên ngoài. Phan, hoa, vật dụng của Tăng là những thứ nội cúng dường. Trộm những thứ bên ngoài thì có thể sám hối, ăn cắp những thứ nội cúng dường, sẽ khó cứu nổi! [Do tội báo ấy] thường ở trong tam đồ, chịu khổ vô lượng. Nếu được làm người, sẽ bần cùng, khốn khổ, chư thiên lìa bỏ. Tức là ngoài không có gì để nương cậy, trong thì không có phước đức; cho nên đến nỗi bần cùng, khổ sở. Kinh Đăng Chỉ nói: “Đương tri bần cùng tỷ ư địa ngục. Bần cùng cẩu sanh, dữ tử vô biệt. Tân khổ đồ độc, thế sở vô ngẫu” (Hãy nên biết nghèo túng ví như địa ngục. Nếu sống bần cùng khác gì đã chết. Đắng cay, nhọc nhằn, khổ sở, trong đời không có gì sánh bằng). Kinh có mấy ngàn lời để rộng cảm thán nỗi khổ sở vì bần cùng.

          Tà dâm như đã nói trong phần trên. Từ ngữ Ma Do La (Māyūra) trong tiếng Phạn được cõi này dịch là Khổng Tước (孔雀, chim công). Tánh nó đố kỵ, thích khoe đuôi, không cần bạn phối ngẫu, ăn nằm với cả rắn, là loài vật dâm dục. Chữ Ca Bô (Kapotaka) trong tiếng Phạn, Hán dịch là Cáp (鴿, chim bồ câu). Bồ câu thích giao phối nhất. Thông thường thì chim trống đạp chim mái, loài này thì chim mái đè chim trống. Vì thế, “chim công bốn mùa có con, bồ câu mỗi tháng đều sanh con”. Chữ Chước Ca La Bà (Cakravāka) trong tiếng Phạn được cõi này dịch là Uyên Ương, tức là một loài chim luôn có cặp. Đậu thì cùng sánh đôi, bay thì cùng bay đôi, chim trống và chim mái chưa từng rời nhau. Nếu người ta bắt mất một con, con còn lại sẽ nhớ thương rồi chết. Vì thế nói: “Chim khách thích vụng trộm bên ngoài, uyên ương thích tưởng nhớ nhau”. Thế tục nói chim trống gọi là Uyên (鴛), chim mái gọi là Ương (鴦). Nếu sanh trong loài người, sẽ mắc hai thứ quả báo sau đây: Bản thân hay bị thưa kiện, bị vương pháp trừng phạt.

          (Kinh) Nhược ngộ ác khẩu giả, thuyết quyến thuộc đấu tránh báo. Nhược ngộ hủy báng giả, thuyết vô thiệt, sang khẩu báo.

          ()若遇惡口者說眷屬鬬諍報。若遇毀謗者說無舌瘡口報。

          (Kinh: Nếu gặp kẻ ác khẩu, [bảo họ] sẽ bị báo ứng quyến thuộc đấu đá, tranh chấp. Nếu gặp kẻ hủy báng, nói sẽ bị báo ứng không lưỡi, miệng lở).

          Đấy là bốn quả báo nơi miệng. Ác khẩu là một loại, còn “hủy báng” bao gồm cả ba thứ. Do khi hủy báng, sẽ trọn đủ vọng ngôn, lưỡng thiệt v.v… Về sau, được sanh làm người, sẽ có hai dư báo: Thường nghe tiếng ác, và luôn bị thưa kiện. Vì thế, trong kinh Báo Ân, đức Phật bảo ngài A Nan: “Nhân sanh thế gian, họa tùng khẩu xuất. Đương hộ ư khẩu, thậm ư mãnh hỏa. Mãnh hỏa xí nhiên, thiêu thế gian tài. Ác khẩu xí nhiên, thiêu thất thánh tài” (Người sống trong thế gian, họa từ miệng ra. Hãy nên giữ gìn cái miệng vì [lỗi họa do miệng] còn hơn lửa dữ. Lửa dữ cháy hừng hực, đốt của cải thế gian. Ác khẩu cháy hừng hực, đốt rụi thất thánh tài). Tai họa của hết thảy chúng sanh  do  miệng  mà  ra; “lưỡi

búa hủy thân, cái họa diệt thân” chính là nói đến chuyện này!

          “Hủy báng” là hủy nhục, phỉ báng. Kinh Đại Phương Quảng Tổng Trì nói: “Báng pháp chi nhân, cực đại trọng nghiệp, đọa tam ác đạo, nan khả xuất ly. Dĩ báng tha cố, thất thập kiếp trung, thọ đại khổ não, huống bỉ ngu nhân thật vô sở tri, nhi tự cống cao. Nãi chí phỉ báng nhất tứ cú kệ, định đọa địa ngục, vĩnh bất kiến Phật, đắc vô nhãn, vô thiệt chi báo. Cố bất khả bất thận dã!” (Kẻ báng pháp tạo nghiệp tột bậc to nặng, đọa vào ba ác đạo, khó thể thoát lìa. Do báng kẻ khác, trong bảy mươi kiếp, hứng chịu khổ não to lớn. Huống chi kẻ ngu ấy thật sự chẳng biết gì, mà còn tự kiêu căng. Dẫu chỉ phỉ báng một bài kệ bốn câu, nhất định đọa vào địa ngục, vĩnh viễn chẳng thấy Phật, mắc quả báo không mắt, không lưỡi. Vì thế, chớ nên không cẩn thận).

          (Kinh) Nhược ngộ sân khuể giả, thuyết xú lậu lung tàn báo. Nhược ngộ xan lận giả, thuyết sở cầu vi nguyện báo. Nhược ngộ ẩm thực vô độ giả, thuyết cơ khát yết bệnh báo.

          ()若遇瞋恚者說醜陋癃殘報。若遇慳說所求違願報。若遇飲食無度者說饑渴咽病報。

          (Kinh: Nếu gặp kẻ nóng giận, nói sẽ bị báo ứng xấu xí, tàn phế. Nếu gặp kẻ keo kiệt, nói sẽ bị báo ứng mong cầu chẳng được toại ý. Nếu gặp kẻ ăn uống vô độ, nói sẽ bị báo ứng đói khát, mắc bệnh về họng).

          Đây là chỉ dạy về ba quả báo thuộc về ý. Kinh Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi nói: “Nhân ư thế gian thường hỷ sân khuể, bất biệt thiện ác, tử nhập Thái Sơn, sổ thiên vạn tuế. Xuất sanh vi nhân, diện mục thường ác. Kim kiến ác sắc nhân, giai túc mạng sân khuể sở trí” (Người ở trong thế gian mà thường thích nóng giận, chẳng phân biệt thiện, ác, chết rồi sẽ vào Thái Sơn mấy ngàn vạn năm. Sanh ra làm người thì diện mạo thường hung ác. Nay thấy kẻ sắc diện hung ác đều là do đời trước nóng giận mà ra).

          “Xan lận” (Keo kiệt): Bản kinh vừa trích dẫn trên đây có chép: “Nhân đắc tài sản, xan tham, bất khẳng bố thí, bất ái thị chư gia. Bần cùng giả bất cấp dữ, bất cúng sự sa-môn, đạo sĩ, bất dữ khất nhi, bệnh nhân. Thực ẩm bất cảm tự bão, y bị bất cảm tự hoàn. Nhân hô thủ tài nô, hằng hà tàm quý. Tử đọa ngạ quỷ, kiến thủy tẩu ẩm, tiện hóa tiêu đồng, nùng huyết. Sanh xuất vi nhân, bần cùng đống ngạ, hung bất năng đắc. Kim hữu bần cùng khất nhân, giai túc thế xan tham si chủng sở trí” (Người có tài sản, nhưng keo kiệt, tham lam, chẳng chịu bố thí, chẳng biết xem xét, thương mến người khác. Đối với kẻ bần cùng chẳng ban cho, chẳng cúng dường, phụng sự sa-môn, đạo sĩ, chẳng cho kẻ ăn mày hay người bệnh. Tự mình chẳng dám ăn no; áo, mền chẳng dám có đủ. Người khác gọi kẻ đó là “đầy tớ giữ của”, luôn ôm nỗi hổ thẹn. Chết đi, đọa làm ngạ quỷ, trông thấy nước bèn chạy đến uống, nước liền hóa thành đồng nung chảy, máu mủ. Được sanh làm người, sẽ nghèo túng, chết rét, chẳng có gì để bỏ bụng. Nay có những kẻ ăn mày nghèo túng, đều là do chủng tử keo kiệt, tham lam, si mê trong đời trước tạo ra).

