Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú (Phần 2)

 

Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú

(Phần 2)

地藏菩薩本願經科注

Đường Tam Tạng sa-môn Thật Xoa Nan Đà dịch kinh

唐三藏沙門實叉難陀譯

Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa soạn

古鹽匡菴青蓮苾芻靈椉父輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

(theo bản in tháng Bảy năm 2017

của Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội, Đài Loan)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

3.1.2.2.2.1.2. Xuất vi diệu âm (phát ra âm thanh vi diệu)

3.1.2.2.2.1.2.1. Kết tiền khởi hậu (kết phần trước, dẫn khởi phần sau)

 

          (Kinh) Phóng như thị đẳng bất khả thuyết quang minh vân dĩ, hựu xuất chủng chủng vi diệu chi âm.

          ()放如是等不可說光明雲已又出種種微妙之音。

          (Kinh: Đã tỏa ra bất khả thuyết mây quang minh  như  thế  rồi, lại

phát ra các thứ âm thanh vi diệu).

 

          Từ chữ “phóng” (放) trở đi, kết luận phần trước. Từ chữ “hựu” (又) trở đi, mở ra phần sau. Bà Xà Ni Sa Bà Lâm [trong tiếng Phạn], cõi này dịch là “âm thanh”. Theo kinh Ma Nhiễu Loạn, chữ Tỳ Lâu trong tiếng Phạn dịch là “âm thanh”; sau này dịch là Hồng Âm (洪音, âm thanh to lớn, đây là tên đệ tử của Câu Lâu Tần Phật, tức Krakucchanda Buddha). Sách Bạch Hổ Thông nói: “Thanh là tiếng kêu. Âm là Ẩm (uống). Cứng, mềm, trong, đục, hòa hợp cùng uống”. Tinh Uẩn nói: “Âm là do các tiếng phát triển thành. Lan truyền, phân tán là Thanh. Nếu chẳng phải vậy, sẽ chẳng thể chấn động. Hàm súc có thừa mà chẳng bộc lộ hết thì là Âm. Nếu chẳng phải vậy, nó sẽ chẳng thể hòa quyện vào nhau. Hô hai chữ [âm thanh] sẽ trọn đủ ý nghĩa khai phát và thâu tàng”. Nay [kinh văn] nói đến âm thanh diễn tả các lý, [ở đây, những âm thanh ấy] được gọi là Âm. Tiếng do đức Phật phát ra, ngôn từ thanh nhã, người nghe không chán, nghe mãi chẳng đủ; có thể tạo thành nhân duyên “ban vui, dẹp khổ” cho hết thảy chúng sanh, không gì hữu ích bằng nghe tiếng. Tức là Ngài đã dùng lòng Từ để tu cái miệng, cho nên có “bát âm”: Một là cực hảo âm (âm thanh hay nhất), hai là nhu nhuyễn âm (âm thanh dịu dàng), ba là hòa thích âm (âm thanh hòa hợp, thích đáng), bốn là tôn huệ âm (âm thanh cao quý, tràn đầy trí huệ), năm là bất nữ âm (âm thanh không có giọng nữ), sáu là bất ngộ âm (âm thanh không lầm lạc), bảy là thâm viễn âm (âm thanh vang vọng sâu xa), tám là bất kiệt âm (âm thanh không cạn rè).

          “Chủng chủng vi diệu” (Các thứ vi diệu): Trong đời trước, đức Phật đã gieo nhân duyên âm thanh tốt lành, cho nên đạt được yết hầu có Tứ Đại vi diệu, có thể phát ra các thứ âm thanh xa, gần, mầu nhiệm hay đẹp nhất, trọn khắp mười phương thế giới nhiều như cát sông Hằng. Nay mây quang minh phát ra âm thanh vốn sẵn tuyên dương, lưu bố, dứt bặt các tình kiến thuộc về tâm duyên lự, hiển lộ sự thần thông trí huệ vô phân biệt. Hòa hợp vang vọng lẫn nhau thì gọi là Vi, đây kia chẳng xen tạp là Diệu. Điều này biểu thị đức Địa Tạng tùy loại hiện thân, ứng cơ thuyết pháp. Cảnh đã chẳng phải là một, [cho nên] âm thanh cũng rất nhiều. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Chư quang minh trung xuất diệu âm, phổ biến thập phương nhất thiết quốc, diễn thuyết Phật tử chư công đức, năng nhập Bồ Đề chi diệu đạo” (Trong các quang minh phát ra âm thanh mầu nhiệm trọn khắp mười phương hết thảy các cõi, diễn thuyết các công đức của Phật tử (Bồ Tát), có thể nhập đạo mầu Bồ Đề) chính  là

nói đến chuyện này!

 

3.1.2.2.2.1.2.2. Chánh minh chúng âm (nói rõ các âm thanh)

 

          (Kinh) Sở vị: Đàn Ba La Mật âm, Thi Ba La Mật âm, Sạn Đề Ba La Mật âm, Tỳ Ly Da Ba La Mật âm, Thiền Ba La Mật âm, Bát Nhã Ba La Mật âm.

           ()所謂檀波羅蜜音,尸波羅蜜音,羼提波羅蜜音,毗離耶波羅蜜音,禪波羅蜜音,般若波羅蜜音。

          (Kinh: Tức là tiếng Đàn Ba La Mật, tiếng Thi Ba La Mật, tiếng Sạn Đề Ba La Mật, tiếng Tỳ Ly Da Ba La Mật, tiếng Thiền Ba La Mật, tiếng Bát Nhã Ba La Mật).

 

          “Tuyên thuyết Lục Độ” có hai ý:

          – Một là biểu thị thân của Phật, Bồ Tát, tức Pháp Thân, sanh từ công đức của các pháp môn.

          – Hai là biểu thị Phật, Bồ Tát thuyết pháp chẳng ra ngoài pháp môn như Lục Độ v.v… Dùng đại trí huệ để làm sư tử hống, giăng mây, rền sấm, khiến cho muôn vật tươi nhuận, đại chúng nghiêm túc.

          Đàn Na (Dāna) trong tiếng Phạn, Hán dịch là Bố Thí. “Đàn” là kho báu, là phước điền phú quý, an ổn. “Đàn” có thể phá khổ, ví như chiếc bè để đắc đạo Niết Bàn. Do lợi ích đặc biệt nhiều, cho nên dùng mây quang minh để tán thán đầu tiên.

          Thi La (Śīla, Giới) dịch là Tánh Thiện, lại dịch là Chỉ Đắc (止得, ngưng dứt), ý nói “dứt ác, làm lành”. Nếu người nào cầu đại thiện lợi, hãy nên giữ vững giới, như tiếc của báu to lớn, như bảo vệ thân mạng. Ví như đại địa làm chỗ nương tựa cho hết thảy muôn vật, Giới là trụ xứ của hết thảy các thiện pháp. Do vậy, dùng mây quang minh để tuyên dương, lưu truyền.

          Sạn Đề (Kṣānti) dịch là Nhẫn Nhục; có Sanh Nhẫn và Pháp Nhẫn. Bồ Tát hành Sanh Nhẫn, đạt được vô lượng phước đức. Hành Pháp Nhẫn đạt được vô lượng trí huệ. Phước đức và trí huệ trọn đủ, mọi sự đều được như sở nguyện. Vì thế, dùng quang minh và âm thanh để tuyên dương, lưu truyền Nhẫn Độ.

          Tỳ Lê Da (Virya)[1] dịch là Tinh Tấn. Thân tinh tấn, siêng tu  thiện

pháp. Tâm tinh tấn, siêng hành thiện đạo. Ấy là vì muốn thành Phật đạo, thì có hai môn: Một là phước đức, tức Thí, Giới, Nhẫn. Hai là trí huệ, tức Thật Tướng Bát Nhã. Nhập phước đức môn, trừ hết thảy các tội, các sở nguyện đều đạt được. Nhập trí huệ môn, chẳng chán sanh tử, chẳng ưa Niết Bàn. Muốn nhập Bát Nhã thì phải do Thiền Định. Muốn tu Thiền Định, ắt cần phải tinh tấn. Do vậy, dùng mây quang minh để tuyên dương rộng lớn hòng phát khởi mọi người tu tập Tinh Tấn Độ môn.

          Thiền Na (Dhyāna), dịch là Tư Duy Tu. Lúc Bồ Tát hành Thiền, năm Ba La Mật hòa hợp, giúp cho Thiền Độ thành tựu. Trong mỗi môn Thiền, hành đại từ bi, dẹp tội trong vô lượng kiếp, đạt được trí Thật Tướng nơi các pháp. Vì thế, được mười phương chư Phật và đại Bồ Tát hộ niệm. Do đó, dùng quang minh và âm thanh để tuyên diễn hòng phát khởi môn Thiền Định cho mọi người.

          Bát Nhã (Prajñā) dịch là Trí Huệ. Soi tỏ “hết thảy các pháp đều chẳng thể đạt được”, nhưng có thể thông đạt hết thảy vô ngại thì gọi là Trí Huệ. Chư Bồ Tát từ sơ phát tâm cầu Nhất Thiết Chủng Trí, sẽ học hết thảy các pháp, đạt được hết thảy trí huệ. Do vậy, quang minh và âm thanh tuyên dương điều này hòng phát khởi căn cội trí huệ cho chúng sanh.

          Lục Độ tuy thông bốn giáo (Tạng, Thông, Biệt, Viên), nhưng do những Lý Sự vừa được triển khai trên đây, đều cùng trở thành Lục Độ thuần viên thuận lý.

 

          (Kinh) Từ bi âm, hỷ xả âm.

         ()慈悲音喜捨音。

          (Kinh: Tiếng từ bi, tiếng hỷ xả).

 

          “Từ bi âm, hỷ xả âm”: Đây là tuyên dương Tứ Vô Lượng Tâm, các vị Bồ Tát thuộc bốn giáo đều tu [bốn tâm vô lượng ấy]. Có thể ban vui cho người khác thì gọi là “từ tâm”. Có thể dẹp khổ cho người khác thì gọi là “bi tâm”. Mừng vì người khác được vui sướng thì là “hỷ tâm”. Chẳng ghét, chẳng yêu, thì gọi là “xả tâm”. Từ có ba loại:

          1) Duyên Chúng Sanh: Quán sát hết thảy chúng sanh, tưởng họ như cha mẹ.

          2) Duyên Pháp: Thấy hết thảy các pháp đều sanh từ duyên.

          3) Vô Duyên: Chẳng trụ vào Pháp Tướng và Chúng Sanh Tướng.

          Bi cũng có ba loại, tên gọi giống như Từ. Đấy là Tứ Vô Lượng Tâm của Như Lai, cho nên mỗi tâm đều gọi là Đại. Thật sự có thể ban vui, dẹp khổ cho những người trên đây, chẳng phải là giả tưởng. Nay kể ra hai âm, [là vì] Từ Bi là căn bản của đạo Phật, Hỷ Xả do từ bi mà sanh, cho nên tách rời, vì thấy Từ Bi là trọng yếu. Nay mây quang minh tuyên nói, chính là vì bốn tâm Quyền Tiểu trên đây đều trở thành tứ đại vô lượng tâm duyên theo Thật Tướng của Như Lai.

 

          (Kinh) Giải thoát âm, vô lậu âm.

          ()解脫音無漏音。

          (Kinh: Tiếng giải thoát, tiếng vô lậu).

          “Giải thoát âm”: Từ ngữ Mục Đế La trong tiếng Phạn, cõi này dịch là Giải Thoát. Tịnh Danh Sớ nói: “Một là chân tánh, hai là thật huệ, ba là phương tiện”. Kinh dạy: “Chư Phật, Bồ Tát hữu giải thoát, danh Bất Tư Nghị. Nhược Bồ Tát trụ thử giải thoát giả, năng dĩ Tu Di chi cao quảng nạp giới tử đẳng, tức thị tam chủng giải thoát bất tư nghị nghĩa. Hà giả? Bồ Tát giải thoát tức thị chân tánh, Bồ Tát trụ thử tức thị thật huệ. Tu Di nạp giới, tức thị phương tiện” (Chư Phật, Bồ Tát có môn giải thoát tên là Chẳng Nghĩ Bàn. Nếu Bồ Tát trụ trong môn giải thoát ấy, có thể nhét núi Tu Di cao rộng vào trong hạt cải, tức là ý nghĩa “ba loại giải thoát chẳng thể nghĩ bàn”. Vì sao? Giải thoát của Bồ Tát là chân tánh, Bồ Tát trụ trong ấy chính là thật huệ. Tu Di nhét vào trong hạt cải tức là phương tiện). Nay quang minh tuôn ra diệu âm, biểu thị diệu dụng thần thông chẳng thể nghĩ bàn của đức Địa Tạng.

          “Vô lậu âm”: Ở đây, đáng lẽ phải nói là Nhân Duyên Tứ Đế và ba mươi bảy đạo phẩm; nay dùng Vô Lậu để gồm thâu. Ô Ba hoặc Tát Giá trong tiếng Phạn, cõi này dịch là Hữu. Hữu nghĩa là gì? Chính là hết thảy các pháp hữu lậu. Ở đây, chẳng xét theo Sanh Diệt Tứ Đế của Tiểu Thừa, coi Khổ và Tập là nhân quả hữu lậu, Đạo và Diệt là nhân quả vô lậu. Vô Lậu ở đây là Vô Lậu trong Viên Giáo, tức là bảy phương tiện[2] đều gọi là Hữu Lậu! Do lục phàm rơi rớt bên Hữu, lưỡng giáo Nhị Thừa (Thanh Văn và Duyên Giác) rơi rụng bên Không, tam giáo Bồ Tát (Tạng, Thông, Biệt) rơi rớt hai bên. Nay mây quang minh tuyên dương, lưu truyền âm thanh vô lậu chân thật, gom bảy phương tiện đều trụ trong Trung Đạo, vĩnh viễn chẳng rò rỉ, rơi rớt hai bên nữa!

 

          (Kinh) Trí huệ âm, đại trí huệ âm.

          ()智慧音大智慧音。

          (Kinh: Tiếng trí huệ, tiếng đại trí huệ).

          “Trí huệ âm, đại trí huệ âm”: Trí dùng sự thấu hiểu tột cùng những điều kín nhiệm để đặt tên, Huệ dùng sự chọn lựa dứt khoát để đặt tên. Nêu ra hai âm thanh này vì tiếng trí huệ thông với bảy phương tiện. Như sách Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa trong phần luận về “trí diệu” đã nêu ra hai mươi loại trí. “Đại trí huệ âm” là hai trí Quyền và Thật của Như Lai, tức là trí huệ rất sâu vô lượng của chư Phật Như Lai như kinh Pháp Hoa đã nói.