          Ăn uống cố nhiên là chuyện chẳng thể thiếu trong cuộc đời, nhưng ắt phải có lúc, có hạn lượng. Kinh Cửu Hoạnh có nói chuyện ăn không có chừng mực. Du Già Sư Địa Luận nói ăn quá mức sẽ dẫn đến cái chết ngang xương. Vì thế, cần phải biết điều độ (chẳng có điều độ thì chính là si). Tuân Tử nói: “Lười nhác, mong sống an nhàn, trốn việc, vô liêm sỉ, mà tham ăn tục uống thì có thể gọi là một gã trai trẻ xấu xa vậy”. Kinh Ngũ Khổ Chương Cú nói: “Thực vô tiết độ, ẩm tửu, tham vị, thị nhữ trọng đảm. Bất xả đảm giả, hậu nhập địa ngục” (Ăn không có chừng mực, tham vị ngon, chính là gánh nặng của ngươi. Chẳng bỏ gánh nặng, sau đó, sẽ vào địa ngục). Dựa theo đó, đói khát, bệnh về họng chỉ mới là hoa báo.  

Chữ Yết (咽) trong Yết Hầu (咽喉) đọc là Yết. Yết hầu có hai lỗ hở, cùng dẫn vào khoang bụng, nhưng vận hành khác nhau. Phía trước họng (chỗ có lưỡi gà đậy khí quản) chủ xuất, tức là con đường quan trọng để hơi thở ra vào. Phía sau yết hầu thì chuyên để nuốt, là cửa ải để vận chuyển đồ ăn thức uống. Chữ Yết trong “yết bệnh” (咽病, bệnh về họng), nghĩa bế tắc, tức là bệnh ăn bị nghẹn (hoặc nuốt đồ ăn khó khăn, ăn vào sẽ ói ra). Đấy chính là khí hóa ở vùng tam tiêu [trong cơ thể] không vận hành đúng mức, đến nỗi bị nghịch khí ở giữa ngực, chẳng nuốt đồ ăn thức uống xuống được. Kinh Đại Bảo Tích nói: “Như yết tắc bệnh, tức năng đoạn mạng” (Nếu bị bệnh nghẽn yết hầu thì có thể mất mạng); đúng là giống như tướng trạng của ngạ quỷ trong phần trước.

          (Kinh) Nhược ngộ điền liệp tứ tình giả, thuyết kinh cuồng táng mạng báo. Nhược ngộ bột nghịch phụ mẫu giả, thuyết thiên địa tai sát báo. Nhược ngộ thiêu sơn lâm mộc giả, thuyết cuồng mê thủ tử báo. Nhược ngộ tiền hậu phụ mẫu ác độc giả, thuyết phản sanh tiên thát hiện thọ báo. Nhược ngộ võng bộ sanh sồ giả, thuyết cốt nhục phân ly báo.

          ()若遇畋獵恣情者說驚狂喪命報。若遇悖逆父母者說天地災殺報。若遇燒山林木者說狂迷取死報。若遇前後父母惡毒者說返生鞭撻現受報。若遇網捕生雛者說骨肉分離報。

          (Kinh: Nếu gặp kẻ mặc sức săn bắn, bèn nói sẽ bị báo ứng kinh hãi, điên cuồng, mất mạng. Nếu gặp kẻ trái nghịch cha mẹ, bèn nói sẽ bị báo ứng trời đất giáng tai ương giết chết. Nếu gặp kẻ đốt núi rừng, cây cối, bèn nói sẽ bị báo ứng cuồng mê đến chết. Nếu gặp kẻ làm cha mẹ kế mà ác độc [đối với con riêng của chồng hay vợ], bèn nói sẽ bị báo ứng sanh trở lại [làm con cái của chúng nó] để bị đánh đập. Nếu gặp kẻ giăng lưới săn bắt chim non, bèn nói sẽ bị báo ứng cốt nhục chia lìa).

 

          Kế đó, nói về quả báo của các nghiệp khác nhau. Săn bắn được khởi xướng bởi Mật Hy Thị[16]. Do trong thiên hạ có nhiều loài thú, ông ta bèn dạy dân săn bắn, truy đuổi cầm thú, để trừ hại cho ruộng nương. Vì thế, xuân sưu, hạ miêu, thu tiển, đông thú[17] đều gọi là Liệp (獵, săn bắn). Nay săn bắn chỉ nhằm cầu lợi và thỏa thích cái miệng, mặc tình sát hại, cho nên đọa trong tam đồ. Sanh ra làm người, ắt bị quả báo kinh hãi, điên cuồng, mất mạng, như ngã xuống sông, rơi xuống hào, bị ngựa giẫm, xe đụng bị thương v.v… (Xưa kia, có một ông trưởng giả giàu có, chỉ sanh được một trai. Nó vừa mới cưới vợ được bảy ngày, do hái hoa cho vợ mà té khỏi cây chết tươi! Trưởng giả hỏi nguyên do, đức Phật dạy: “Xưa kia có một đứa trẻ giương cung bắn chim sẻ, bên cạnh có ba người cổ vũ tạo hứng cho nó. Hiện thời, cha mẹ và vợ [của đứa con đã chết] chính là ba người xưa kia đã cổ vũ”).

          Ổ Ba Đệ Thước trong tiếng Phạn, cõi này dịch Phụ Mẫu. Bột (𡥏) là đứa con trái nghịch. Chữ Bột do Tử (子) và Xuất (出) ghép lại, [hàm ý: Con cái] chẳng ngó ngàng đến cha mẹ. Lòng hiếu vốn là đối với đấng sanh ra ta, lòng nhân bắt nguồn từ đó. Đấy gọi là Thuận Đức. Quên mất gốc, chẳng yêu thương cha mẹ, thì gọi là Nghịch Đức, chẳng thuộc về loài người. Đã hành tà đạo, tự nhiên sẽ bị tai ương trời tru đất diệt! (Theo Quy Tâm Lục ghi chép, vào đời Tề, Hà Quân Bình ở Tương Châu, mẹ là Bùi Thị đẻ ra Bình lúc còn rất trẻ, sau đó không mang thai được nữa. Cha mẹ yêu quý Quân Bình như tròng mắt. Cho đến lúc hai mươi tuổi, không cho con ở phòng khác. Cha do đi sứ phải xuất ngoại, mẹ con gian díu với nhau. Về sau, cha trở về nhà, Quân Bình bèn cùng mẹ giết cha, chôn ở vườn sau. Trời giáng sấm sét, lộ xác cha ra. Sau đó, sét đánh xuống thân Quân Bình, ghi rõ nhân duyên. Họ hàng, láng giềng báo quan, truyền đến tai hoàng đế. Vua sắc truyền giết Bùi Thị, không cho thu nhặt hài cốt mai táng. Đấy chính là tội dâm mẹ, giết cha, trái lý, nghịch luân thường, phạm tội bậc thượng như loài lợn, chó. Vì thế, phơi thây để hạch tội như thế).

          “Thiêu núi rừng, cây cối”: Tổn thương sanh mạng quá nhiều! Kinh Phạm Võng dạy: “Nhược Phật tử dĩ ác tâm cố, phóng hỏa phần thiêu sơn lâm, khoáng dã, nhất thiết hữu tình vật bất đắc cố thiêu, đản nhất thiết thế nhân tâm hoài thảm độc, phần thiêu sơn dã. Hoặc nhân phong phóng hỏa, não hại nhất thiết; cố đắc mê cuồng thủ tử chi báo” (Nếu Phật tử do ác tâm mà phóng hỏa thiêu đốt núi rừng, đồng hoang, đối với hết thảy loài vật hữu tình, chẳng được cố ý thiêu đốt, nhưng hết thảy người đời ôm lòng thảm độc, thiêu đốt núi non, rẫy bái, hoặc theo hướng gió mà phóng hỏa, não hại hết thảy. Vì thế, mắc phải báo ứng cuồng mê đến chết). Xưa kia, quan Tư Mã họ Đỗ xứ Cù Châu, thoạt đầu làm quan úy tại Lạc Dương. Vùng Ngọ Kiều ở phía Nam thành [Lạc Dương] có nhà dân bị hỏa hoạn, thiêu chết mấy người. Chợt có một người chạy loạng choạng đến cửa huyện nha, chạy vọt ra rồi lại chạy vào. Ông Đỗ sai người bắt lấy tra hỏi, hắn ta thưa: “Tôi chính là người giết cư dân ở Ngọ Kiều. Tôi kết bè kéo đảng với năm đứa khác, cướp tài vật cả mấy trăm ngàn, rồi thừa cơ phóng hỏa đốt trụi. Khi sắp trốn thoát, chân chẳng thể bước lên được. Sáng ra, đi về phía Nam, có lửa cản đường. Do vậy, chạy về phía Bắc, lại có lửa nung tâm, xua chạy vào cửa huyện nha, tự biết chẳng thoát khỏi được!” Ông Đỗ bèn bắt trọn băng cướp, giải lên quận tử hình). Theo Tam Pháp Độ Luận, Khốc địa ngục chính là chỗ trả báo của những kẻ hỏa thiêu đồng hoang và hun đốt hang động của chúng sanh.

          “Tiền hậu phụ mẫu” tức là cha hay mẹ kế. Do nó chẳng phải là con do chính mình đẻ ra, bèn đối xử ác độc. Như kế mẫu của Đại Thuấn hoặc Mẫn Tổn (Mẫn Tử Khiên) là hạng người ấy. “Phản sanh tiên thát hiện thọ”: Tạo hóa xoay chuyển vô thường, thế cuộc xoay vần, [cha mẹ ghẻ độc ác ắt phải] đền trả trong đời khác, hoặc ngay trong đời hiện tại, [do đánh đập] lỡ tay đến nỗi con bị chết mất, đành phải chịu tội chốn công đình. Hoặc con bị dồn ép căm phẫn quá mức, đánh đấm ngược lại, làm sao có thể nói nhất định cho được? Người đời nay chẳng biết lý này, cứ mặc sức đòn vọt, chỉ sợ là ngay trong đời này báo ứng chẳng sai!

          “Võng bộ sanh sồ” (Giăng lưới bắt chim non): “Sồ” (雛) là chim non. Chim mới sanh có thể tự mổ thì gọi là Sồ. Hoặc giăng lưới để bẫy, hoặc bắt sống, đều chuốc lấy báo ứng cốt nhục chia lìa. Do người và chim thân hình tuy khác, tình mẹ con giống hệt như nhau (Xứ Tân Cam có Dương Sanh sống bằng nghề bắt chim sẻ. Một hôm, có con chim én đậu trên cây, Sanh cầm sào có nhựa dính trèo lên [toan bắt], cành gẫy bèn ngã xuống, đầu đâm vào sào, thấu tới óc, chảy máu đầm đìa mà chết). Vì thế, Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều răn cấm chuyện này!

          (Kinh) Nhược ngộ hủy báng Tam Bảo giả, thuyết manh, lung, ấm, á báo. Nhược ngộ khinh pháp mạn giáo giả, thuyết vĩnh xử ác đạo báo. Nhược ngộ phá dụng thường trụ giả, thuyết ức kiếp luân hồi địa ngục báo. Nhược ngộ ô phạm vu tăng giả, thuyết vĩnh tại súc sanh báo.

          ()若遇毀謗三寶者說盲聾瘖瘂報。若遇輕法慢教者說永處惡道報。若遇破用常住者說億劫輪迴地獄報。若遇污梵誣僧者說永在畜生報。

          (Kinh: Nếu gặp kẻ hủy báng Tam Bảo, nói sẽ bị báo ứng mù, điếc, ngọng, câm. Nếu gặp kẻ khinh mạn giáo pháp, nói sẽ bị báo ứng vĩnh viễn ở trong ác đạo. Nếu gặp kẻ xài phung phí của thường trụ, bèn nói sẽ bị báo ứng ức kiếp luân hồi trong địa ngục. Nếu gặp kẻ ô nhục, mạo phạm, vu hãm Tăng Già, nói sẽ bị báo ứng vĩnh viễn làm súc sanh).

 

          Đây là nói về quả báo đối với Tam Bảo. Phật như y vương, pháp như thuốc hay, Tăng như người xem bệnh. Nay hủy báng tức là chẳng có tín tâm. Kinh Thập Luân nói: “Nhược hữu Sát-lợi Chiên-đà-la, ư Tam Bảo sở khởi ư ác tâm, nhất thiết chư Phật sở bất năng cứu, thường đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nhược đắc vi nhân, manh, lung, ấm, á” (Nếu có kẻ Chiên-đà-la trong dòng Sát-lợi khởi tâm ác đối với Tam Bảo, hết thảy chư Phật đều chẳng thể cứu, thường đọa trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu được làm người thì mù, điếc, ngọng, câm). Than ôi! Mù thì vĩnh viễn chẳng thấy tướng Tam Bảo. Điếc thì vĩnh viễn chẳng nghe danh tự Tam Bảo. Ngọng câm thì vĩnh viễn chẳng thể tán dương đức của Tam Bảo được. Tuy sống mà như đã chết, tối tăm như trong đêm dài. Vì thế, kinh dạy: “Ninh thôn nhiên thán, vô báng tam tôn dã” (Thà nuốt than hồng, chẳng báng Tam Bảo).

          “Khinh pháp mạn giáo”: Như trong kinh Kiên Ý, đức Phật bảo ngài A Nan: “Ngã kim Thiền Định, lân thương thế nhân, bất tri Phật đạo chân chánh hoằng thâm, nhi dĩ thiển ngụy khinh bạc chi ngôn, dục thiết tật tâm, báng hủy đạo căn, hoặc hoại đạo pháp, khinh hủy sa-môn, cập Ưu-bà-tắc, ác khẩu, vọng ngôn. Đương minh thử nhân, vi tội sở khiên” (Ta nay trong Thiền Định, thương xót người đời do chẳng biết Phật đạo thật sự rộng sâu, bèn dùng lời lẽ nông cạn, hư ngụy, khinh bạc, toan dùng cái tâm ganh ghét để hủy báng gốc đạo, khinh hủy sa-môn và Ưu-bà-tắc, ác khẩu, nói dối. Hãy nên biết người ấy bị tội lôi dắt). Kinh Thắng Thiên Tử nói: “Nhược hữu pháp sư lưu thông thử kinh, thử địa tức thị Như Lai sở hành. Ư bỉ pháp sư, đương sanh thiện tri thức tâm, tôn trọng chi tâm, do như Phật tâm. Ngã nhược trụ thế nhất kiếp, nhược giảm nhất kiếp, thuyết thị lưu thông thử kinh pháp sư công đức, bất năng cứu tận” (Nếu có pháp sư lưu thông kinh này, nơi ấy chính là chỗ Như Lai đi, hãy nên đối với pháp sư mà sanh tâm coi như thiện tri thức, tâm tôn trọng, tâm coi như Phật. Nếu ta trụ thế một kiếp, hoặc ít hơn một kiếp, nói công đức của vị pháp sư lưu thông kinh này, chẳng thể nói trọn hết được).  