          Hỏi: Trong phần trên đã nói đến Bát Nhã trong tiếng Phạn, Hán dịch là Trí Huệ, nay lại liệt kê Trí Huệ, há chẳng phải là trùng lặp ư?

          Đáp: Kinh Đại Phẩm Bát Nhã đã nói: “Dục đắc Đạo Huệ, Đạo Chủng Huệ, Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Chủng Trí, đương học Bát Nhã Ba La Mật” (Muốn đạt được Đạo Huệ, Đạo Chủng Huệ, Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Chủng Trí, hãy nên học Bát Nhã Ba La Mật); tức là Bát Nhã có thể sanh ra trí huệ. Vì thế, dùng chữ ấy để phiên dịch, tức là ý nghĩa “như mẹ có thể sanh ra con, bèn dùng con để đặt tên cho mẹ”. Sách Phụ Hành nói: “Chủng Trí Bát Nhã tự trọn đủ các pháp, có thể dứt bặt các tướng”. Tức là Bát Nhã vốn có đủ cả ba danh xưng như Thật Tướng v.v… nhưng trí huệ không gì chẳng phải là hai ý nghĩa như “nhân, quả”, “Quyền, Thật” v.v… cho nên chẳng trùng lặp. Nay quang minh và âm thanh tuyên nói pháp này, chính là khơi mở “các trí Quyền, Tiểu, Thiên, không gì chẳng phải là diệu trí như thật của Trung Đạo”. Đại Luận nói: “Mười phương ba đời chư Phật, thân phóng đại quang minh, chiếu trọn khắp mười phương, phá các tối tăm. Tâm tỏa ra quang minh trí huệ, phá vô minh tối tăm của chúng sanh”, chính là vì ý này!

 

          (Kinh) Sư tử hống âm, đại sư tử hống âm.

          ()師子吼音大師子吼音。

          (Kinh: Tiếng sư tử rống, tiếng sư tử rống lớn).

          Tăng Già (Siha) trong tiếng Phạn, dịch là “tiểu sư tử”. Danh xưng Tăng Già Bỉ trong tiếng Phạn dịch là sư tử, hoặc “đại sư tử”. Đại Luận nói: “Như vua sư tử, sanh trong dòng giống thanh tịnh, ở trong hang to nơi núi sâu”.

          “Hống” (吼) là rít gào. Dùng miệng dũi đất, thể hiện đại oai thế, biểu thị sức mạnh của sư tử vương. Nay kinh nói “sư tử âm” chính là vì tam thừa mà nói pháp Quyền, Tiểu. “Đại sư tử hống” là vì Biệt, Viên mà nói pháp Đại Thừa. Nói chung [sư tử hống] là biểu lộ sự vô úy. Kinh Tân Hoa Nghiêm (Bát Thập Hoa Nghiêm) nói: “Thí như đại sư tử hống, tiểu sư tử văn tất giai dũng kiện. Nhất thiết cầm thú, viễn tỵ, thoán phục. Phật sư tử hống, chư Bồ Tát đẳng nhược văn, tán thán Bồ Đề tâm thanh, trưởng dưỡng Pháp Thân. Vọng kiến chúng sanh, tàm phục thoái tán” (Ví như đại sư tử cất tiếng rống, các sư tử bé nghe tiếng đều mạnh mẽ, cứng cáp. Hết thảy các loài cầm thú tránh xa, ẩn núp. Nếu các vị Bồ Tát được nghe sư tử hống của đức Phật, đều tán thán Bồ Đề tâm thanh, nuôi lớn Pháp Thân. Chúng sanh tình kiến hư vọng đều hổ thẹn, khuất phục, lui tan). Đại Luận nói: “Ví như sư tử có thể khiến cho các loài thú khiếp sợ, khuất phục” là ý này. Nay quang minh tuyên dương, lưu bố, tức là muốn tuyên diễn các pháp như Lục Độ v.v… ắt có đủ đại trí huệ. Đại trí huệ đã đủ, sẽ hiện sư tử hống, chúng sanh [nghe rồi được] nhuần thấm. Vì thế, dùng Vân Lôi Âm để kết thúc [các âm thanh phát ra từ mây quang minh].

 

          (Kinh) Vân lôi âm, đại vân lôi âm.

          ()雲雷音大雲雷音。

          (Kinh: Tiếng mây sấm, tiếng mây sấm lớn).

          “Vân lôi âm, đại vân lôi âm”: Kinh Pháp Hoa nói: “Thí như đại vân, biến phú nhất thiết, huệ vân hàm nhuận, điện quang hoảng diệu, lôi thanh viễn chấn, linh chúng duyệt dự. Kỳ vũ phổ đẳng, suất thổ sung hiệp” (Ví như mây to che phủ khắp hết thảy, mây trí huệ chứa đựng đầy nước, ánh chớp lóe chói ngời, tiếng sấm rền xa, khiến cho đại chúng vui sướng. Mưa ấy tưới xuống bình đẳng, cả cõi đất đều được thấm đẫm). Mây ví như Ứng Thân nói mười hai bộ loại kinh, nên nói là “huệ vân” (mây trí huệ). Thân tỏa ra quang minh lớn, miệng rền bốn biện tài như chớp lóe sáng, sấm ầm ì, tuyên xối mưa pháp, [khiến cho muôn loài] đều được lợi ích nhuần thấm, nhưng [mỗi loài chúng sanh] đạt được lợi ích sai khác. Vì thế, mây và sấm khác nhau, nhưng đều do cùng một đất sanh ra, một trận mưa thấm đẫm, sai biệt chính là vô sai biệt. Phần Hiện Tướng đã xong.

 

3.1.2.2.2.2. Tập chúng (triệu tập đại chúng)

3.1.2.2.2.2.1. Kết tiền khởi hậu (kết lại phần trước, mở ra phần sau)

 

          (Kinh) Xuất như thị đẳng, bất khả thuyết bất khả thuyết âm dĩ, Sa Bà thế giới cập tha phương quốc độ, hữu vô lượng ức thiên, long, quỷ, thần diệc tập đáo Đao Lợi thiên cung.

          ()出如是等不可說不可說音已娑婆世界及他方國土有無量億天龍鬼神亦集到忉利天宮。

          (Kinh: Phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết âm thanh như thế xong, thế giới Sa Bà và các quốc độ ở phương khác, có vô lượng ức trời, rồng, quỷ, thần cũng nhóm đến cung trời Đao Lợi).

          Sách Tây Vực Ký chép: “Tam thiên đại thiên quốc độ thuộc thế giới Sách Ha là chỗ nhiếp hóa của một đức Phật; trước kia dịch là Sa Bà”. Kinh Bi Hoa nói: “Hà danh Sa Bà? Thị trung chúng sanh, nhẫn thọ Tam Độc, cập chư phiền não. Năng nhẫn tư ác, cố danh Nhẫn Độ” (Sao gọi là Sa Bà? Chúng sanh trong đó chịu đựng Tam Độc và các phiền não. Do có thể chịu đựng sự ác ấy, nên gọi là Nhẫn Độ). Lại nữa, vào lúc kiếp sơ, có Phạm vương tên là Nhẫn, cho nên đặt tên cõi này theo tên nhà vua ấy. Vì thế, kinh Lăng Già dịch [thế giới này] là Năng Nhẫn (có thể chịu đựng).

          Quốc độ trong tiếng Phạn gọi là Sát-ma, âm đúng là Xế-đa-la (Kṣetra), cõi này dịch là Thổ Điền. Vạn cảnh bất đồng, cũng gọi là Sát (剎), [tức là] lấy sự trang nghiêm sai biệt để đặt tên. “Quốc” (國) là một lãnh thổ, nhỏ thì gọi là Bang (邦), lớn thì gọi là Quốc. Vua thời cổ lập quốc để dân chúng sống, cân nhắc sao cho ứng hợp với trời đất, an định sao cho Âm Dương hòa hợp. Vì thế nói là Quốc Độ. Nhưng Pháp Thân chẳng giống như vậy, há có cuộc đất giả huyễn nào để cư trụ? Do ứng với muôn vật mà có hình tướng, cho nên tùy theo từng nước mà hóa hiện.

          Đại Luận nêu ra bốn loại Thiên:

          1) Danh Thiên (vị trời chỉ có danh xưng suông). Nay  quốc  vương

xưng là Thiên Tử, đời Châu xưng là Thiên Vương.

          2) Sanh Thiên, tức là các vị sống trên hai mươi tám tầng trời.

          3) Tịnh Thiên: Thánh nhân trong loài người.

          4) Tịnh Sanh Thiên: Các thánh nhân trong Dục Giới Thiên, Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, năm loại A Na Hàm trong Sắc Giới, và một loại A Na Hàm trong Vô Sắc.

          Chữ Na Già (Nāga) trong tiếng Phạn, cõi này dịch là Long (rồng), là loài có vảy, thân dài, có thể ẩn, có thể hiện, có thể lớn, có thể bé, có thể dài, có thể ngắn. Tiết Xuân Phân, bèn bay lên trời, tiết Thu Phân bèn xuống vực. Loài rồng có vảy gọi là Giao Long (蛟龍), loài có cánh gọi là Ứng Long (應龍), có sừng gọi là Cầu Long (虬龍), không có sừng là Ly Long (螭龍), chưa bay lên trời thì gọi là Bàn Long (蟠龍). Rồng thuộc về Thiên chúng; vì thế, trong kinh luận, “thiên, long” luôn được nêu chung. Ngũ Phần Luật không tính rồng thuộc loại súc sanh vì nó có thể bảo vệ, giữ an ổn cho người dân trong nước, ủng hộ chánh pháp.

          “Quỷ thần”: Trịnh Huyền[3] nói: “Tinh và Khí của thánh nhân là Thần. Tinh và Khí của hiền nhân là Quỷ”, đây cũng là một cách giải thích. Vì thế, Thi Tử[4] nói: “Thiên thần gọi là Linh, địa thần gọi là Kỳ, nhân thần gọi là Quỷ”. Quỷ (鬼) là quy (歸, trở về), vì cổ nhân coi chết là trở về. Quỷ còn có nghĩa là Úy (畏, sợ), hoặc Oai (威). Bản thân quỷ tự khiếp hãi, nhiều nỗi sợ, lại có thể khiến cho kẻ khác sợ oai của chúng. “Thần” là Năng (能, có khả năng). Thần có sức lớn thì sẽ có thể dời núi, lấp biển, sức nhỏ thì có thể biến hóa ẩn, hiện. [Thần và Quỷ] đều thuộc về quỷ đạo.

          Nhưng các quốc độ ở phương khác chẳng phải là chỗ giáo hóa của đức Phật ta, cớ sao trời, rồng, quỷ thần cũng [từ đó] vân tập? Điều này có hai ý:

          1) Một là do phân thân hóa hiện của đức Địa Tạng chẳng lúc nào ngưng hóa độ mọi người. Những kẻ ấy do thiện căn trong đời trước đã chín muồi, thiên tánh vốn sẵn tương quan. Do vậy, họ trông thấy quang minh, nghe âm thanh, bèn cùng lúc nhóm đến.

          2) Hai là những người ấy được dự pháp hội, hãy nên xét theo bốn câu luận về Thừa và Giới, thiên thần cùng nhóm đến tức là “Thừa và Giới đều gấp”, rồng và quỷ cũng đến, tức là “Thừa và Giới đều hoãn” v.v… Đều cùng là khinh báo Nê Lê, sao chẳng cầu độ thoát? Số ấy chẳng cùng tận, vì thế nói là “hữu vô lượng ức” (có vô lượng ức).

 

3.1.2.2.2.2.2. Chánh tập đại chúng (đại chúng vân tập)

         

          Phần này chia thành ba đoạn:

          – Đại chúng trời, rồng v.v…

          – Hết thảy các vị thần.

          – Các vị đại Quỷ Vương.

 

3.1.2.2.2.2.2.1. Thiên long đẳng chúng (đại chúng trời, rồng v.v…)

3.1.2.2.2.2.2.1.1. Biệt liệt tam giới thiên chúng (kể riêng các vị trời trong tam giới)

 

          Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa nói: “Người thuộc địa vị Thiên Thừa tu Thập Thiện đạo tùy ý thuần thục, đều là cái nhân để sanh thiên. Nếu tu thêm Thiền Định, sẽ thăng tấn vào cõi cao hơn”. Quả trời trong ba cõi cao thấp khác nhau, tu nhân ắt có sâu, cạn sai khác. Trong phần này, lại chia thành ba tiểu đoạn:

 

3.1.2.2.2.2.2.1.1.1. Lục Dục Thiên

 

          Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Như thị lục thiên, hình tuy xuất động, tâm tích thượng giao. Tự thử dĩ hoàn, danh vi Dục Giới” (Sáu tầng trời như thế, tuy về hình (tức sắc thân khi sanh lên cõi trời) đã thoát khỏi sự dao động của dục vọng (tức là không do cha mẹ hành dâm sanh ra, không ở trong thai tạng, hoàn toàn là hóa sanh), nhưng tâm vẫn có dấu vết dính mắc cảnh (chưa hoàn toàn thoát khỏi dục niệm). Từ đó trở xuống, gọi là Dục Giới)[5]. Vì thế, luận Câu Xá nói: “Sáu tầng trời cõi Dục [lần lượt từ thấp lên cao] lấy chuyện giao phối, ôm nhau, nắm tay, nhìn nhau cười là hành dâm” (Sách Phụ Hành giải thích: “Địa Cư Thiên thật sự giao phối, Đao Lợi coi chuyện gió thoát ra [từ thân thể sau khi hành dâm] là xong, Dạ Ma thì ôm ấp, Đâu Suất thì nắm tay, Hóa Lạc là nhìn nhau cười, trời Tha Hóa chỉ cần nhìn nhau”). Tuy giữ lấy cảnh khác nhau, nhưng đều là chưa lìa tình dục! Vì thế, gọi chung là Lục Dục Thiên.

 

          (Kinh) Sở vị: Tứ Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Tu Diễm Ma Thiên, Đâu Suất Đà Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên.

          ()所謂四天王天忉利天須燄摩天兜率陀天化樂天他化自在天。

          (Kinh: Đó chính là Tứ Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Tu Diễm Ma Thiên, Đâu Suất Đà Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên).