Nay đã khinh mạn giáo pháp, ai cứu giúp, che chở được? Vĩnh viễn ở trong ba ác đạo, hứng chịu ngàn vạn ức khổ não; muốn được làm thân người, [khó khăn] như rùa mù [từ đáy biển ngoi lên] gặp đúng bộng cây nổi vậy!

          “Phá dụng thường trụ” (Xài phung phí của thường trụ) như trong phần trên [đã giải thích]. “Ô phạm” như trong phần trước [đã giải thích]. “Vu tăng” (Vu báng tăng) là dùng vô căn ba-la-di[18], báng các vị tỳ-kheo. Như ông Câu Già Ly (Kokālika) báng bổ ngài Thân Tử (Xá Lợi Phất) và Mục Liên hành bất tịnh hạnh, bèn cảm thân sanh ghẻ độc, đọa vào địa ngục Đại Liên Hoa, thè lưỡi to lớn, năm trăm cái đinh đóng xuống, năm trăm lưỡi cày cày lên! Vậy thì vĩnh viễn làm súc sanh vẫn là dư báo sau khi làm quỷ trong địa ngục vậy!

          (Kinh) Nhược ngộ thang, hỏa, trảm, chước thương sanh giả, thuyết luân hồi đệ thường báo. Nhược ngộ phá giới phạm trai giả, thuyết cầm thú cơ ngạ báo. Nhược ngộ phi lý hủy dụng giả, thuyết sở cầu khuyết tuyệt báo.

          ()若遇湯火斬斫傷生者說輪迴遞償報。若遇破戒犯齋者說禽獸饑餓報。若遇非理毀用者說所求闕絕報。

          (Kinh: Nếu gặp kẻ dùng nước sôi, lửa, chặt, chém tổn thương chúng sanh, bèn nói sẽ bị báo ứng luân hồi đền trả. Nếu gặp kẻ phá giới, phạm trai, bèn nói sẽ bị báo ứng làm cầm thú đói khát. Nếu gặp kẻ phi lý hủy hoại vật dụng, bèn nói sẽ bị báo ứng những thứ cần dùng bị thiếu thốn hoặc chẳng có).

          Đây là nói về quả báo của các nghiệp khác nhau. “Thang, hỏa, trảm, chước” là cách để sát sanh. Dùng nước sôi (thang) để vặt lông, dùng lửa (hỏa) để nướng thân, hoặc chặt đầu (trảm), hoặc chém chân (chước). Kinh nói: “Dĩ nhân thực dương, dương tử vi nhân, hỗ tương thôn đạm, vô hữu cùng dĩ” (Do người ăn dê, dê chết thành người, ăn nuốt lẫn nhau, chẳng có cùng tận). Vì thế nói “luân hồi đệ thường” (luân hồi lần lượt đền trả).

          “Phá giới”: Nếu phá luật nghi, thô tội dễ thấy; nếu như [kẻ ấy] mang hình tượng tương tự trì giới thì tế ác (điều ác vi tế) sẽ khó biết. Trong Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, đức Phật bảo ngài Ca Diếp: “Hữu tứ chủng phá giới tỳ-kheo, tự như trì giới. Nhất, hữu tỳ-kheo ư giới kinh trung, tận năng cụ hành, nhi thuyết hữu ngã. Nhị, hữu tụng trì kinh luật, thủ hộ giới hạnh, ư thân kiến trung bất động, bất ly. Tam, hữu cụ hành thập nhị Đầu Đà, nhi kiến chư pháp định hữu. Tứ, hữu duyên chúng sanh hành từ tâm, văn chư hành vô sanh tướng, tâm tắc kinh bố. Thị danh phá giới tự như trì giới” (Có bốn loại tỳ-kheo phá giới mà dường như trì giới. Một là có tỳ-kheo đối với giới kinh đều có thể hành trọn đủ, nhưng nói có Ngã. Hai là có tỳ-kheo tụng trì kinh luật, thủ hộ giới hạnh, nhưng đối với Thân Kiến chẳng động, chẳng lìa. Ba là có kẻ hành trọn mười hai hạnh Đầu Đà, nhưng thấy ‘các pháp nhất định là có’. Bốn là có kẻ hành từ tâm đối với chúng sanh, nhưng nghe các hành chẳng có tướng sanh, tâm bèn kinh sợ. Đó gọi là phá giới mà giống như trì giới).

          “Phạm trai” là như đức Phật trả lời ngài Xá Lợi Phất: “Phi thời thực thị phá giới nhân, thị phạm đạo nhân. Dữ giả diệc nhiên, phi ngã đệ tử, thị danh đạo thực phi pháp chi nhân. Đạo dữ, đạo thọ phiến diêm, phiến tạc, giai tử đọa Tiêu Tràng địa ngục, thôn nhiệt thiết hoàn. Tùng địa ngục xuất, sanh trư cẩu trung, thực chư bất tịnh. Hựu sanh ác điểu, nhân quái kỳ thanh. Nãi chí ngạ quỷ thực phẩn, nhân trung bần tiện” (Kẻ ăn phi thời là người phá giới, là kẻ phạm tội trộm cắp! Người cho [kẻ ấy ăn] cũng giống như thế, chẳng phải là đệ tử của ta, mà gọi là “kẻ trộm ăn, phi pháp”. Trộm cho, trộm nhận chút muối, chút dấm, chết đi đều sẽ đọa vào địa ngục Cháy Ruột, nuốt hòn sắt nóng. Từ địa ngục thoát ra, sanh trong loài lợn, chó, ăn những thứ bất tịnh. Lại sanh làm chim ác, người ta ghét sợ tiếng của nó. Cho đến làm quỷ đói ăn phân, hoặc là kẻ bần tiện trong loài người). Theo kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, thọ thân chim Giá Tra Ca (Caṭaka, sợ là tên tiếng Phạn của chim ngói, vẫn đợi người tra cứu), chỉ uống nước mưa từ trời, ngửa mỏ mà đợi, chẳng thể uống những thứ nước khác. Do vậy, chúng thường bị đói khát!

          “Phi lý hủy dụng” (Phi lý hủy hoại vật dụng): “Dụng” [ở đây] là vật dụng. Hoặc do tức tối mà tự hủy hoại, hoặc do ác tâm làm tổn hại người khác. Ấy là vì những vật dụng là những món cần thiết của con người. Cày cấy thì phải có lưỡi cày, cái bừa, thợ thuyền thì phải có búa, đục, trong nhà thì có những thứ gia dụng, đi đường thì có những thứ dù, lọng, các vật dụng để đi đường. Thuyền xe thì sào, mái chèo, đòn ngang, càng xe[19]. Nay bỗng dưng vô cớ hủy hoại, sẽ tự cảm vời quả báo những thứ cần dùng thiếu thốn hoặc chẳng có! (Xưa kia, tại vùng Sa Đầu huyện Thái Thương, có gã họ Trầm, hàng xóm có các thứ lưới đánh cá, hoặc lưỡi cày có bánh xe v.v… hắn đều mượn rồi ngầm phá hư. Một hôm, vợ của đứa con trai về thăm bố mẹ ruột, [cô ta] đi chưa được một dặm, bỗng mưa bão, sấm sét ầm ầm. Một con rồng lọt vào nhà hắn, cuộn quẫy, phá sạch sành sanh, trọn chẳng còn sót lại gì. Cả một nhà lớn bé chết sạch).

          (Kinh) Nhược ngộ ngô ngã cống cao giả, thuyết ty sử hạ tiện báo. Nhược ngộ lưỡng thiệt đấu loạn giả, thuyết vô thiệt, bách thiệt báo. Nhược ngộ tà kiến giả, thuyết biên địa thọ sanh báo.

          ()若遇吾我貢高者說卑使下賤報。若遇兩舌鬬亂者說無舌百舌報。若遇邪見者說邊地受生報。

          (Kinh: Nếu gặp kẻ hợm hĩnh, kiêu căng, bèn nói sẽ bị báo ứng hèn hạ, bị người khác sai khiến. Nếu gặp kẻ nói đâm thọc khiến mọi người gây gỗ, bèn nói sẽ bị báo ứng không lưỡi, hoặc trăm lưỡi. Nếu gặp kẻ tà kiến, bèn nói sẽ bị báo ứng thọ sanh nơi biên địa).

          “Ngô ngã cống cao”: Ngô ngã (吾我) là khoe khoang chính mình. Cống (貢) là dâng hiến. Kẻ dưới dâng vật gì đó lên người trên thì gọi là Cống, ắt phải đưa lên cao để dâng. Nay chấp ngã tự đại, tự cao, hạ thấp kẻ khác, giống như hình dạng dâng hiến đồ vật, [cho nên gọi là “cống cao”]. Đấy chính là cội rễ của sanh tử. Vì thế, kinh Đại Bảo Tích nói: “Nhất thiết kiến trung, duy hữu ngã kiến, tức thời năng đoạn ư trí huệ mạng” (Trong hết thảy các kiến, chỉ có ngã kiến là có thể ngay lập tức đoạn trí huệ mạng). Kinh Ngũ Khổ Chương Cú nói: “Chí đại chủng tánh, cống cao, kiêu mạn, thị trí miệt ngu, khinh mạo tha nhân, thị nhữ trọng đảm. Bất xả đảm giả, hậu nhập địa ngục. Cố kỳ tùng địa ngục xuất, thảng đắc vi nhân, tất sanh ty sử hạ tiện chi gia” (Còn như kẻ thuộc chủng tánh lớn, ngạo nghễ, kiêu mạn, cậy mình là trí, khinh miệt kẻ ngu, coi rẻ người khác. Đó là gánh nặng của ông. Kẻ chẳng bỏ gánh nặng, về sau sẽ vào địa ngục. Cho nên kẻ ấy từ địa ngục thoát ra, nếu được làm người, ắt sanh vào nhà tôi tớ, hạ tiện). Tuân Khanh có nói: “Kiêu mạn là mối hại của con người”, ứng nghiệm những điều đang nói ở đây!

          “Lưỡng thiệt đấu loạn” (Nói đâm thọc khiến người khác gây gỗ): Coi cong là thẳng, coi thẳng là cong. Hướng đến người kia nói chuyện người này, hướng đến người này nói chuyện kẻ kia. Đâm thọc thị phi, hoại loạn cương thường. Kinh Thập Luân nói: “Hữu vô lượng chủng đấu tụng vi tránh, hỗ tương khi lăng. Thô ác quai ly, vu vọng kiểu loạn. Sanh thời ký dĩ lưỡng thiệt đấu loạn, tha thế tự cảm vô thiệt, bách thiệt chi báo” (Có vô lượng thứ đấu đá, kiện tụng, tranh chấp, lừa dối, lấn hiếp lẫn nhau. Thô ác chống trái, đặt điều, vu khống, lường gạt. Lúc sống đã dùng cách nói đôi chiều để đấu đá, gây rối, đời khác sẽ tự cảm quả báo không lưỡi, trăm lưỡi).

          “Tà kiến”: Hết thảy những gì trái lý mà dấy lên thì đều là tà kiến. Nay nói riêng về điều này là do thứ kiến giải này độc ác nhất, nó có thể đoạn thiện căn. Trung Luận nói có hai thứ tà kiến: Một là phá sự vui trong thế gian, [tức là] nói “không có tội, phước, thánh hiền” v.v… Hai là phá Niết Bàn đạo, tham chấp Ngã, phân biệt “có, không”, đều gọi là tà kiến. Vì thế, cảm lấy dư báo, sanh vào chốn biên cương. Kinh Ngũ Khổ Chương Cú nói: “Biên địa vô nghĩa lý, phụ tử tương hý nhữ, gia thất hỗ tương mại, thuộc nhân vi nô tỳ, hằng đương cấp khu sử, động tĩnh gia trượng sở. Tuy đắc vi nhân hình, súc sanh cộng đồng lữ” (Chốn biên địa không có nghĩa lý, cha con cùng nhau đùa bỡn gái, bán thê thiếp cho nhau, đem kẻ thân thuộc làm nô tỳ, luôn đem họ cho người khác sai khiến, hở ra là đánh đập. Tuy được làm thân người, mà khác nào súc sanh). Vì thế, hành giả Đại Thừa vẫn sợ bị thọ sanh nơi biên địa. Nhưng nêu ra sát sanh trước tiên, vì nó là cội gốc to lớn của các điều ác; cuối cùng nói đến tà kiến vì nó là cái hang to lớn để dòng nghiệp [đổ vào] vậy.

3.2.2.2.2.2.2.2.3.2.1.2.2. Kết thị nghiệp cảm sai biệt (kết lại lời dạy về nghiệp cảm sai biệt)

          (Kinh) Như thị đẳng Diêm Phù Đề chúng sanh, thân, khẩu, ý nghiệp, ác tập kết quả, bách thiên báo ứng, kim thô lược thuyết.

          ()如是等閻浮提眾生身口意業惡習結果百千報應今麤略說。

          (Kinh: Do tập khí ác nơi thân, khẩu, ý nghiệp của chúng sanh trong Diêm Phù Đề mà kết thành cái quả trăm ngàn báo ứng như thế đó, nay chỉ nói đại lược).

          Câu đầu tiên nêu chung về người tạo ác. “Thân, khẩu, ý nghiệp” là nói về nghiệp nhân. Câu “ác tập” (tập khí ác) nói về tập quả (cái quả của tập khí). “Bách thiên báo ứng” (Trăm ngàn báo ứng) là nói về báo quả. “Thân, khẩu…”: Phàm phu tạo nghiệp bèn có nhiều thứ: Có trường hợp là thân và miệng tương xứng với tâm; có trường hợp thân, miệng trái nghịch cái tâm. Hễ thân và miệng dấy động, đều là do cái tâm sai khiến. Vì thế, ba nghiệp đều lấy tâm làm căn bản. “Ác tập kết quả”: Theo Di Lặc Vấn Kinh, có ba loại:    

          – Một là Quả Báo Quả, sanh vào địa ngục v.v…

          – Hai là Tập Khí Quả, sanh trong loài người, do sát sanh mà bị quả báo đoản mạng, cho đến do tà kiến mà si tâm tăng thượng (Tát Bà Đa Luận nói: “Tỳ-kheo Ngưu Ty từ loài trâu sanh [vào nhân gian, nên miệng luôn nhai nhóp nhép. Một tỳ-kheo khác] thường dùng gương để tự soi, do kiếp trước là dâm nữ. Ngài Mục Liên hay đùa bỡn nhảy nhót là do từ loài khỉ vượn sanh đến” v.v…)

          – Ba là Tăng Thượng Quả. Do mười thứ nghiệp đạo bất thiện mà hết thảy ngoại vật chẳng có được dồi dào, sung túc.

          “Bách thiên báo ứng”: Theo kinh Ưu Bà Tắc Giới, chúng sanh tạo nghiệp có bốn loại:

          – Một là hiện báo (Thân hiện tại tạo nghiệp, liền hứng chịu quả báo ngay trong thân này).

          – Hai là sanh báo (thân hiện tại tạo nghiệp, thân kế tiếp sẽ thọ báo).

          – Ba là hậu báo (đời này tạo nghiệp, hai, ba đời sau mới thọ báo).