 

          Tứ Thiên Vương Thiên (Caturmahārājakāyikā) là cõi trời đầu tiên khi thăng lên thiên giới, là tầng trời thứ nhất so với hạ giới, ở ngang lưng núi Tu Di, gần mặt trời, mặt trăng. [Thiên vương trong tầng trời này] là ngoại thần (bầy tôi bên ngoài của Đế Thích), tức là bốn vương gia trấn giữ bốn phương. Danh tự của họ sẽ được giải thích trong phần sau. Kinh Trường A Hàm nói: “Tứ Thiên Vương đều kết hôn, hành dục giống như loài người (nam nữ căn tiếp xúc), con thơ hóa sanh ở trên đầu gối như đứa trẻ năm tuổi (trời Đao Lợi thì đứa bé hóa sanh ấy như trẻ sáu tuổi, cho đến trời Tha Hóa thì như mười tuổi). Chẳng lâu sau, tự nhiên đồ đựng bằng chất báu cảm trăm vị, nó ăn chất cam lộ của cõi trời. Ăn xong, thân hình nó to bằng chư thiên”. Thân lượng và thọ mạng của chư thiên trong sáu tầng trời như trong Câu Xá Tụng đã nói: “Dục Thiên câu-lô-xá, tứ phần nhất nhất tăng” (ý nói: Một phần tư của Câu-Lô-Xá (Krośa) là nửa dặm. Trong tầng trời thứ nhất, thân cao nửa dặm, năm tầng trời sau đó, cứ lên cao hơn một tầng thì cao thêm nửa dặm). Năm mươi năm trong nhân gian bằng một ngày một đêm trong tầng trời thấp nhất (Tứ Thiên Vương Thiên). Theo cách tính đó, họ thọ năm trăm năm. Năm tầng trời trên đó lần lượt gấp bội lần lên (Tứ Thiên Vương Thiên thọ năm trăm năm, mà năm mươi năm trong nhân gian bằng một ngày trong cõi đó. Cho đến Tha Hóa Thiên thọ mười sáu ngàn năm, coi một ngàn sáu trăm năm trong nhân gian là một ngày. Họ cũng lấy ba mươi ngày làm một tháng, mười hai tháng làm một năm). Nếu bố thí, giữ giới chẳng giết chóc, thanh tịnh thù thắng đôi chút, chán nhàm gia nghiệp, ưa thích nghe pháp, cúng dường người lành, sẽ sanh vào  Tứ  Thiên  Vương

Thiên.

          Đao Lợi Thiên như đã nói trong phần trên. Đại Luận nói: “Thích Ca Đề Bà Nhân Đề (Śakra-Devānām-Indra), Hán dịch là Năng Thiên Chúa. Lúc làm người đã bố thí, lại còn giữ giới chẳng trộm cắp, cúng dường, và tôn trọng cha mẹ, tâm mong cầu thù thắng, sanh vào Tam Thập Tam Thiên, ở trên đỉnh núi Tu Di. Bốn phía đỉnh núi có ba mươi hai cõi trời”. Đối với hai tầng trời trên đây, chỉ tu Thượng Phẩm Thập Thiện là được sanh vào đó.

          Tu Diễm Ma Thiên (Suyāma, Dạ Ma Thiên): Đại Luận nói: “Tên của Dạ Ma Thiên vương được dịch sang tiếng Hán là Diệu Thiện, do vua luôn kêu ‘sung sướng quá’, tuy hưởng thụ cảnh ngũ dục, nhưng biết thời hạn. Đấy là do bố thí, cộng thêm trì giới chẳng dâm, tâm ý nhu hòa, bèn sanh vào Dạ Ma Thiên. Lại do khi còn ở trong nhân gian, động ít, tĩnh nhiều; sau khi mạng chung, an trụ rành rành trong hư không. Quang minh của mặt trời và mặt trăng còn chẳng chiếu tới. Những vị trời ấy tự có quang minh”. Đây là tầng trời đầu tiên thuộc về Không Cư Thiên.

          Đâu Suất Đà Thiên (Tuṣita), dịch theo lối mới[6] là Đổ Sử Đa. Đại Luận nói: “Tên của San Đâu Suất Đà thiên vương được dịch sang tiếng Hán là Diệu Túc, do đối với ngũ dục bèn biết đủ mà ngưng nghỉ. Do xưa kia bố thí, cộng thêm giữ cho miệng chẳng phạm bốn lỗi, ưa thích đa văn, phân biệt tốt, xấu, yêu chuộng Niết Bàn, nhưng tâm chấp vào công đức. Sau khi mạng chung, thăng lên cõi tinh vi, chẳng tiếp nhận cảnh nhân thiên thuộc những cõi dưới. Cho đến khi Kiếp Hoại, Tam Tai không gây hại tới. Đấy là chỗ ở của bậc Bổ Xứ Bồ Tát. Vì thế, Phật Địa Luận gọi [cõi trời này] là Hỷ Túc vì hậu thân Bồ Tát giáo hóa trong ấy, phần nhiều tu Hỷ Túc”. “Tam Tai không lan tới nơi ấy” là nói theo Nội Viện, chứ Ngoại Viện của cõi trời ấy vẫn hứng chịu Tam Tai.

          Hóa Lạc Thiên (Nirmāṇarati): Đại Luận nói: “Tu Niết Mật Đà, dịch sang tiếng Hán là Hóa Lạc, vì tự hóa hiện ngũ trần để hưởng vui sướng. Đấy là do tâm bố thí sâu xa, trì giới, đa văn, tự lực sinh hoạt, sẽ sanh vào Hóa Lạc Thiên”.

          Tha Hóa Tự Tại Thiên (Para-nirmita-vaśa-vartin): Tiếng Phạn là Bà Xá Bạt Đề. Do chư thiên cõi này đoạt lấy sự biến hóa của người khác để tự hưởng vui sướng [nên gọi là Tha Hóa Tự Tại]. Do xưa kia, lúc bố thí thanh tịnh, trì giới càng sâu, ưa chuộng đa văn, nhưng có lắm tình kiến quý trọng chính mình, chẳng thể tự chịu khổ, cầu sự vui sướng từ kẻ khác, lòng luôn suy nghĩ siêng tu tập phương tiện hòng đoạt lấy ngũ dục do người khác biến hóa ra để chính mình hưởng thụ tự tại. Vì thế, Biệt Hành Sớ viết: “[Cõi trời này] là cõi trời cao nhất của Dục Giới, biến những thứ do người khác tạo tác thành sự vui sướng của chính mình, tức là Ma Vương”. Sách Thùy Dụ Ký[7] lại chép: “Trên tầng trời thứ sáu, có một cõi trời dành riêng cho Ma La ở, thuộc Tha Hóa Thiên”. Kinh luận nói khác nhau [như vậy đó].

          Bốn cõi trời Không Cư trên đây, tu thượng phẩm Thập Thiện, kiêm tọa Thiền chưa đắc Định, bèn được sanh vào trong các cõi ấy. Sách Tướng Luật Cảm Thông Truyện[8] chép: “Đế Thích là chúa các tầng trời Địa Cư. Ma Vương là chúa tầng trời lục dục. Đế Thích và bốn thiên vương muốn hành Phật pháp, ma không chế ngự được!”

          Hỏi: Hai cõi trời Địa Cư chủ yếu trụ trên đỉnh núi, các bầy tôi sống ở chân núi. Bốn tầng trời thuộc Không Cư dựa vào đâu để an lập?

          Đáp: Theo Đại Luận, đất bảy báu của các cõi trời như Dạ Ma v.v… ở trong hư không, có phong luân giữ cho chúng an trụ. Cho đến trời Tịnh Cư cũng giống như thế. Nghiệp Sớ[9] lại nói: “Trên Đệ Tứ Thiền, mây phủ nhẹ mỏng, rải rác như sao, chẳng tụ tập dầy đặc như các tầng trời phía dưới”. Do vậy biết: Tuy là Không Cư, ắt phải nương vào mây, nhờ vào gió để duy trì. Do phước nghiệp mà được như vậy đấy!

 

3.1.2.2.2.2.2.1.1.2. Sắc Giới Thiên

          Có tất cả mười tám cõi trời, chia thành Tứ Thiền. Sơ, Nhị, Tam Thiền, mỗi Thiền Thiên có ba tầng trời, Tứ Thiền có chín tầng trời. Đã lìa dục thô tán, nhưng chưa ra khỏi lồng giam của Sắc, cho nên gọi là Sắc Giới (Rūpadhātu). Do tọa Thiền đắc Định, nên gọi là Thiền. Thân chánh báo [trong Sắc Giới Thiên] là sắc thanh tịnh, chẳng phải là sắc thân cấu nhiễm như trong Dục Giới.

          (Kinh) Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên.

         ()梵眾天梵輔天大梵天。

          (Kinh: Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên).

          Đại Luận nói: “Dục Giới tâm tán loạn, hành giả nương vào địa nào, do phương tiện nào để đắc? Hãy nên nương vào các môn Thiền Định thuộc Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Đối với Tứ Vô Lượng Tâm, Bát Bội Xả, Bát Thắng Xứ, Cửu Thứ Đệ Định, Thập Nhất Thiết Xứ Thí Tâm, biết nhu nhuyễn tự tại có như ý hay không? Ví như người huấn luyện thử ngựa, [cho đến khi ngựa đã] có thể điều khiển tùy ý, thì mới dùng nó để ra trận. Vì thế, thế gian và xuất thế gian dùng những món Thiền ấy làm căn bản”.

          “Phạm” (梵) là thanh tịnh, chẳng có dục nhiễm. Mười tám tầng trời đều thanh tịnh, vô dục. Trước tên của các cõi trời này đều có chữ Phạm. Phạm Chúng (Brahma-pāriṣadya-deva) là dân, Phạm Phụ (Brahma-purohita) là quần thần. Phạm Phụ còn gọi là Phạm Phú Lâu, cõi này dịch Tiền Ích Thiên (前益天), do họ thường đi trước Phạm Thiên, luôn suy nghĩ lợi ích của Phạm Thiên. Đại Phạm (Mahā-brahmā) tức là vua. Vì thế, sách Thứ Đệ Thiền Môn[10] nói: “Đức Phật vì các nhân vương nói mười tám cõi trời Phạm, cũng phải nên có dân và chúa khác nhau”. Theo đấy, sau đó cũng nên tách ra thành dân chúng, các quan, và vua. Nhưng sách Pháp Uyển Châu Lâm luận định về chư thiên sang hèn, [từ Tứ Thiên Vương Thiên cho đến các tầng] trời Sắc Giới, chỉ riêng ba cõi trời Sơ Thiền là có sang hèn, Đại Phạm Thiên là vua… Chư thiên từ đây trở lên đều thọ báo bình đẳng như nhau, chẳng có sang hèn. Căn cứ theo đó, đối với ba cõi trời có chữ Quang và ba cõi trời có chữ Tịnh trong Sắc Giới, phải dùng công hạnh để luận định ưu việt hay kém cỏi. Đại Luận quyển chín nói: “Trời Phạm Thế, đối với sanh xứ thì có ba loại: Một là Phạm Chúng Thiên, là nơi sống của các tiểu phạm. Hai là Phạm Phụ Thiên, là chỗ sanh của các Phạm thiên sang quý. Ba là Đại Phạm Thiên, là chỗ sanh của bậc trung gian Thiền”.

          Hỏi: Cùng ly dục giống nhau, sao lại có quý hèn khác chỗ?

          Đáp: Ba loại trời trong Sơ Thiền: Tu Hạ Thiền sanh vào Phạm Chúng, tu Trung Thiền sanh vào Phạm Phụ, tu Thượng Thiền sanh vào Đại Phạm. Hạnh về lòng Từ cũng như vậy. Dùng đệ nhất thanh tịnh tâm để tu thượng Từ, bèn sanh làm Đại Phạm, thống lãnh đại thiên, làm bậc Thế Chủ (chúa tể của thế gian). Nhưng nói chung, có vạn ức Phạm Vương, nhưng trong cõi đại thiên này, Phạm Vương tên là Thi Khí (Śikhin), dịch sang tiếng Hán là Đảnh Kế (頂髻, búi tóc trên đỉnh đầu), làm chúa cõi đại thiên (đấy là nói theo chiều ngang). Lại nữa, Sơ Thiền vì bên trong có giác quán, cho nên bên ngoài sẽ có ngôn ngữ để thuận tiện thống lãnh các địa vị thấp hơn. Như Ma Hê Thủ La (Maheśvara), tuy được gọi là Đại Tĩnh Vương (ngài Quán Đảnh nói vị thiên vương này có tên là Oai Linh Đế), sống ở trên đỉnh của Sắc Giới, có quả báo thù thắng, cho nên làm chúa, nhưng không có ý nghĩa là một vị vua thống lãnh. Hai tầng Thiền Thiên trên đó không có pháp ngôn ngữ! Vì thế, các Thiền Thiên chỉ coi người có quả báo thù thắng là chúa, chẳng phải là bậc thống lãnh, cai trị (đấy là luận định theo chiều dọc). Như Niết Bàn Sớ viết: “Chúa của thế giới Sa Bà thật sự là Ma Hê Thủ La, Phạm Vương chỉ thống lãnh tiểu thiên mà thôi”. Đấy chính là cách nói của các vị cổ đức, chẳng phải là chánh ý trong tông này. Đại Luận nói: “Có người bố thí, trì giới, khi người ấy tu bố thí, tấm lòng vui sướng. Nếu thí nhiều, niềm vui cũng nhiều. Tư duy như thế, bỏ ngũ dục, trừ ngũ cái, nhập Sơ Thiền; cho đến Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Thiên cũng giống như thế!”    

 

          (Kinh) Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên.

          ()少光天無量光天光音天。

          (Kinh: Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên).

          Nhị Thiền có ba tầng trời: Thiểu Quang (Parīttābha) là do quang minh ít ỏi. Vô Lượng Quang (Apramāṇābha) là quang minh tăng nhiều hơn, chẳng có hạn lượng. Quang Âm (Ābhāsvara, dịch theo lối mới là Cực Quang), vì dùng quang minh làm âm thanh, ngôn ngữ! Đại Luận, quyển thứ ba mươi ba chép: “Như kinh nói tâm thanh tịnh thù thắng hay kém cỏi, cho nên quang minh có thượng, trung, hạ. Tâm chư thiên thanh tịnh, bố thí, trì giới; cho nên thân có quang minh. Lại có người đốt đèn ở chỗ tối, và cũng cúng dường tôn tượng, tháp, chùa. Lại thường tu từ tâm, nghĩ tới trọn khắp chúng sanh. Lại tu Niệm Phật tam-muội, niệm quang minh thần đức của chư Phật. Lại tu Hỏa Nhất Thiết Nhập. Lại dùng quang minh trí huệ giáo hóa chúng sanh ngu ám, tà kiến. Do bởi nhân duyên của nghiệp ấy, đạt được ánh sáng trí huệ trong tâm, thân cũng có quang minh”. Vì thế, A Tỳ Đàm Luận nói: “Tướng báo thân của chư thiên đều chẳng có xương, thịt, cũng chẳng có đại tiểu tiện bất tịnh. Thân tỏa ra quang minh, chẳng phân biệt ngày hay đêm, đạt được quả báo Ngũ Thông, sắc thân không chướng ngại!” Vì thế biết: Luận định về quang minh trong ba cõi trời, nghĩa đã trọn khắp trước sau. Luận về tịnh trong Tam Thiền, ý nghĩa cũng giống như thế. Nói chung là tùy theo hạnh cao hay thấp mà đạt được địa vị cạn hay sâu!