          – Bốn là vô báo (Do tạo các nghiệp vô ký v.v…)

          Vô báo lại có bốn loại:

          – Một là thời nhất định, nhưng báo không nhất định (loại này là đối với tam tế (tức quá khứ, hiện tại, vị lai) quyết định không thay đổi, nhưng do nghiệp có thể chuyển, cho nên báo bất định).

          – Hai là báo định, thời bất định (do nghiệp lực nhất định, quả báo chẳng thể thay đổi, nhưng thời có thể chuyển, cho nên thời bất định).

          – Ba là thời và báo đều định (do nghiệp là nhất định, nên thời cũng định).

          – Bốn là thời và báo đều bất định (do nghiệp chẳng quyết định, nên thời và báo chẳng nhất định).

          Kinh Niết Bàn lại nói đến dư báo của phiền não v.v… Trăm ngàn báo ứng như thế, nay chỉ nói đại lược thô thiển đó thôi!

          (Kinh) Như thị đẳng Diêm Phù Đề chúng sanh, nghiệp cảm sai biệt, Địa Tạng Bồ Tát bách thiên phương tiện, nhi giáo hóa chi.

          ()如是等閻浮提眾生業感差別地藏菩薩百千方便而教化之。

          (Kinh: Chúng sanh Diêm Phù Đề nghiệp cảm sai biệt như thế đó, Địa Tạng Bồ Tát dùng trăm ngàn phương tiện để giáo hóa họ).

          Từ “như thị” trở đi, kết lại sự sai biệt. Do chúng sanh tạo nghiệp [có hai loại] là trọn đủ và không trọn đủ. Nếu nghĩ trước rồi làm sau thì gọi là “tác cụ túc” (làm trọn đủ). Nếu trước hết chẳng nghĩ, mà trực tiếp tạo tác ngay thì gọi là “tác bất cụ túc” (làm chẳng trọn đủ). Lại có “tác bất cụ túc”, có nghĩa là đã tạo nghiệp rồi, nhưng quả báo bất định. Lại “tác dĩ diệc cụ túc” (làm rồi mà cũng trọn đủ) thì thời (thời điểm sẽ thọ báo) lẫn báo đều nhất định. Nghiệp cảm của chúng sanh đã là sai biệt, cho nên Bồ Tát giáo hóa cũng lập ra trăm ngàn phương tiện. Như trong kinh Thập Luân, đức Phật bảo Kiên Tịnh Tín Bồ Tát rằng: “Thử thiện nam tử, phát tâm dĩ lai, bất khả tư nghị A-tăng-kỳ kiếp, cửu dĩ năng độ Tát Bà Nhã hải, đản y bổn nguyện cố, hóa ứng thập phương. Nhi ư ngũ trược ác thế, hóa ích thiên hậu. Diệc y bổn nguyện lực sở huân tập, cập chúng sanh ưng thọ hóa nghiệp, cố tùng thập nhất kiếp lai, trang nghiêm thử thế giới, thành thục chúng sanh. Thị cố tại tư hội trung, thân tướng đoan nghiêm, oai đức thù thắng. Duy trừ Như Lai, vô năng quá giả. Hựu sở khởi hóa nghiệp, duy trừ Biến Cát, Quán Âm đẳng, chư đại Bồ Tát giai bất năng cập. Dĩ thị Bồ Tát bổn thệ nguyện lực, tốc mãn chúng sanh nhất thiết sở cầu, năng diệt chúng sanh nhất thiết trọng tội, trừ chư chướng ngại, hiện đắc an ổn. Hựu danh vi thiện an ủy thuyết giả, xảo diễn thâm pháp, năng thiện khai đạo. Sơ học phát ý cầu Đại Thừa giả, linh bất khiếp nhược” (Vị thiện nam tử này từ khi phát tâm đến nay, trong chẳng thể nghĩ bàn A-tăng-kỳ kiếp, đã có thể vượt biển Tát Bà Nhã (Nhất Thiết Trí) từ lâu, chỉ do nương theo bổn nguyện, nên hóa hiện ứng khắp mười phương. Nhưng trong đời ác ngũ trược, Ngài càng hóa độ tạo lợi ích đặc biệt sâu đậm. Cũng do nương vào sự huân tập của sức bổn nguyện, và nghiệp đáng nên tiếp nhận giáo hóa của chúng sanh, cho nên Ngài có thể từ mười một kiếp đến nay trang nghiêm thế giới này, thành thục chúng sanh. Vì thế, ở trong hội này, Ngài có thân tướng đoan nghiêm, oai đức thù thắng; chỉ trừ Như Lai, không ai hơn được! Lại nữa, nghiệp giáo hóa do vị ấy dấy lên, chỉ trừ những vị như Biến Cát, Quán Âm v.v… chứ các đại Bồ Tát khác đều chẳng thể sánh bằng. Do sức thệ nguyện của vị Bồ Tát ấy, có thể nhanh chóng thỏa mãn hết thảy những điều mong cầu của chúng sanh, có thể diệt hết thảy trọng tội của chúng sanh, trừ các chướng ngại, hiện thời được an ổn. Ngài lại có tên là đấng khéo nói lời an ủi, đấng khéo diễn nói pháp sâu, đấng khéo khơi mở, chỉ dạy, khiến cho kẻ sơ học phát tâm cầu Đại Thừa chẳng khiếp nhược).  

Do nhân duyên như thế, chúng sanh tiếp nhận sự giáo hóa [của Ngài bèn] đắc độ. Trăm ngàn phương tiện giáo hóa là như thế đó!

3.2.2.2.2.2.2.2.3.2.2. Khuyến thiên vương ủng hộ (khuyên thiên vương hãy nên ủng hộ)

          (Kinh) Thị chư chúng sanh, tiên thọ như thị đẳng báo, hậu đọa địa ngục, động kinh kiếp số, vô hữu xuất kỳ.

          ()是諸眾生先受如是等報後墮地獄動經劫數無有出期。

          (Kinh: Các chúng sanh ấy, trước hết đã thọ quả báo như thế, sau đấy, sẽ đọa địa ngục trải qua nhiều kiếp chẳng có thuở thoát ra).

          Trước hết, nêu ra ý hộ trì. Vì sao khuyên thiên vương ủng hộ? Do chúng sanh trước hết sẽ thọ những hoa báo vừa nói trên đây. Sau đấy, sẽ đọa vào địa ngục để chịu quả báo. Kinh Ưu Bà Tắc Giới nói: “Hữu nhân bất giải như thị nghiệp duyên, vô lượng thế trung lưu chuyển sanh tử. Tuy sanh Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, thọ bát vạn kiếp, phước tận, hoàn đọa tam ác đạo cố. Động kinh kiếp số, vô xuất kỳ giả” (Có kẻ chẳng hiểu nghiệp duyên như thế, trong vô lượng đời trôi lăn sanh tử. Dẫu sanh vào trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, thọ tám vạn kiếp, phước hết thì vẫn đọa vào ba ác đạo trải qua nhiều kiếp, chẳng có thuở thoát ra). Như kinh Cựu Tạp Thí Dụ đã chép: “Tích hữu lục nhân, vi bạn tạo tội, câu đọa địa ngục. Phật kiến chi tiếu, Mục Liên vấn: “Hà cố tiếu?” Phật ngôn: – Lục nhân đọa ngục, cộng tại nhất phủ, các dục thuyết bổn tội. Nhiệt thang phí dũng, các nhất ngữ tiện hồi hạ. Nhất ngôn Sa giả, thế gian lục thập ức vạn tuế, Nê Lê thỉ vi nhất nhật, hà thời đương cánh? Nhị ngôn Na giả, vô hữu xuất kỳ, bất tri hà thời đắc thoát? Tam ngôn Đặc giả, đốt, đốt, ngã đương dụng trị sanh, bất năng tự chế ý, đoạt ngũ gia phần, cúng dường tam tôn, ngu tham vô túc. Kim hối hà ích? Tứ ngôn Thiệp giả, ngôn ngã trị sanh, diệc bất trí thành, tài sản thuộc tha, vi đắc khổ thống. Ngũ ngôn Cô giả, thùy đương bảo ngã, tùng địa ngục xuất, tiện bất phạm đạo cấm, đắc sanh thiên lạc. Lục ngôn Đà-la giả, thị sự thượng đầu, bổn bất vi tâm kế. Thí như ngự xa thất đạo, chiết trục xa hoại, hối vô sở cập” (Xưa kia có sáu người, kết bạn cùng nhau tạo tội, đều đọa địa ngục. Đức Phật trông thấy bèn cười. Ngài Mục Liên hỏi: “Vì sao Ngài cười?” Đức Phật bảo: – Sáu người đọa vào địa ngục, cùng ở trong một cái nồi, mỗi người đều muốn nói tội của chính mình. Nước sôi sùng sục, mỗi người chỉ nói được một câu rồi bị [nước nóng] xoáy chìm xuống dưới. Người thứ nhất nói Sa (cát), [ý muốn nói]: “Sáu mươi ức vạn năm trong thế gian chỉ là một ngày trong Nê Lê, đến lúc nào mới xong [hết tội]?” Người thứ hai nói Na, [ngụ ý]: “Chẳng có thuở thoát ra, chẳng biết lúc nào mới được thoát khỏi?” Người thứ ba nói “Đặc”, ngụ ý: “Chao ôi! Than ôi! Ta chẳng thể khống chế tâm ý, chiếm đoạt tài vật cúng dường Tam Bảo, những món tài vật ấy thuộc về năm nhà (tức vua, giặc, nước, lửa, con bất hiếu), ngu si, tham lam, chẳng chán đủ. Nay hối hận ích gì?” Người thứ tư nói “Thiệp”, có nghĩa là “ta lo kinh doanh kiếm sống cũng chẳng chân thành, [nay chết đi] tài sản thuộc về người khác, còn chính mình chịu đau khổ”. Người thứ năm nói “Cô”, ý nói: “Ai có thể bảo đảm tôi thoát khỏi địa ngục, tôi sẽ chẳng phạm giới cấm, sẽ được hưởng niềm vui sanh lên trời!” Người thứ sáu nói: “Đà-la”, ý nói: “Đối với chuyện này thuở đầu vốn chẳng suy xét đến. Ví như đánh xe đi sai đường, trục gãy, xe hư, dẫu hối chẳng kịp!”)[20] Vì thế, trải qua kiếp số nhiều như vi trần, chẳng có lúc thoát khỏi địa ngục.

          (Kinh) Thị cố nhữ đẳng, hộ nhân, hộ quốc, vô linh thị chư chúng nghiệp mê hoặc chúng sanh.

          ()是故汝等護人護國無令是諸眾業迷惑眾生。

          (Kinh: Vì thế, các ông là bậc hộ trì mọi người, hộ trì đất nước, hãy khiến cho các nghiệp ấy chẳng mê hoặc chúng sanh).

          Từ “thị cố” (vì thế) trở đi là lời khuyên. Dùng hai chữ ấy để tiếp nối ý trên đây, nhằm nêu bày ý nghĩa khuyên nhủ thiên vương hãy hộ trì. “Hộ nhân…”: Theo Kim Quang Minh Kinh Sớ, trong phần chú giải phẩm Quán Tâm, đã giải thích về Hộ Thế Tứ Thiên Vương như sau: “Đông Tập, Nam Khổ, Tây Đạo, Bắc Diệt. Tứ đế lý (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) là tứ thiên, trí quán Tứ Đế là bốn vị thiên vương. Gìn giữ cảnh Tứ Đế thì gọi là Hộ Quốc. Hộ trì tâm số (các pháp tâm sở) tức là ‘hộ chúng sanh’. ‘Thế’ [trong Hộ Thế] nghĩa là người khác. Vì kẻ khác mà nói tâm số, thì gọi là ‘hộ trì chúng sanh khác’. Nếu chẳng chiếu theo lý Tứ Đế thì Kiến Hoặc và Tư Hoặc sẽ xâm hại tâm vương, hủy tổn cảnh giới. Tâm vương mất thì cảnh quốc bại, nhân dân tâm số sẽ tứ tán, cảnh và trí đều bị quỷ thần não hại. Có thể quán Khổ và Tập, chế ngự Kiến Tư, ắt nước yên, dân ổn. Có thể vì kẻ khác mà nói Tứ Đế, chính là hộ trì quốc độ của họ. Ngăn che Kiến Tư, khiến cho họ an lạc thì chính là Quán Tâm Hộ Thế Tứ Thiên Vương”.  

Nếu chẳng phải như vậy, làm sao có thể khiến cho chúng sanh chẳng bị nghiệp mê hoặc cho được? Ương Quật nói: “Hộ trì pháp chân thật thì gọi là Hộ Thế” chính là nói đến ý này.

3.2.2.2.2.2.2.3. Thiên vương văn dĩ bi thoái (thiên vương nghe xong, xót xa lui ra)         

          (Kinh) Tứ thiên vương văn dĩ, thế lệ bi thán, hiệp chưởng nhi thoái.

          ()四天王聞已涕淚悲歎合掌而退。

          (Kinh: Tứ thiên vương nghe xong, ứa nước mắt, xót xa thở than, chắp tay, lui ra).

         

          Đây là do nghe những tướng nghiệp cảm sai biệt như trên, lọt vào tâm, ngầm khế hợp, hiểu rõ chúng vốn không tịch, nghe chính là chẳng nghe thì gọi là “nghe bằng tâm”. Vì thế nói “văn dĩ” (nghe xong). Hiềm rằng chúng sanh chẳng hiểu rõ, lầm lạc tạo tác, lầm lạc hứng chịu. Vì thế, ứa nước mắt. Ba đời chẳng có thời, mười phương không có giới hạn, lục đạo chẳng biết, [cứ luân hồi trong sanh tử] trải qua nhiều kiếp, cho nên xót xa than thở. Do vậy, tự tâm hiệp nhất, chẳng lưu động xằng bậy. Lui về gìn giữ bí mật, tĩnh lặng đợi pháp âm, cho nên “chắp tay, lui ra”. Do vậy, có thể dùng lực, dùng pháp tự hộ trì, hộ trì người khác thì được gọi là Hộ Thế Tứ Thiên Vương vậy.

 

Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú

(Phần 4)

Hết

 

» Chú thích:

[1] Nói là “cây Diêm Phù trong thế gian” tức là nói tới loại cây Jambolan thường mọc ở Ấn Độ và Đông Nam Á, cũng thường gọi là cây Diêm Phù. Jambolan là một trong các loại cây thuộc họ Trâm, thường được gọi là cây Trâm Mốc trong tiếng Việt. Cây này có tên khoa học là Syzygium Cumini, còn gọi là Java Plum, hay Black Plum. Cây có thể cao hơn ba mươi mét. Trái có hình bầu dục, thon dài, chính giữa có hạt cứng, chuyển từ màu xanh sang hồng nhạt cho đến tím rịm khi chín. Chất dịch trái này sẽ khiến cho lưỡi người ăn có màu tím.

[2] Tứ Vô Úy: Khi đức Phật thuyết pháp, trọn đủ bốn loại công đức không sợ hãi:

  1. Chánh Đẳng Giác vô úy: Do Nhất Thiết Trí không sợ hãi, đức Phật nói với đại chúng: “Ta là đấng Nhất Thiết Trí, tâm không sợ hãi”.
  2. Lậu vĩnh tận vô úy: Không sợ hãi vì đã đoạn hết các lậu (phiền não).
  3. Thuyết chướng pháp vô úy: Nói các pháp gây chướng ngại giải thoát như phiền não, tam độc v.v… không sợ hãi.
  4. Thuyết xuất đạo vô úy: Nói ra đạo giải thoát hết khổ mà không sợ hãi.