 

          (Kinh) Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên.

          ()少淨天無量淨天徧淨天。

          (Kinh: Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên).

 

          Ba tầng trời thuộc Tam Thiền:

          – Thiểu Tịnh (Parīttaśubha), ly hỷ thọ lạc là Tịnh, do chẳng bằng địa vị cao hơn nên là Thiểu.

          – Vô Lượng Tịnh (Apramāṇaśubha): Do tịnh thù thắng hơn tầng trời trước (Thiểu Tịnh) chẳng thể lường được.

          – Biến Tịnh (Śubhakṛtsna): Lạc thọ tối thắng, tịnh trọn khắp.

          Vì sao Tam Thiền được gọi là Tịnh? Đại Luận nói: “Do duyên tịnh, nên là Tịnh. Tám sắc[11] là tịnh pháp, chưa bị luyện sẽ chẳng tịnh. Nay pháp Tam Thiền và Tứ Thiền dấy khởi, đều xúc chạm tám sắc ấy để làm tịnh duyên”. Nói “pháp Tam Thiền, Tứ Thiền” v.v… là nói tới cái sắc cực tịnh trong Sắc Giới, dùng nó để duyên Xúc, tám sắc càng tịnh. Vì thế nói là “do duyên tịnh, cho nên tịnh”. Niềm vui ấy cảm thọ trọn khắp toàn thân, nên biết là Tịnh do Tam Thiền. Sách Ma Ha Chỉ Quán nói: “Niềm vui trong Tam Thiền như đá giữa suối, sanh từ ngay trong nước. Niềm vui do Phạm hạnh cũng giống như thế. Niềm vui trong hai giới chẳng thể hơn [niềm vui trong] Tam Thiền được! Hễ cầu sanh lên trời, hãy lấy lạc làm gốc. Vì thế, gọi lạc thù thắng là Thiên”.

 

          (Kinh) Phước Sanh Thiên, Phước Ái Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên, Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên.

          ()福生天福愛天廣果天無想天無煩天無熱天善見天善現天色究竟天。

          (Kinh: Phước Sanh Thiên, Phước Ái Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên, Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên).

         

          Chín tầng trời thuộc Tứ Thiền: Ba tầng là trụ xứ của phàm phu, là chỗ ở của Vô Tưởng ngoại đạo, năm tầng trời là chỗ ở của [thánh nhân] Tam Quả. Đối với ba tầng trời của phàm phu, kinh luận nói hơi sai khác. Như kinh Nhân Vương nói “cửu Phạm”, tức ba tầng trời được gọi là Tịnh (Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh), ba tầng trời được gọi là Quang (Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, và Quang Âm), và ba tầng trời Phạm (Phạm Chúng, Phạm Phụ, và Đại Phạm), năm tầng Hỷ Lạc Thiên. Sớ giải lại nói Vô Vân Thiên (Anabhraka) là khởi đầu [của Tứ Thiền], không có Phước Ái Thiên. Nay kinh này và kinh Lăng Nghiêm đều chẳng nhắc tới Vô Vân, mà đều coi Phước Ái là tầng trời thứ hai. Ấy là vì các vị dịch sư dịch thuật hơi sai khác vậy.

          Phước Sanh (Puṇyaprasava): Do tướng thô nặng đã diệt, phước tánh thanh tịnh sanh ra. Đặt tên như vậy nhằm nêu tỏ cái nhân. Phước Ái: Xả tâm viên dung, ngộ giải thù thắng thanh tịnh. Trong cái phước chẳng bị ngăn che, đạt được sự tùy thuận mầu nhiệm. Cõi trời trước coi xả lạc là phước; nay xả tâm chuyển biến càng thù thắng hơn, yêu thích phước ấy. So với Phước Sanh, sâu, cạn khác biệt! Quảng Quả (Bṛhatphala): Quả của phàm phu chẳng thể thù thắng hơn được. Vô Tưởng (Asaṃjñasattva): Trong một khoảng thời gian, tâm tưởng chẳng hiện hành.

          Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tùng thị thiên trung, hữu nhị kỳ lộ. Nhược ư tiên tâm, vô lượng tịnh quang, phước đức viên minh, tu chứng nhi trụ, danh Quảng Quả Thiên. Nhược ư tiên tâm, song yếm khổ lạc, thân tâm câu diệt, kinh ngũ bách kiếp giả, danh Vô Tưởng Thiên. Thử tứ thắng lưu, nhất thiết thế gian chư khổ lạc cảnh, sở bất năng động. Tuy phi vô vi chân bất động địa, hữu sở đắc tâm, công dụng thuần thục, danh vi Tứ Thiền. Thử trung phục hữu ngũ Bất Hoàn Thiên, ư hạ giới trung, cửu phẩm tập khí câu thời diệt tận, khổ lạc song vong, hạ vô bốc cư. Cố ư xả tâm chúng đồng phận trung, an lập cư xử” (Từ trong cõi trời này, có hai con đường rẽ. Nếu đối với cái tâm trước đó, do vô lượng tịnh quang, phước đức viên minh, tu chứng bèn trụ [trong ấy] thì gọi là Quảng Quả Thiên. Nếu đối với cái tâm trước đó, chán ghét cả khổ lẫn lạc, thân lẫn tâm đều diệt, trải qua năm trăm kiếp, thì gọi là Vô Tưởng Thiên. Đối với bốn dòng thù thắng ấy, hết thảy các cảnh khổ vui trong thế gian đều chẳng thể động. Tuy chẳng phải là địa vị bất động vô vi thật sự, nhưng do tâm có sở đắc, công dụng thuần thục, nên gọi là Tứ Thiền. Trong ấy lại có Ngũ Bất Hoàn Thiên, tức là cùng lúc diệt sạch chín phẩm tập khí thuộc về hạ giới, khổ và lạc cùng mất, chẳng chọn lựa chỗ ở trong các cõi dưới đó nữa. Vì thế trong Chúng Đồng Phận của xả tâm mà an lập, ở yên).

          Đại Luận gọi [Bất Hoàn Thiên] là Tịnh Sanh Thiên (Śuddhāvāsa). Sắc Giới có năm loại A Na Hàm, Bất Hoàn Thiên là [nơi mà các vị thánh nhân Tiểu Quả sẽ] chẳng trở lại nơi ấy, tức là họ sẽ ở trong ấy mà đắc A La Hán. Tiếng Phạn [gọi Bất Hoàn Thiên] là Thủ Đà Bà (Śuddhāvāsa), dịch sang tiếng Hán là Tịnh Cư Thiên. Vì sao gọi là Tịnh Cư Thiên? Do Tứ Thiền có tám loại thì năm loại là trụ xứ của A Na Hàm, tức là Tịnh Cư, là nơi mà ba loại thánh nhân phàm phu[12] cùng ở. Do Tịnh Cư Thiên thường thương xót chúng sanh, họ thường khuyên thỉnh đức Phật thuyết pháp.

          Vô Phiền (Avṛha): Chẳng xen tạp Kiến Tư phiền não, đối với hai đằng khổ và lạc, tâm chẳng có ý tưởng dính dáng đến chúng. Vô Nhiệt (Atapa): Chỉ có dấy khởi hoặc thâu tóm ý niệm, chẳng hề nghiên cứu niệm tâm, hoặc xen tạp ý niệm, chẳng có trái nghịch hay tùy thuận, lìa khỏi nhiệt não. Vô Phiền dứt bặt ngoại cảnh, Vô Nhiệt dứt bặt nội tâm, sâu cạn khác hẳn! Thiện Kiến (Sudarśana): Đối với mười phương thế giới, đều thấy mầu nhiệm viên mãn, lắng trong, mà cũng chẳng có hình bóng trần cảnh, cái Thấy tột bậc sáng suốt, thấu triệt. Thiện Hiện (Sudṛśa): Cái Thấy tinh diệu đã hiện tiền, nặn đúc vô ngại (ý nói sức Định Huệ có thể tùy ý thành tựu vô ngại như người thợ gốm hoặc thợ đúc tùy tâm chế tác các vật), hình sắc càng thù thắng hơn, do có thể khéo biến hóa. Sắc Cứu Cánh (Akaniṣṭha): Hiểu rốt ráo mọi căn cơ, thấy tột cùng tánh của sắc tánh, nhập vô biên tế, là tối cực trong sắc pháp. A Ca Ni Trá, hoặc A Ca Ni Sa trong tiếng Phạn, Hán dịch là Chất Ngại Cứu Cánh (質礙究竟) tức nói về cõi trời này vậy.

         

          (Kinh) Ma Hê Thủ La Thiên.

          ()摩醯首羅天。

          (Kinh: Ma Hê Thủ La Thiên).

 

          Ma Hê Thủ La Thiên (Maheśvara), Đại Luận dịch là Đại Tự Tại. Chánh âm là Ma Ha Mạc Hê Y Thấp Phạt La (Mahā-īśvara)[13], tám tay, ba mắt, cưỡi trâu trắng. Nhưng Phổ Môn Sớ nói: “Kinh Lâu Thán gọi [vị trời này] là A Ca Ni Trá, kinh Hoa Nghiêm gọi là Sắc Cứu Cánh Thiên”. Như vậy thì Ma Hê Thủ La chính là Sắc Cứu Cánh Thiên; nay kể riêng biệt thì như kinh Bảo Vũ chép: “Phục hữu Tịnh Cư thiên chúng, Ma Hê Thủ La nhi vi thượng thủ” (Lại có thiên chúng Tịnh Cư, Ma Hê Thủ La làm thượng thủ). Nay kinh này nêu riêng tên vị này, nhằm tôn xưng vị chủ cõi trời ấy. Cũng có người cho rằng Ma Hê Thủ La là chúa cõi trời thứ sáu trong Dục Giới, nhưng các kinh luận phần đông gọi vị này là Đại Tự Tại, [ngự] trên đỉnh của Sắc Giới. Thích Luận nói: “Qua khỏi tám chỗ ấy, có trụ xứ của Thập Trụ Bồ Tát, còn gọi là Tịnh Cư, [vị Bồ Tát ấy] hiệu là Đại Tự Tại thiên vương, là chủ của cõi đại thiên thế giới”. Kinh Thập Trụ nói: “Đại Tự Tại Thiên quang minh thắng nhất thiết chúng sanh. Cố Thế Tôn Niết Bàn hiến cúng, Đại Tự Tại Thiên tối thắng” (Đại Tự Tại Thiên quang minh vượt xa hết thảy chúng sanh. Vì thế, lúc đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, Đại Tự Tại Thiên hiến cúng thù thắng nhất). Do vậy biết Đại Tự Tại Thiên chẳng phải là Đệ Lục Thiên. Nay nói đến Tha Hóa Tự Tại thì ông ta nhờ vào những thứ do người khác biến hóa để tự mình hưởng thụ, được đại tự tại nơi cảnh giới, còn Ma Hê Thủ La ở tột đỉnh của Sắc Giới, huân tu Thiền tối thắng, đắc đại tự tại nơi Định. Một đằng là từ thế lực, Ma Vương thuộc vào Lục Thiên. Một đằng là từ Thiền Định, tôn quý tột bậc, đáng nên ngự tại tột đỉnh của Sắc Giới. Huống hồ Ba Tuần (Ma vương) thường cầu đức Thế Tôn nhập diệt, còn Tịnh Cư thường thỉnh Như Lai chuyển pháp luân. Vậy thì danh hiệu Tự Tại cố nhiên là giống như nhau, nhưng chuyện tự tại vĩnh viễn khác biệt. [Đại Tự Tại Thiên] chẳng phải là Lục Dục Thiên, những điều vừa nói đủ làm chứng cớ rồi.

          Tỳ Bà Sa Luận nói: “Phàm những ai sanh về cõi trời ấy, nếu là kẻ tiến hướng quả A Na Hàm, thân đạt được Tứ Thiền, phát khởi vô lậu, dấy lên huân tập Thiền nghiệp, hoặc khởi một phẩm cho đến chín phẩm thì mới được sanh [về đó]. Phàm phu chẳng được huân tập bởi Thiền nghiệp này, cho nên chẳng được sanh về đó”. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Thử Bất Hoàn Thiên, bỉ chư Tứ Thiền tứ vị thiên vương, độc hữu khâm văn, bất năng tri kiến. Như kim thế gian khoáng dã, thâm sơn, thánh đạo tràng địa, giai A La Hán sở trụ trì cố, thế gian thô nhân, sở bất năng kiến dã” (Bất Hoàn Thiên và bốn vị thiên vương thuộc Tứ Thiền đều riêng có thể nghe nhận, vâng hành ý chỉ của Phật, [người khác] chẳng thể thấy biết họ được. Như nơi đồng hoang, núi sâu, hoặc nơi thánh địa đạo tràng, đều có A La Hán duy trì, nhưng kẻ thô thiển trong thế gian chẳng thể trông thấy).

 

3.1.2.2.2.2.2.1.1.3. Vô Sắc Giới Thiên

          Nhàm chán sâu xa cái lồng Sắc, tu Tứ Không Định, sanh vào Tứ Không Thiên, gọi là Vô Sắc Giới (Ārūpya-dhātu). Do bốn cõi trời này chỉ có bốn Uẩn (không có Sắc Uẩn), cho nên gọi tên như vậy. Sách Phụ Hành, quyển sáu có chép: “Từ Đệ Tứ Thiền, muốn nhập Không Xứ, ắt phải hành phương tiện, diệt ba thứ Sắc. Một là Khả Kiến Khả Đối Sắc (Sắc Trần), hai là Bất Khả Kiến Khả Đối Sắc (năm căn, bốn trần), ba là Bất Khả Kiến Vô Đối Sắc (chút phần của pháp nhập, tức là Vô Biểu Sắc)[14]. Ba thứ Sắc này hoàn toàn thuộc trong Sắc Giới, cho nên [Vô Sắc Giới] diệt ba thứ ấy, nhưng chỉ là không có thô sắc, chẳng phải là không có tế sắc”. Vì thế, ngài Diệu Lạc nói: “Vô Sắc tuy chẳng có sắc được tạo ra bởi Tứ Đại, nhưng những gì tạo tác bởi Định quả [trong Tứ Không Định] đều là tường vách” (đại sư dùng chữ “tường vách” trong kinh Pháp Hoa để ví von Ý Thức). Tam giới đều dùng Ý Thức để duy trì. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Thị Tứ Không Thiên, thân tâm diệt tận, Định tánh hiện tiền, vô nghiệp quả sắc. Tùng thử đãi chung, danh Vô Sắc Giới” (Tứ Không Thiên thân tâm diệt sạch, Định tánh hiện tiền, là vô nghiệp quả sắc. Từ đó cho đến khi mạng chung thì gọi là Vô Sắc Giới). Ngài Cô Sơn giảng rằng: “[Nói là] vô nghiệp quả sắc, cho thấy có Định quả sắc”.