[3] Vô Ký Hóa Hóa Thiền là một loại Thiền Định có thể tự nhiên vô ngại biến hóa vô cùng. Theo Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa và Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn, có chín loại Thiền lớn. Trong đó, loại thứ sáu là Nhất Thiết Hạnh Thiền, được coi là bao gồm hết thảy các hành pháp Thiền Định của Đại Thừa. Nhất Thiết Hạnh Thiền lại được chia nhỏ thành mười ba loại, trong đó, loại thứ hai là Vô Ký Hóa Hóa Thiền.

[4] “Tứ hành và tứ đắc” trong đoạn kinh này chính là Tứ Hướng và Tứ Quả. Tứ Đắc (Tứ Quả) là bốn quả vị của Thanh Văn (Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán, hoặc còn gọi là Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả và Tứ Quả), hay còn gọi chung là Tứ Sa Môn Quả. Khi hành nhân đã viên mãn một quả, nhưng còn đang trong giai đoạn tu tập nhằm đạt đến địa vị kế tiếp thì gọi là Hướng, cho nên có Tứ Hướng (Tứ Hành), tức Sơ Quả Hướng, Nhị Quả Hướng v.v… Phú Già La (Pudgala) có nghĩa là “người”, Bát Phú Già La tức là tám loại người. Tứ Hướng và Tứ Quả thường được gọi gộp chung là Tứ Bối Bát Sĩ (bốn bậc gồm tám hạng người).

[5] Ngũ tạng là tim, gan, tỳ, phổi, thận.

[6] Tỳ Nhã (埤雅) là một bộ từ điển được Lục Điền biên soạn dưới đời Bắc Tống, gồm hai mươi quyển, chủ yếu là ghi chép những điều tìm tòi của Lục Điền đối với các danh xưng động vật và thực vật trong Kinh Thi.

[7] Cổ Kim Chú là tác phẩm do Thôi Báo biên soạn dưới đời Tấn, nhằm giải thích những sự vật thuộc cổ đại và thời ấy, chia thành nhiều thể loại như đô ấp, âm nhạc, điểu thú, ngư trùng, thảo mộc v.v…

[8] Tứ Vận tức là tứ vận tâm. Khi con người khởi niệm thì có bốn loại: Vị niệm (chưa niệm), dục niệm (muốn niệm, sắp niệm), niệm (khởi lên ý niệm), niệm dĩ (ý niệm đã dấy lên xong).

[9] Luật Thiện Kiến có tên gọi đầy đủ là Nhất Thiết Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (Samantapāsādikā), hoặc gọi tắt Thiện Kiến Luật Chú, là chú giải của Luật Tạng theo truyền thống Phân Biệt Thuyết Bộ của Phật giáo Nam Truyền. Bộ luật sớ này được dịch sang tiếng Hán vào năm Vĩnh Minh thứ bảy (489) đời Nam Tề do hai vị Tăng Già Bạt Đà La và Tăng Y hợp dịch, gồm mười tám quyển.

[10] Ca La La (Kalala) còn phiên âm là Yết La Lam, Yết Lạt Lam, dịch sang tiếng Hán là Ngưng Hoạt, Tạp Uế v.v… là lúc cha mẹ giao phối, tinh cha huyết mẹ ngưng kết thành phôi thai, mà cũng là lúc thần thức nương gá vào phôi thai ấy.

[11] A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (Abhidharma-mahavibhāsā-sàstra) có hai bản dịch:

  1. Bản dịch thứ nhất vào đời Bắc Lương, do các vị Phù Đà Bạt Ma vả Đạo Thái cùng dịch, gồm một trăm quyển, hiện thời chỉ còn sáu mươi quyển, được gọi là Cựu Tỳ Bà Sa.
  2. Bản dịch thứ hai của ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, gồm hai trăm quyển, được gọi là Tân Tỳ Bà Sa.

[12] Biệt Hành Sớ là tên gọi tắt của bộ Quán Âm Nghĩa Sớ. Do sau khi đã viết bộ Pháp Hoa Văn Cú xong, tổ Trí Giả lại giảng riêng phẩm Phổ Môn, môn nhân là ngài Quán Đảnh ghi lại lời giảng, tạo thành tác phẩm này. Do vậy gọi là Biệt Hành Sớ, hoặc Quán Âm Kinh Sớ. Lời Ký trong câu tiếp theo được trích dẫn từ tác phẩm ấy.

[13] Câu này dựa theo ý thành ngữ: “Đả cổ, lộng tỳ bà, tương  phùng  cộng  nhất  gia”

(Đánh trống, gảy tỳ bà, gặp gỡ trong một nhà), ý nói: Gặp gỡ, hoan hỷ trong một lúc rồi ai nấy mỗi người đi mỗi ngả.

[14] Ngũ Đế Tam Vương là các vị vua được tôn là thánh vương trong huyền sử Trung Hoa. Tam Vương (hay Tam Hoàng) là Toại Nhân, Phục Hy, và Thần Nông (có thuyết nói là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng). Ngũ Đế là Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn. Lại có thuyết chủ trương Tam Vương phải là Hạ Vũ, Thành Thang và Châu Văn Vương.

[15] Thông thường, Tước là con chim sẻ, nhưng trong lời chú giải, ngài Linh Thừa giảng là Khổng Tước, nên chúng tôi ghi theo cách diễn giải của Ngài.

[16] Mật Hy (宓羲) chính là Phục Hy (伏羲), còn gọi là Bào Hy, Bao Hy, Hy Hoàng, Thái Hạo v.v… Ông là một vị thánh vương trong huyền sử Trung Hoa, được tôn là Thiên Hoàng trong Tam Hoàng, cũng như được coi là thỉ tổ của nền văn minh Hoa Hạ, dạy dân săn bắn và đánh cá. Theo huyền thoại, do chiêm nghiệm Hà Đồ và Lạc Thư, ông đã sáng chế quẻ Tiên Thiên Bát Quái và đặt nền móng cho kinh Dịch.

[17] Những danh xưng này đều có nghĩa là “săn bắn”, do tùy theo mỗi mùa mà có tên gọi khác nhau; nhưng đều có mục đích là trừ các giống cầm thú gây hại cho mùa màng.

[18] Vô Căn Ba La Di là phỉ báng mà không có sự thật nên gọi là Vô Căn. Ba La Di (Pārājika), dịch sang tiếng Hán là Khu Tẫn (xua đuổi), Khí (vứt bỏ), Đoạn Đầu (đứt đầu), Bất Cộng Trụ (không thể ở chung) v.v… là danh xưng cho loại trọng tội bậc nhất trong giới Cụ Túc; nội dung chẳng ngoài bốn thứ giết, trộm, dâm, dối. Do tội phỉ báng vô căn cứ ở đây thuộc về đại vọng ngữ, nên gọi là Vô Căn Ba La Di.

[19] Nguyên văn là Nghê (輗) và Ngột (軏): Ngột là thanh gỗ dài cong, hoặc bằng sắt dùng nối thùng xe với cái ách để thắng ngựa, Nghê là thanh ngang để Ngột móc vào, trên Ngột có đóng ách để thắng ngựa kéo xe. Có thuyết lại nói Nghê là hai cái càng xe để kéo thùng xe, còn Ngột là thanh ngang để đóng ách bò hay ngựa. Nói chung Nghê và Ngột là những bộ phận chủ yếu để mắc ách đóng ngựa, hay trâu, bò kéo xe.

[20] Chúng tôi dịch đoạn này theo lời giải thích của cư sĩ Vương Văn Nguyên trong bộ Phật Điển Thí Dụ Kinh Toàn Tập (佛典譬喻经全集).

File đính kèm

STT Tên File Tải xuống
1 File Word: Địa Tạng Khoa Chú (Toàn Tập) Xem File

Tin liên quan