 

          (Kinh) Nãi chí Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.

          ()乃至非想非非想處天。

          (Kinh: Cho đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên).

          “Nãi chí” (乃至, cho đến) là từ ngữ chỉ sự tỉnh lược. Trong ấy, đáng lẽ phải kể ra đầy đủ tên của bốn cõi trời, do vì giản tiện, nên nói là “nãi chí”.

          Không Xứ Thiên (Ākāśānantyāyatana): Vừa mới lìa ba thứ Sắc, tâm duyên theo hư không, đã tương ứng với Vô Sắc, cho nên gọi là Hư Không Định.

          Thức Xứ Thiên (Vijñānānantyāyatana): Xả Không, duyên Thức, lấy Thức làm nơi chốn. Chính là đặt tên theo chỗ sở duyên, cho nên gọi là Thức Xứ.

          Vô Sở Hữu Xứ Thiên (Ākiṃcanyāyatana): Hành giả chán nhàm Thức Xứ vô biên. Do vậy, bèn bỏ nó, nhập vào Vô Sở Hữu Xứ, còn gọi là Bất Dụng Xứ. Khi tu môn Định này, chẳng dùng hết thảy cảnh giới trong hay ngoài (ngoại cảnh gọi là Không, nội cảnh gọi là Thức). Bỏ cả hai cảnh ấy, vì thế nói là Bất Dụng Xứ.

          Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên (Naivasaṃjñānāsaṃjñāya-tana) là tầng trời thứ tư: Môn Định này chẳng duyên theo Thức Xứ, nên là phi tưởng (chẳng có tưởng); do nó chẳng duyên Bất Dụng Xứ, nên là phi phi tưởng (chẳng phải là không có tưởng). Cổ nhân đối với tầng trời này có nhiều cách hiểu khác nhau. Nay dựa theo sách Ma Ha Chỉ Quán, bèn thấy [Trí Giả] đại sư tuy chưa được xem kinh Lăng Nghiêm, nhưng những điều Ngài giải thích khéo hợp ý kinh. Ngài nói: “Thức tánh bất động, do diệt trừ sự nghiên cứu đến tột cùng, nên là phi tưởng”, há chẳng phải là không duyên theo Thức Xứ ư? “Trong cái vô tận, phát khởi, tuyên thuyết cùng tận tánh, chính là phi phi tưởng”, há chẳng phải là không duyên theo Bất Dụng Xứ ư? Lại nói: “Giống như tồn tại mà chẳng tồn tại, tức là Phi Tưởng. Như là tận mà chẳng tận, tức là Phi Phi Tưởng”. Vì thế, Thiền môn nói: “Trong Định này, chẳng thấy hết thảy tướng mạo; cho nên nói là Phi Tưởng. Nếu cứ bảo là một mực chẳng có tưởng thì chẳng khác gỗ, đá, vì sao có thể biết là vô tưởng, cho nên nói là Phi Phi Tưởng”. Giải thích ý nghĩa như thế, tự nhiên phù hợp khít khao. Nếu [Trí Giả đại sư] chẳng phải là bậc cổ Phật tái lai, sao có thể phát lộ ý nghĩa mầu nhiệm này? Gần đây, có kẻ do thấy đại sư không được xem kinh Lăng Nghiêm, [bèn vội vã cho là] Ngài hiểu sai nghĩa “lục căn” trong kinh Pháp Hoa, thốt lời bắt bẻ, phỉ báng, há chẳng phải là lưỡi [của những kẻ đó] sẽ bị nát trong miệng ư? Sách Phụ Hành, quyển chín nói: “Nếu đối chiếu hai cõi Sắc và Vô Sắc thì Sắc Giới gọi là Thiền, Vô Sắc Giới được gọi là Định. Nếu so sánh chung hai giới trên với Dục Giới ở dưới, thì cả hai giới trên đều được gọi là Định Địa, hạ giới (Dục Giới) là Tán”.

          Những điều giải thích trên đây từ Tứ Thiên Vương cho đến Phi Phi Tưởng tuy phân biệt là Định hay Tán, nhưng sanh tử chẳng khác gì nhau, há tránh khỏi luân chuyển trong tam đồ, khó trốn khỏi thăng trầm trong bảy đường! Tuy dùng hai môn Hân Yếm (ưa thích Tịnh Độ, chán nhàm Sa Bà), vừa thấy tướng lành của mây quang minh, liền như chim ưng, chim cắt (falcons peregrinus) bay liệng, cùng nhóm đến cung trời!

 

3.1.2.2.2.2.2.1.2. Tổng chỉ bát bộ đẳng chúng (nói chung về đại chúng như thiên long bát bộ v.v…)

 

          (Kinh) Nhất thiết thiên chúng, long chúng, quỷ thần đẳng chúng, tất lai tập hội.

          ()一切天眾龍眾鬼神等眾悉來集會。

          (Kinh: Hết thảy đại chúng trời, rồng, quỷ thần v.v… đều cùng nhóm đến).

          Đây là nói chung đại chúng thuộc bát bộ ở trong cõi này và các phương khác để kết lại phần vân tập này. Chữ Sa Bà (Sarva) trong tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Nhất Thiết (一切, hết thảy) có hai loại: Một là Danh Tự Nhất Thiết, hai là Thật Nhất Thiết; nay gồm thâu cả hai loại ấy. Trời, rồng, quỷ thần là giả danh. Danh mà có Ngũ Ấm thì là thật pháp. “Chúng” (眾) nghĩa là “đông nhiều”. Cổ nhân dùng ý nghĩa “công cộng” để áp dụng vào chữ “𥅫” (chữ Chúng theo lối cổ). Vì thế, Chúng (眾) là do Ngâm (乑) và Mục (目, mắt) ghép thành, [hàm nghĩa] “mọi người đều cùng thấy”. Thiên chúng có năm loại:

          1) Thiên vương trên thượng giới như Ma Hê Thủ La v.v…

          2) Chư thiên dạo chơi trong hư không như Nhật Thiên Tử (thần cai quản mặt trời) v.v…

          3) Chư thiên sống trong hư không như Ma Vương v.v…

          4) Địa Cư Thiên như chủ tạng thiên v.v…

          5) Địa Hạ Thiên[15] như Phược La Hứ Thiên (縛囉呬天) v.v…

          Mỗi loài đều có vô lượng thiên nam, thiên nữ, các quyến thuộc v.v…

          “Long chúng”: Biệt Hành Sớ nói: “Có bốn loại rồng: Một là loài giữ gìn cho cung trời khỏi rơi xuống. Hai là loại nổi mây tuôn mưa, có ích cho loài người. Ba là địa long, đào sông, khơi ngòi. Bốn là loài chuyên canh giữ kho tàng thuộc về phước báo của Chuyển Luân Vương”. Mỗi loài đều có rồng con, rồng cháu, các quyến thuộc.

          “Quỷ thần đẳng chúng”: Theo kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, nói chung là có ba mươi sáu loài quỷ đói. Kinh Ma Ni La Đàn Chú liệt kê tên của chín mươi ba loại quỷ. Do hạnh nhân khác nhau, thọ báo mỗi loài mỗi khác. Sách Thuận Chánh Lý[16] lại nói [ngạ quỷ có ba loại] là Vô Tài, Thiểu Tài, và Đa Tài[17], trong mỗi loại lại có ba loại. Vì thế, sách Trích Hoa Sao[18] nói [ngạ quỷ] gồm ba phẩm, chín loại. Du Già Sư Địa Luận nói [ngạ quỷ] gồm Nội Chướng, Ngoại Chướng, và Vô Chướng, mỗi loài đều có quyến thuộc thống thuộc.

          Nay nói “bát bộ” (Aṣṭasenā) thì do bộ loại khác nhau, bèn nói đại lược là tám bộ:

          – Một là Trời (Devas).

          – Hai là rồng (Nāga).

          – Ba là Dạ Xoa (Yakşa).

          – Bốn là Càn Thát Bà (Gandharva).

          – Năm là A Tu La (Asura, Hán dịch là Vô Đoan Chánh).

          – Sáu là Ca Lâu La (Garuḍa, dịch sang tiếng Hán là Kim Xí (金翅) – cánh vàng).

          – Bảy là Khẩn Na La (Kiṁnara, dịch sang tiếng Hán là Nghi Thần (疑神), do đầu có sừng, khiến cho người ta sanh nghi [chẳng biết họ có phải là thần hay không]. Họ là thần tấu âm nhạc của Thiên Đế).

          – Tám là Ma Hầu La Già (Mahoraga, dịch sang tiếng Hán là Đại Phúc Hành (大腹行, loài trùng lớn đi bằng bụng), tức là loài địa long bò trườn).

          Nêu ra trời và rồng trước hết vì họ tôn quý, có thế lực lớn, quỷ thần đáng nên xếp thành sáu bộ sau đó, vì thấy hạnh của họ thua kém, cho nên thuộc địa vị thấp hơn. Sở dĩ nêu ra tám bộ này vì đức Phật ta rủ lòng giáo hóa, hướng dẫn, cứu vớt trăm loài hàm linh, thuyết pháp lợi người, lòng Từ trưởng dưỡng muôn phẩm. Ngài đi ra thì Đế Thích Thiên dẫn đường đằng trước; vào thì Phạm Vương đi theo đằng sau. Tả phụ đại tướng, hữu bật Kim Cang, tam thừa hiền thánh đều quy phục, tám bộ quỷ thần chầu hầu, bảo vệ. Người từ các phương khác thấy mây lành bèn như các loài chim về rừng. Người trong cõi này nghe âm thanh phát ra từ quang minh mà như nước dồn vào hang nguồn. Do nay được cảm vời mà đều cùng đến, do cái duyên xưa kia mà nhóm họp trọn khắp.

 

3.1.2.2.2.2.2.2. Nhất thiết thần chúng (hết thảy các vị thần)

 

          (Kinh) Phục hữu tha phương quốc độ cập Sa Bà thế giới, hải thần, giang thần, hà thần.

          ()復有他方國土及娑婆世界海神江神河神。

          (Kinh: Lại có các quốc độ ở phương khác và thế giới Sa Bà, thần biển, thần sông cái, thần sông nhỏ).

          Những vị thần này đều có chức trách, hoặc do nghiệp mà thật sự sanh [làm thần], hoặc do hóa độ mà quyền biến thị hiện. [Thần cai quản] biển, sông cái, sông con đều là thủy thần. Tích khí Âm làm nước, bốc lên trời thành sương, móc, ở dưới đất là sông ngòi. Đại Luận nói: “Trong hết thảy các vật, nước là lớn nhất. Do trên, dưới, bốn bên của đại địa, không chỗ nào chẳng có nước. Nếu hộ thế thiên vương chẳng hạn chế lượng mưa của trời, rồng, lại chẳng có tiêu thủy châu thì trời đất đều bị chìm ngập! Lại do nước làm nhân duyên, những loài chúng sanh và chẳng phải chúng sanh trong thế gian đều được sanh trưởng. Vì thế, nước là lớn nhất”. Nhưng biển là vua của trăm hang hốc; cho nên nói tới biển trước.

          “Hải” là hối (晦, tối tăm), chủ yếu là nhận lãnh những thứ uế trược, nên nước đen như bóng tối. Vì thế, Tôn Khanh Tử nói: “Chẳng chứa các dòng nước nhỏ nhặt, sẽ không có gì để tạo thành biển”. Nếu chỉ xét theo tứ thiên hạ này, Sa Kiệt La (Sāgara) trong tiếng Phạn, được phương này dịch là Hàm Hải (鹹海, biển mặn), bốn châu đều ở trong ấy. Vì thế, sách Bác Vật Chí[19] viết: “Trời đất bốn phương, nước biển đều tương thông, đất ở trong ấy. Nhung, Man, Di, Địch[20] hình loại khác nhau”. Nói tổng quát là “tứ hải”. Thần biển là Hải Nhược (海若). Sách Sơn Hải Kinh nói: “Vị thần ở hang Triêu Dương tên là Thiên Ngô, là thủy thần. Ông ta thuộc loài thú, mười tám đuôi, tám đầu, tám mặt, tám chân”. Trang Tử nói: “Ba Thần, tức là thần của sóng to, tên là Dương Hầu, thần sóng nhỏ tên là Linh Tư”.

          “Giang thần”: Giang (江) là công (公, chung), [ngụ ý] dòng nước đổ vào sông sẽ thành của chung. [Giang] còn được giải thích là Cống (貢, dâng cống), [ý nói] những vật quý sanh từ sông có thể dùng để hiến tặng, dâng lên. Dưới đây, chỉ nói theo cõi Chấn Đán (Trung Hoa). Xét ra, các sách Thủy Kinh Chú và Kinh Châu Ký nói: “Trường Giang (sông Dương Tử) từ Mân Sơn chảy ra, nguồn sông giống như miệng vò, có thể là chỗ phát nguyên của nó”. Sách Châu Quan viết: “Sông [Trường Giang] ở Dương Châu gồm ba con sông”. Phần Địa Lý Chí của sách Hán Thư chú thích như sau: “Mân giang (chi lưu bên bờ trái của Trường Giang) là sông lớn. Cửu giang là sông vừa. Từ Lăng là Bắc Giang. Ấy là từ một nguồn mà thành ba chi lưu”. Ở các địa phương, khó khảo cứu tên của vị thần này. Ở phương này (Trung Hoa), các vị như Khuất Nguyên, Tiền Liêu, Hoắc Quang v.v… đều là những vị thần sông nhỏ.

          “Hà thần”: Hà (河) là hạ (下), ý nói: Theo thế đất mà chảy xuống. Hà thần là thủy thần. Trên là ứng với Thiên Hán (Ngân Hà), Hoàng Hà cùng với ba con sông Trường Giang, Hoài, và Tế hợp thành Tứ Độc (四瀆); chúng còn được gọi là Hà Tông, tức là bốn con sông lớn chánh yếu. Theo Thủy Kinh Chú, [các con sông ấy] bắt nguồn từ vùng đồi núi Côn Luân. Theo Tây Vực Ký: “Trong cuộc đất của Thiệm Bộ Châu, tại phía Bắc ao A Na Bà Đáp Đa (Anavatapta, dịch sang tiếng Hán là Vô Nhiệt Não), nơi cửa khẩu Sư Tử bằng pha lê, chảy ra sông Tỷ Đa (Sītā), cuộn quanh ao một vòng, chảy vào biển Đông Bắc. Hoặc là nói nó chảy ngầm dưới đất rồi chảy ra Tích Thạch Sơn, tức là dòng sông Tỷ Đa, là khởi nguồn của các con sông tại Trung Hoa”. Sách Phật Tổ Thống Kỷ dùng thuyết này; nhưng sách Vũ Cống Quảng Lãm nói: “Tích Thạch Sơn không phải là đầu nguồn, nó là chỗ sông bắt đầu chảy trên mặt đất, cho nên nói sông bắt nguồn từ Tích Thạch, hoặc nói là sông chảy từ Tích Thạch”. Bài tựa cho bộ Hưng Khởi Hạnh Kinh lại viết: “Núi Côn Luân ở chính giữa cuộc đất của Diêm Phù Lợi (Diêm Phù Đề), suối lớn A Nậu, phía ngoài được núi Thiết Vi vây quanh, đất trong núi bằng phẳng, suối nằm nơi đó, con sông từ cửa Tượng Khẩu chảy ra chính là Hoàng Hà”. Vì thế, sách Vũ Cống Quảng Lãm nói: “Sông phát xuất từ núi Côn Luân, Hoàng Hà chảy theo hướng Tây Nam (Hoàng Hà có nhiều mạch ngầm, nói sông tưới tắm theo hướng Tây Nam là nói về dòng chảy có thể trông thấy [trên mặt đất])”. Tôi do thuyết này, bên cạnh bản đồ chung [của cả Trung Hoa], bèn ghi chú ba chữ “Hoàng Hà nguyên” (nguồn sông Hoàng Hà).

          Từ phía Nam của ao [Vô Nhiệt Não], theo cửa Tượng Khẩu bằng chất vàng, chảy ra sông Tín Độ (Sindhu), đổ vào biển Tây Nam, do phù hợp với chuyện tưới tắm vùng Tây Nam; cho nên [đoạn văn này] phải là nói về chỗ bắt nguồn của Hoàng Hà. Thần tên là Mật Phi (theo Trường A Hàm, do duyên cớ nào mà có sông ngòi? Do mặt trời và mặt trăng có sức nóng, do hơi nóng mà [nước] bị nung nấu. Do bị nung nấu bèn có hơi nước. Do hơi nước mà tạo ra sông ngòi).

 

          (Kinh) Thụ thần, sơn thần, địa thần.

          ()樹神山神地神。

          (Kinh: Thần cây, thần núi, thần đất).

 

          “Thụ thần”: “Thụ” (樹) là tên gọi chung của cây cối. Tăng Kỳ Luật chép: “Phật ngôn: – Tả hữu hữu thụ mộc dữ nhân đẳng giả, tiện vi tháp miếu. Thị cố thần kỳ nhạo lai y chỉ” (Đức Phật nói: – Chung quanh chỗ ở mà có cây cối cao bằng thân người thì được coi là tháp miếu. Vì thế, thần kỳ thích đến đó nương gá). Tứ Phần Luật cũng không cho phép chặt cây cối được coi là chỗ ở của thần. Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Đại thụ, Dạ Xoa, La Sát chi sở y chỉ, y thụ thọ lạc. Vô thụ tắc khổ. Nhược trì giới nhân, khuyến bất chước phạt, mạng chung sanh Hoan Lạc Thiên, dữ thiên nữ hoan lạc. Tùng thiên mạng chung, nhược đắc nhân thân, an ổn, cự phú” (Cây to là chỗ nương ở của Dạ Xoa hoặc La Sát. Họ nương vào cây mà hưởng vui, không có cây sẽ khổ sở. Nếu là người trì giới, khuyên lơn đừng đốn, chặt, sau khi mất, sẽ sanh về cõi trời Hoan Lạc, cùng thiên nữ hoan lạc. Khi tuổi thọ trong cõi trời đã hết, nếu được làm thân người, sẽ an ổn, giàu to). Phải nên tôn xưng vị thần cây [đứng đầu] Diêm Phù Đề là thần của thụ vương ở Nam Châu vậy.

          “Sơn thần”: Chữ Thế La (Śaila) trong tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Sơn (núi). Sách Dật Nhã[21] giải thích Sơn là Sản (產, sanh ra), còn Thuyết Văn Giải Tự giảng Sơn là Tuyên (宣), [đều có nghĩa là] “tuyên khí” (dương khí) sanh ra muôn vật. Ngũ Nhạc[22] trấn giữ cõi đất, sách vở của Trung Hoa cố nhiên nói cặn kẽ. Bảy rặng núi vàng bao quanh [Tu Di], sách vở xứ Thiên Trúc có nói tường tận. Loại thần này được gọi tên theo núi. Thần núi Kỳ Xà Quật tên là Tỳ La.

          “Địa thần”: Địa là đáy. Do bản thể của đất là ở dưới đáy, chuyên chở muôn vật. [Địa] còn có nghĩa là Đế (諦, chân thật). Sanh ra năm cõi, không ai chẳng tin chắc thật. Thần đất được gọi là Kỳ (祗, [hàm nghĩa] an ổn, to lớn), còn gọi là Hậu Thổ (后土)[23]. Vị thần đất làm chủ cõi Diêm Phù tên là Kiên Lao (堅牢).

 

          (Kinh) Xuyên trạch thần, miêu giá thần.

          ()川澤神苗稼神。

          (Kinh: Thần sông chằm, thần lúa mạ).

          “Xuyên trạch thần”: [Xuyên trạch] là chỗ nước nhỏ. Xuyên (川) là xuyên qua; [hàm ý sông rạch] chảy xuyên qua đất. Tây Chinh Ký chép: “Vì thế, Tam Xuyên của đất Tần (Thiểm Tây) chính là nói tới các con sông Hoàng Hà, Lạc, và Y”. Chỗ nước đọng tràn trề là Trạch (澤, cái chằm). Người ở Duyện Châu (nay là Tế Ninh thuộc tỉnh Sơn Đông) gọi Trạch là Chưởng (掌, bàn tay), vì nước dồn tụ giống như bàn tay. Chữ Trạch còn được giảng là Nhuận (潤), vì nhuần thấm vạn vật không gì hơn được nước! Loại thần này đều thuận theo tên của Xuyên hay Trạch mà đặt tên.

          “Miêu giá thần”: Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng [Miêu (苗) là]: “Cỏ mọc trên ruộng”. Thương Hiệt giảng [Miêu là]: “Lúa còn chưa trưởng thành”. Sách [Lạc Hà] Tinh Uẩn biện định [Miêu là]: “Lúa mới sanh”; ý nói: Lúa mới trổ một nửa, đem cấy xuống đồng (gieo mạ). Xưa kia giảng Miêu là Thảo, sai mất rồi! Phàm những thứ thảo mộc gây hại cho ngũ cốc, [nông dân] bèn gọi là Thảo, nhổ trừ còn sợ chẳng kịp. Coi Miêu là Thảo, rất có hại cho ý nghĩa. Hơn nữa, gieo trồng là Giá (稼), thâu hoạch là Sắc (穡). Nêu lên từ ngữ Miêu Giá tức là trăm loài ngũ cốc đều gồm thâu. Vị thần [Miêu Giá] trong cõi này phải là Hậu Tắc (后稷)[24], tức là vị tổ dạy dân trồng trọt, gặt hái vậy.

 

          (Kinh) Trú thần, dạ thần.

          ()晝神夜神。

          (Kinh: Thần ban ngày, thần ban đêm).

          “Trú thần, dạ thần”: Trú (晝) là chánh ngọ. Thánh nhân ước định trời, dùng Tý, Ngọ, Mão, Dậu để hạn định. Thánh nhân đo lường đất, dùng Đông, Tây, Nam, Bắc để định. Ngày và đêm giáp ranh nhau, sáng và tối giáp ranh nhau. [Thoạt đầu], chữ Trú được viết là Trứu (𣅯), hàm nghĩa [mặt trời] sáng rực giữa bầu trời, [tức là chữ Nhật (日) được bọc] trong chữ Khẩu (囗), nhằm chỉ rõ trên, dưới, trái, phải; giới hạn của chữ Trú tự sáng tỏ. Đời sau thêm vào chữ Duật (聿), ý nghĩa [của chữ Trú] đâm ra vòng vèo, tối tăm. Loại thần này (như trong phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm của kinh Hoa Nghiêm có nói) khi mặt trời đã lặn, một ngày đã kết thúc, trong tối tăm làm sao mắt thấy được, phải nhờ vào công năng của đèn lửa hay ánh trăng [để thấy]. [Chữ Dạ thời cổ] gồm chữ Nhân (人), ý nói nhà cửa, ghép với Hỏa (火, lửa), ánh sáng nho nhỏ để chiếu trong nhà. Ghép thêm chữ Nguyệt (月), [hàm ý] sáng bừng. Ánh sáng ấy [từ đèn, lửa] chiếu hắt ra từ trong nhà, tức là đêm đã bắt đầu. Cõi đất coi giờ Tý là đúng giữa đêm, bầu trời một màu đen kịt. Ban ngày thì hết sức thông thuận, ban đêm thì luôn tĩnh lặng; đấy chính là thiên đức chuyển vận vậy. Loại thần này thì như [trong kinh phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm có nói] Thiện Tài tham học với các vị như Chủ Dạ Thần Bà San Bà Diễn Để (Vasanta-vayanti) v.v… có tất cả chín vị.

 

          (Kinh) Không thần, thiên thần.

         ()空神天神。

          (Kinh: Thần hư không, thiên thần).

          “Không thần”: Kinh Niết Bàn nói: “Vật thể chất ngại, không tánh hư thông” (Bản thể của vật là do có sắc chất ngăn ngại, tánh Không thì rỗng rang, thông suốt). Tiểu Thừa coi “sáng, tối” là Thể, Đại Thừa coi “hiển sắc của hư không” là Thể. Vị thần này có tên là Thuấn Nhã Đa (Śūnyatā). Duyện Sớ nói: “Chưa thấy chú giải cặn kẽ, nhưng đáng phải nên là vị thần chưởng quản hư không, nhưng [vị thần này] không có thân thô tướng; tuy vậy, cũng có sắc thân vi diệu. Vì thế, cũng tạm hiện thân trong quang minh của Như Lai”.

          “Thiên thần”: Thiên là “hiển nhiên, cao vời, rạng rỡ”. Lại còn là “bình thản, thản nhiên, cao, xa”. Sách Ngũ Kinh Thông Nghĩa viết: “Vị thần lớn nhất là Hạo Thiên Thượng Đế (tức là diệu phách bảo, còn gọi là Thiên Hoàng Đại Đế, cũng gọi là Thái Nhất). Bầy tôi của Ngài là Ngũ Đế (Đông phương Thanh Đế Linh Oai Ngưỡng, Nam phương Xích Đế Xích Tiêu Nộ, Tây phương Bạch Đế Bạch Chiêu Cự, Bắc phương Hắc Đế Diệp Quang Kỷ, Trung Ương Hoàng Đế Hàm Xu Nữu)”.

 

          (Kinh) Ẩm thực thần, thảo mộc thần.

          ()飲食神草木神。

          (Kinh: Thần ẩm thực, thần cây cỏ).

          “Ẩm thực thần”: Ẩm (飲) là yểm (奄), [tức là] dùng miệng nuốt xuống họng. Thực (食) là thực (殖, trồng trọt); do nó có sự sanh trưởng. Vì thế, Phật Địa Luận nói: “Gìn giữ gọi là Thực, ý nói là [do ăn uống] có thể duy trì sắc thân, trưởng dưỡng thiện pháp. Thân nương vào ăn uống mà duy trì, mạng nhờ vào ăn uống để tồn tại”. Vị thần này chính là Táo Quân Hoàng Đế.

          “Thảo mộc thần”: Thảo (艸) là thứ thực vật yếu ớt, dễ mọc, nhưng rễ chẳng vững. Mùa Đông chết sạch. Vì thế, chỉ dường như là thân, lá sanh trưởng um tùm, nhưng chẳng bén rễ chắc chắn. Mộc là do khí sanh trưởng mà phát sanh, có phẩm đức là Nhân, ở giữa thì là thân cây ngay thẳng, dưới thì thể hiện cội rễ sâu chắc, phía trên thì cành tỏa xòe ra. Hễ thảo mộc tăng trưởng tươi tốt, ắt sẽ có quỷ thần nương gá; nhưng ắt phải tôn vị thần cỏ Nhẫn Nhục ở Tuyết Sơn và vị thần cây Bồ Đề làm tông chủ.

 

          (Kinh) Như thị đẳng thần, giai lai tập hội.

          ()如是等神皆來集會。

          (Kinh: Các vị thần như thế đều cùng nhóm đến).

          Những vị thần được kể ra trên đây đều là nêu tên chung. Số lượng các vị thần trong ấy tính ra đã nhiều như cát sông Hằng; huống hồ còn có [các vị thần chưởng quản] gió, lửa, sấm, chớp, thuyền, xe, nhà cửa, quần áo, các món đồ đạc, cầu, đình, cổ miếu, cổng làng, cửa thôn, đồi, gò… Vì thế nói là “như thị đẳng” (giống như thế đó). Không có ai chẳng do trông thấy mây quang minh, thích nghe mưa pháp, mà đều đến tụ tập tại đại hội chốn thiên cung.

 

3.1.2.2.2.2.2.3. Đại Quỷ Vương chúng (các vị đại Quỷ Vương)

 

          (Kinh) Phục hữu tha phương quốc độ cập Sa Bà thế giới, chư đại Quỷ Vương.

          ()復有他方國土及娑婆世界諸大鬼王。

          (Kinh: Lại có các vị đại Quỷ Vương trong các quốc độ ở phương khác và thế giới Sa Bà).

          Luận Tỳ Bà Sa nói: “Có oai đức thì là quý, không có oai đức thì là hèn. Lại nữa, kẻ làm vua thì là quý, kẻ bị sai sử thì là hèn”. Nay nói là “đại Quỷ Vương” tức là bậc cao quý có oai đức, giàu có, dư dật, đẹp đẽ, cơm áo tự nhiên, thân mặc áo trời, miệng xơi thức ăn cõi trời. Thân hình thường đẹp đẽ, thoải mái, cỡi ngựa, ngồi xe thong dong, mặc sức vui chơi, có khác gì chư thiên? Đấy là do đời trước đã hành bố thí to lớn, cho nên đạt được quả báo oai vệ. Lại do đời trước siểm khúc, chẳng thật, cho nên thọ thân trong quỷ đạo.

 

          (Kinh) Sở  vị: Ác  Mục  Quỷ  Vương,  Đạm  Huyết  Quỷ  Vương,

Đạm Tinh Khí Quỷ Vương, Đạm Thai Noãn Quỷ Vương.

          ()所謂惡目鬼王噉血鬼王噉精氣鬼王噉胎卵鬼王。

          (Kinh: Đó là Ác Mục Quỷ Vương, Đạm Huyết Quỷ Vương, Đạm Tinh Khí Quỷ Vương, Đạm Thai Noãn Quỷ Vương).

          Ác Mục Quỷ Vương: Chữ Đát La (Tra) trong tiếng Phạn, phương này dịch là Mục (mắt), tức là đồng tử (瞳子, tròng mắt). Sự thần minh trong tâm được tỏ lộ nơi mắt. Thất khiếu là cửa ngõ của gan. Tròng mắt được trưởng dưỡng bởi thận, thận ngấm ngầm dưỡng thần. Mắt đẹp hay xấu là do lòng từ nhẫn trong tâm. Vị Quỷ Vương này do ôm lòng cứng cỏi, cố chấp, mắt toát ra vẻ hung ác. Kinh Diệu Tý nói: “Sân mục thị chi, nãi chí phá hoại thân mạng” (Giận dữ trừng mắt nhìn cho đến phá hoại thân mạng) là nói về ý này.

          Đạm Huyết Quỷ Vương: Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh gọi [Quỷ Vương] này là Thực Huyết Quỷ (食血鬼, quỷ ăn máu). Do sát sanh ăn thịt uống máu, chẳng thí cho vợ con, sẽ thọ thân quỷ này. Dùng máu bôi lên để cúng thì quỷ mới ăn được. Như đứa con nhỏ nhất của quỷ mẫu Ha Lợi (Hāriti) tên là Tất Lợi Diêm Ca La Dạ Xoa, do ác tâm thường uống máu con người. Kinh Thập Luân nói: “Thập tam triệu Dược Xoa, hằng đạm chư huyết nhục” (Mười ba triệu quỷ Dược Xoa (Dạ Xoa) thường ăn các máu thịt) là nói về loài quỷ này.

          Đạm Tinh Khí Quỷ Vương: Tiếng Phạn là Tỳ Xá Xà (Piśāca), cõi này dịch là Đạm Tinh Khí (噉精氣, ăn nuốt tinh khí), tức là ăn nuốt tinh khí của con người và ngũ cốc, tức là Điên Quỷ (顛鬼, quỷ gây nên chứng điên cuồng). Kinh Nguyệt Tạng nói: “Địa tinh khí, chúng sanh tinh khí, chánh pháp thắng vị cam lộ tinh khí” (Tinh khí của đất, tinh khí của chúng sanh, tinh khí của cam lộ vị thù thắng chánh pháp) là nói tới điều này!

          Đạm Thai Noãn Quỷ Vương: “Thai” là khởi đầu. Phụ nữ cấn nghén ba tháng, thai mới thành hình, nhưng hình thể vẫn chưa trọn vẹn. Chữ Thai (胎) là từ chữ Nguyệt (月) và Thai (台) ghép lại, hình thành âm đọc đó. Khi ấy, sanh khí chưa ổn định, hễ cảm điều tốt lành bèn là thiện, cảm điều ác bèn là ác. Cổ nhân có thuyết “thai giáo” (dạy con từ khi còn trong thai) nhằm bảo vệ thai trong khi còn hỗn độn [là vì lẽ này]. Noãn (trứng) ở đây phải hiểu là nhau thai (placenta). Như trứng gà trong cõi đời, khi lòng đỏ và lòng trắng chưa phân, giống như một khối hỗn độn. Sau khi trẻ được sanh ra, sẽ có vô số ác quỷ ăn nuốt nhau thai như trong phần sau [sẽ nói].

 

          (Kinh) Hành Bệnh Quỷ Vương, Nhiếp Độc Quỷ Vương.

          ()行病鬼王攝毒鬼王。

          (Kinh: Hành Bệnh Quỷ Vương, Nhiếp Độc Quỷ Vương).

          Hành Bệnh Quỷ Vương: Sứ giả gieo rắc ôn dịch, đều do Đông Nhạc Phủ Quân sai khiến, như loài Phú Đan Na (Pūtana) chuyên gây nhiệt bệnh trong nhân gian. Kinh Văn Thù Bảo Tạng Đà La Ni nói: “Ư hậu, Phật pháp diệt thời, ác pháp tăng trưởng, chủng chủng chư tai lưu hành ư thế. Ác quỷ hạ giáng, biến vi nữ thân, dữ chư chúng sanh tác chủng chủng chư tạp đẳng bệnh” (Sau này, lúc Phật pháp diệt, ác pháp tăng trưởng, đủ thứ tai ương lưu hành trong cõi đời. Ác quỷ giáng xuống, biến thành thân nữ, gây tạo các thứ bệnh cho chúng sanh) là nói đến chuyện này.

          Nhiếp Độc Quỷ Vương: Như [quỷ vương] Di Lật Đầu Kiền Già Địa, cõi này dịch là Thiện Phẩm, chuyên về cổ độc, tức là đối với các thứ nọc rắn, các chất độc từ vàng, bạc v.v… vị này đều có thể thâu nhiếp. Quỷ vương này chính là A Tu Luân Vương (A Tu La vương). Đối với các loài độc khí của rồng, nếu con người cầu nguyện, vị này sẽ khiến cho nó chẳng ảnh hưởng đến con người. Vì thế, [danh hiệu của Ngài] là từ đức mà lập danh.

 

          (Kinh) Từ Tâm Quỷ Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Đại Ái Kính Quỷ Vương.

          ()慈心鬼王福利鬼王大愛敬鬼王。

          (Kinh: Từ Tâm Quỷ Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Đại Ái Kính Quỷ Vương).

          Từ Tâm Quỷ Vương: Như A La Nan Đà, đời Lương dịch là Hoan Hỷ, Tô Nê Đát La (Sunetra), cõi này dịch là Diệu Mục, đều là những vị từ tâm quỷ vương, thường ban bố chuyện vui, niệm niệm yêu thương, che chở chúng sanh. Vì thế, họ được gọi bằng danh xưng đẹp đẽ ấy.

          Phước Lợi Quỷ Vương: Phước đối lập với họa, lợi đối lập tổn. Vị quỷ vương này chuyên ban bố chuyện lợi ích cho con người, chẳng giáng tai họa, chẳng gây hao tổn. Kinh Quỷ Tử Mẫu nói: “Dục tùng Quỷ Tử Mẫu cầu nguyện giả, danh Phù Đà Ma Ni Bát, thiên thượng thiên hạ quỷ, tứ hải nội thuyền xa, trị sanh tài sản, giai thuộc kỳ chủ. Ma Ni Bát dữ Phật kết yếu thọ giới, hộ nhân tài vật. Cố hữu Phước Lợi chi danh” (Muốn cầu nguyện từ Quỷ Tử Mẫu, [hãy nên biết] vị ấy có tên là Phù Đà Ma Ni Bát. Quỷ ở trên trời, dưới đất, thuyền, xe trong bốn biển, tài sản để mưu sinh, đều do vị này làm chủ. Ma Ni Bát đã cam kết, thọ giới với Phật bảo vệ tài vật của con người. Vì thế, có danh xưng là Phước Lợi).

          Đại Ái Kính Quỷ Vương: Ái chính là ái niệm (nghĩ nhớ, thương yêu); Kính tức kính trọng. Như kinh Diệu Tý đã nói: “Nhược hữu hành nhân tu thử pháp giả, bỉ nhất thiết thiên, Dược Xoa, trì minh đại tiên, nãi chí Ca Lâu La đẳng, nhược hữu kiến giả, cung kính, lễ bái, hiệp chưởng, tác ngôn: – Hy hữu! Hy hữu! Đại từ bi giả, mẫn niệm nhất thiết chư hữu tình đẳng”. (Nếu có hành nhân tu pháp này, thì hết thảy chư thiên, Dược Xoa, trì minh đại tiên, cho đến Ca Lâu La v.v… Nếu có ai trông thấy, [sẽ đều] cung kính, lễ bái, chắp tay thưa: “Hiếm có! Hiếm có! Đấng đại từ bi nghĩ thương hết thảy các hữu tình”). Vị thiện quỷ vương này cũng giống như thế, cho nên có danh xưng này.

 

          (Kinh) Như thị đẳng Quỷ Vương, giai lai tập hội.

          ()如是等鬼王皆來集會。

          (Kinh: Các Quỷ Vương như thế đều đến nhóm hội).

          Tiếp đó là tổng kết đại chúng đến nhóm hội.       “Như thị đẳng” (Như thế đó): Đặt tên thiện ác bất đồng, hành hạnh Từ hay nhẫn sai khác, nhưng đều dùng thân quỷ đến nghe pháp. “Thừa cấp Giới hoãn” như sách Ma Ha Chỉ Quán đã nói là dùng thân tam đồ để thấy Phật, nghe kinh; hoặc như trong kinh Hoa Nghiêm và Niết Bàn, quỷ, thần, rồng, súc sanh đều dự vào đại chúng [nghe pháp]. Nhân quả hơn kém như thế, thăng trầm chẳng phải một, lẽ đâu cật vấn rằng chỉ giữ giới theo Lý là đã đắc đạo, cần gì phải giữ giới theo sự tướng? May mắn được làm trời người lãnh nhận đạo, lẽ nào đành chịu khổ vào tam đồ ư? Đấy chính là ý chỉ vì sao kinh lại liệt kê đại chúng vậy!

 

3.1.2.2.3. Vấn đáp thích nghi tự (phần Tựa hỏi đáp để giải trừ nỗi nghi)

3.1.2.2.3.1. Lược vấn đáp dĩ phát khởi (hỏi đáp đại lược để phát khởi)

3.1.2.2.3.1.1. Vấn đáp sở tập chúng số (hỏi đáp về số lượng đại chúng đã nhóm họp)

3.1.2.2.3.1.1.1. Như Lai dĩ chúng số vấn (Như Lai hỏi về số lượng đại chúng)

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thích Ca Mâu Ni Phật cáo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát: “Nhữ quán thị nhất thiết chư Phật, Bồ Tát, cập thiên, long, quỷ thần, thử thế giới, tha thế giới, thử quốc độ, tha quốc độ. Như thị kim lai tập hội đáo Đao Lợi Thiên giả, nhữ tri số phủ?  

          ()爾時,釋迦牟尼佛告文殊師利法王子菩薩摩訶薩:汝觀是一切諸佛菩薩,及天龍鬼神,此世界,他世界,此國土,他國土。如是今來集會到忉利天者,汝知數不?

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát: “Ông quán hết thảy chư Phật, Bồ Tát, và trời, rồng, quỷ thần trong thế giới này, thế giới khác, quốc độ này, quốc độ khác, những vị như thế nay nhóm họp đến trời Đao Lợi, ông có biết số lượng hay không?”)

          “Nhĩ thời” (Lúc bấy giờ) chính là lúc trời, rồng, quỷ thần đều nhóm đến. Đã là pháp hội nhân quả đầy nghẹt thiên cung, và phàm thánh xen lẫn, đại chúng hiện diện khi đó đều kinh ngạc, nghi hoặc, ai có thể nêu ra lời hỏi? Vì thế, đức Giác Hoàng bi tâm thương xót chúng sanh, mắt từ quán sát căn cơ, dõi mắt nhìn trọn khắp, ai có thể ứng đối với ta? Chỉ có ông Văn Thù này nổi tiếng đại trí đã lâu là có thể đối đáp về chuyện oai thần của đức Địa Tạng trong kiếp số nhiều như cát, cho nên đặc biệt bảo ban.

          Phạn ngữ là Văn Thù Sư Lợi (Mañjuśrī), cõi này dịch là Diệu Đức, do Ngài đã thấy thấu suốt tam đức Phật tánh, chẳng dọc, chẳng ngang. Chữ Cưu Ma La Già (Kumāra-bhūta) trong tiếng Phạn, được cõi này dịch là Đồng Chân (童真, chân thật như trẻ thơ). Nội chứng chân thường, nhưng chẳng chấp trước, như trẻ thơ trong cõi đời tâm chẳng nhiễm ái, tức là danh hiệu Pháp Vương Tử vậy. Đại Luận nói: “Văn Thù Sư Lợi, Thập Lực, Tứ Vô Sở Úy v.v… đều trọn đủ Phật sự. Vì thế, trụ nơi địa vị Cưu Ma La Già (Đồng Chân)”. Ngài La Thập nói: “Diệu Đức thân dạo khắp nơi, chẳng biết Ngài sanh ở nơi đâu. Ngài lại đến dự vào địa vị Bổ Xứ thành Phật, cho nên gọi là Pháp Vương Tử”. Ngài Kinh Khê viết: “Hỏi: Kinh gọi ngài Văn Thù là Pháp Vương Tử, nhưng các vị Bồ Tát, có vị nào chẳng phải là Pháp Vương Tử? Đáp: Có hai nghĩa: Một là từ trong các vương tử, đề cao đức của ngài Văn Thù. Hai là trong các kinh, ngài Văn Thù là Thượng Thủ của các vị Bồ Tát. Vì thế gọi là Pháp Vương Tử”.

          Nói “nhữ quán” (ông xem) chẳng phải là chuyện dễ dàng! Bởi lẽ, chẳng phải là do trí nhãn (mắt trí huệ) của Văn Thù Sư Lợi mà có thể quán được! Đấy chính là tiếng xưng hô hoan hỷ, thân mật vậy. Từ “nhất thiết chư Phật” (hết thảy chư Phật) trở đi, kết lại phần chánh báo trên đây. Từ chữ “thử thế giới” (thế giới này) kết lại phần y báo. “Như thị đẳng” kết lại phần số lượng đại chúng, hỏi ngài Văn Thù có thể biết hay không?

 

3.1.2.2.3.1.1.2. Văn Thù dĩ thần lực đáp (ngài Văn Thù dùng thần lực để đáp)

 

          (Kinh) Văn Thù Sư Lợi bạch Phật ngôn: – Thế Tôn! Nhược dĩ ngã thần lực, thiên kiếp trắc độ, bất năng đắc tri!

          ()文殊師利白佛言世尊若以我神力千劫測度不能得知。

          (Kinh: Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: – Bạch Thế Tôn! Nếu dùng thần lực của con để suy lường trong một ngàn kiếp, vẫn chẳng thể biết được).

         

          Đại Luận quyển ba mươi ba chép: “Văn Thù Bồ Tát dùng hai loại sức thần thông, tức là quả báo thần thông và tu đắc thần thông (thần thông do tu được) để trụ trong ấy. Dùng sức phước đức phương tiện, sức quang minh thần túc v.v… các thứ nhân duyên để khơi mở, hóa độ chúng sanh”. Nay do vì lẽ nào mà [Ngài thưa] “dùng thần lực của con để suy lường trong một ngàn kiếp vẫn chẳng thể biết” vậy? Đại chúng vân tập khó biết nổi, chính là vì hiển thị thần lực khó thể nghĩ ngợi của đức Địa Tạng!          

          Hỏi: Thiên cung tuy to, vì sao có thể dung nạp đại chúng nhiều như thế? Đáp: Đức Phật và ngài Địa Tạng có thần lực chẳng thể nghĩ bàn, [lại còn] có sức phước nghiệp tự nhiên của chư thiên. Ví như cái thất rộng một trượng của ngài Duy Ma, chứa đựng [ba vạn hai ngàn] tòa sư tử có khó khăn chi? Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Thí như nhất thất, nhiên ngũ bách đăng, quang minh bất tương bức bách. Chư thiên thủ trung, trí ngũ bách thiên, diệc phục như thị, bất trách, bất ngại” (Ví như trong một căn phòng, thắp năm trăm ngọn đèn, ánh sáng của chúng chẳng bức bách lẫn nhau. Trong tay chư thiên, đặt năm trăm vị trời cũng giống như thế, chẳng chật hẹp, chẳng ngăn ngại). Lại nói: “Bỉ Dạ Ma Thiên hoặc nhất bách, nhất thiên, cộng tụ tại nhất liên hoa tu đồng tọa, bất ải, bất trách, dĩ thiện nghiệp cố, tự nghiệp lực cố” (Các vị trời Dạ Ma kia hoặc số đến một trăm, hoặc một ngàn, cùng tụ họp, ngồi trên một cái tua nhụy hoa sen cũng chẳng hẹp, chẳng chật, là do sức thiện nghiệp và nghiệp lực của chính họ). Đại Trí Độ Luận nói: “Tầng trời thứ ba là Biến Tịnh Thiên, sáu mươi vị trời cùng ngồi trên đầu một cái kim để nghe pháp, chẳng trở ngại nhau”. Nghiệp lực của chư thiên còn như thế đó, huống hồ sức chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai, hãy tự nên tin tưởng, ngưỡng mộ!

 

3.1.2.2.3.1.1.3. Thế Tôn dĩ Phật nhãn chứng (đức Thế Tôn dùng Phật nhãn xác chứng)

 

          (Kinh) Phật cáo Văn Thù Sư Lợi: – Ngô dĩ Phật nhãn quán cố, do bất tận số.

          ()佛告文殊師利吾以佛眼觀故猶不盡數。

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi: – Ta dùng Phật nhãn để quán mà còn chẳng thấy hết số lượng ấy).

          Chữ Đa La (Tra) trong tiếng Phạn dịch sang tiếng Hán là Nhãn (mắt). Du Già Sư Địa Luận viết: “Nhiều lượt xem các sắc, xem xong lại bỏ. Vì thế gọi là Nhãn, tức là ý nghĩa chiếu chúc (soi tỏ)”. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhãn tự bồ đào đóa” (Mắt như quả nho). Hoặc nói: “Như thu tuyền trì, hữu ngũ chủng: Nhục, thiên, huệ, pháp, Phật” (Như ao hoặc suối nước mùa Thu, có năm loại là nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, và Phật nhãn). Đại Luận nói: “Phật nhãn không chuyện gì chẳng biết, không chuyện gì chẳng nghe, không chuyện gì chẳng thấy, trong hết thảy các pháp, Phật nhãn thường chiếu”. Nay nói “ta dùng Phật nhãn để quán vẫn chẳng thấy hết số đó” chính là đè thấp cái quả hòng đề cao cái nhân, hạ mình, đề cao người khác, càng tỏ rõ đại chúng được đức Địa Tạng hóa độ trùng trùng vô tận! Phật mà còn khó biết, huống hồ ngài Văn Thù, huống hồ những người khác ư?

 

3.1.2.2.3.1.2. Điểm thị năng độ bổn tôn (chỉ ra vị bổn tôn có thể hóa độ)

 

          (Kinh) Thử giai thị Địa Tạng Bồ Tát, cửu viễn kiếp lai, dĩ độ, đương độ, vị độ, dĩ thành tựu, đương thành tựu, vị thành tựu.

          ()此皆是地藏菩薩久遠劫來已度當度未度已成就當成就未成就。

          (Kinh: Đấy đều là do Địa Tạng Bồ Tát từ bao kiếp lâu xa đến nay đã độ, đang độ, sẽ độ, đã thành tựu, đang thành tựu, sẽ thành tựu).

          Chỉ ra Bồ Tát đã trải nhiều kiếp độ người vô lượng. “Độ” (度) là pháp, mà cũng là độ thoát. Chữ Tất Địa (Siddhi) trong tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Thành Tựu. Sách Dật Nhã viết: “Thành là hưng thịnh, Tựu là cao”. Chữ Tựu (就) do Kinh (京) và Vưu (尤) ghép lại, ý nói là chỗ người ưu tú, cao quý tụ tập. Nay xét theo Lễ Ký: “Thiên tử hiếu viết Tựu, tựu chi vi ngôn Thành dã. Thiên tử đức bị thiên hạ, trạch cập vạn vật, thỉ chung thành tựu, tắc kỳ thân hoạch an” (Lòng hiếu của thiên tử gọi là Tựu, thực hiện hạnh hiếu thì gọi là Thành. Đức của thiên tử trọn khắp thiên hạ, thấm nhuần muôn vật, thành tựu từ đầu đến cuối, cho nên thân được yên vui). Nay đức Địa Tạng dùng hiếu đạo xuất thế, khiến cho ai nấy vượt thoát sông sanh tử, thành đạo Niết Bàn, chuyển phàm nhập thánh, làm bậc cao nhân, lên nơi cao. Vì thế nói là “thành tựu”.

          “Đã độ, đã thành tựu” chính là bất khả thuyết chư Phật trong mười phương thế giới.

“Đang độ, đang thành tựu” chính là bất khả thuyết chư Bồ Tát trong mười phương thế giới.

“Chưa độ, chưa thành tựu” chính là vô lượng ức trời, rồng, quỷ thần trong thế giới Sa Bà và mười phương quốc độ. Đó gọi là “chủng thục thoát tam, thời thời bất phế” (luôn luôn chẳng bỏ chuyện gieo thiện căn, khiến cho thiện căn chín muồi hòng thoát khỏi tam đồ). Do căn cơ có nhanh chóng hay chậm lụt mà độ có trước hay sau. Đại Luận nói: “Ví như rung cây để hái quả, quả chín sẽ rụng trước. Nếu quả nào chưa chín, [sẽ đợi cho nó chín] rồi mới rung cây sau. Lại như bắt cá, thả lưới lần trước không hết, giăng lưới lần sau sẽ bắt được”.

 

3.1.2.2.3.2. Quảng vấn đáp dĩ phát khởi (hỏi đáp rộng rãi để phát khởi)

3.1.2.2.3.2.1. Văn Thù thiết nghi vấn nhân địa (Văn Thù khởi nghi, hỏi về nhân địa của Địa Tạng Bồ Tát)

 

          Hai chương này chính là chuyện trọng yếu trong  việc  tu  hành, là

căn cội to lớn trong phép lợi sanh. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhân địa bất chân, quả chiêu vu khúc” (Tu nhân chẳng chân thật, sẽ chuốc lấy cái quả cong quẹo). Vì thế, khởi đầu bèn hỏi ngay chuyện này, vì đó là đầu mối khẩn yếu.

          Phần này chia thành hai:

          – Nêu ra câu hỏi.

          – Từ chữ “duy nguyện” trở đi, là xin Phật hãy nói hạnh nguyện.

 

3.1.2.2.3.2.1.1. Thiết từ hưng vấn (nêu ra câu hỏi)

3.1.2.2.3.2.1.1.1. Minh kỷ trí tín (nói rõ chính mình do trí huệ đã tin tưởng [sức thệ nguyện và sự nghiệp hóa độ của Địa Tạng Bồ Tát])

         

          (Kinh) Văn Thù Sư Lợi bạch Phật ngôn: – Thế Tôn! Ngã dĩ quá khứ cửu tu thiện căn, chứng vô ngại trí, văn Phật sở ngôn, tức đương tín thọ.

          ()文殊師利白佛言世尊我已過去久修善根證無礙智聞佛所言即當信受。

          (Kinh: Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: – Bạch Thế Tôn! Con do trong quá khứ tu thiện căn đã lâu, chứng vô ngại trí, nghe lời Phật dạy, con liền tin nhận).

 

          Cậy vào đức Văn Thù nêu lời hỏi là vì các vị tiểu Bồ Tát còn chưa trừ sạch nỗi sợ gian khổ, chẳng thể hỏi Phật. Chỉ có ngài Văn Thù biết rõ quyền biến, trí sáng xét soi, biết căn cơ, biết thời tiết, có thể khơi động, phát khởi, thành tựu lợi ích, như voi lớn bẻ cây khiến cho voi con được no bụng. Vì thế, đức Phật tán thán ngài Văn Thù rằng: “Ông nay thật sự là mẹ của ba đời Phật, hết thảy các Như Lai trong khi còn đang tu hành, đều từng được ông hướng dẫn mà phát khởi tín tâm ban đầu. Do nhân duyên ấy, những vị thành Chánh Giác trong mười phương quốc độ đều tôn Văn Thù là mẹ. Nhưng nay thân ông, do sức bổn nguyện mà hiện tướng Bồ Tát”. Đó là bằng chứng Ngài tu thiện căn đã lâu.

          Vô Ngại Trí: Theo Phật Tánh Luận, trí có hai loại tướng:

          – Một là vô trước (không chấp trước), tức là thấy chúng sanh giới tự tánh thanh tịnh, là như lý trí tướng.

          – Hai là vô ngại, có thể quán thông đạt vô biên thế giới, là như lượng trí tướng.

          Nay đã quán đại chúng vân tập, bèn dùng Vô Ngại Trí. Tam  Tạng

pháp sư Huyền Trang đời Đường đã nói: “Quán Hữu mà chẳng trụ Hữu, quán Không mà chẳng trụ Không. Nghe danh mà chẳng bị mê hoặc bởi danh, thấy tướng mà chẳng thuận theo tướng. Tâm chẳng thể động, cảnh chẳng thể chuyển, động hay chuyển chẳng rối loạn lẽ chân được!” Có thể nói đó là vô ngại trí huệ. Bởi lẽ, ngài Văn Thù vốn là một vị cổ Phật, nay vì giúp đỡ [đức Phật] tuyên dương pháp hóa, liền quyền biến thị hiện hình hài đồng tử (bé trai). Vì thế, đức Phật nói ra chuyện độ sanh của ngài Địa Tạng, lẽ đâu Văn Thù Bồ Tát chẳng ngưỡng mộ, tin chắc, tự nhiên thông đạt vô ngại?

 

3.1.2.2.3.2.1.1.2. Cử chúng nghi báng (nêu ra sự nghi hoặc, gièm báng của đại chúng)       

          (Kinh) Tiểu quả Thanh Văn, thiên long bát bộ, cập vị lai thế chư chúng sanh đẳng, tuy văn Như Lai thành thật chi ngữ, tất hoài nghi hoặc. Thiết sử đảnh thọ, vị miễn hưng báng.

          ()小果聲聞天龍八部及未來世諸眾生等雖聞如來誠實之語必懷疑惑。設使頂受未免興謗。

          (Kinh: Tiểu quả Thanh Văn, trời rồng tám bộ, và các chúng sanh trong đời vị lai, tuy nghe lời thành thật của Như Lai, ắt ôm lòng ngờ vực. Dẫu có vâng nhận, chưa khỏi dấy lòng báng bổ).

          Trước hết, nêu ra những căn cơ hoài nghi, phỉ báng; kế đó, nêu ra ý dấy lòng phỉ báng. Ấy là do Tiểu Quả chỉ nghe Tứ Đế và Thập Nhị Nhân Duyên, kẻ huệ cạn giống như vết chân trâu, kẻ căn hẹp há biết biển thẳm! Trời rồng tám bộ, tạp loại, hạ cơ (căn cơ bậc hạ), Thừa lẫn Giới đều thiếu vận dụng, mong chi họ biết sâu xa đại đạo? Chúng sanh đời vị lai thì chí tánh chẳng kiên cố, nghiệp chướng buộc ràng khó thoát, há biết suy lường oai thần? Vì thế biết là ba loại người ấy tuy nghe lời thành thật của đức Như Lai, ắt sẽ ôm lòng hồ nghi, rối ren, mê hoặc! Nói ngược lại, thì tuy là [tỏ vẻ vâng nhận lời Phật dạy] như thế, chuyện có đúng như vậy hay chăng? Bề ngoài tỏ vẻ kính cẩn nhận lãnh để hành trì, trong tâm ắt ngược ngạo sanh lòng gièm chê, phỉ báng. Nghi hoặc, phỉ báng là tội khiên nặng nề, ắt đọa vào A Tỳ! Vì thế, cần phải hỏi rõ nguyên do nơi nhân địa, xiển dương, phát khởi những chuyện thuộc về hạnh nguyện, thì mới khiến cho ba loại căn cơ nhất tâm tiếp nhận, chẳng đọa vào Xiển Đề, vĩnh viễn đạt đến Phật đạo.

 

3.1.2.2.3.2.1.2. Nguyện thuyết hạnh nguyện (xin đức Phật hãy nói hạnh nguyện của Địa Tạng Bồ Tát)

 

          (Kinh) Duy nguyện Thế Tôn, quảng thuyết Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát nhân địa, tác hà hạnh, lập hà nguyện, nhi năng thành tựu bất tư nghị sự?

          ()唯願世尊廣說地藏菩薩摩訶薩因地作何行立何願而能成就不思議事

          (Kinh: Kính mong đức Thế Tôn nói rộng về nhân địa của Bồ Tát Ma Ha Tát, Ngài đã làm hạnh gì, đã lập nguyện gì mà có thể thành tựu chuyện chẳng thể nghĩ bàn?)

 

          “Nhân” (因) có nghĩa là gieo trồng. “Địa” (地) biểu thị tự tâm. Do vốn sẵn có ba cái nhân là chủng tử của Phật tánh, do Liễu Nhân chưa từng phát tâm, Duyên Nhân chưa từng gia hạnh, cho nên tánh và duyên cùng được gọi là Chánh Nhân, tức là ba cái nhân nơi Lý tánh vậy. Nay hỏi: “Vị Địa Tạng Bồ Tát này thoạt đầu nơi nhân địa phát tâm, chẳng biết Ngài đã làm hạnh môn gì, lập nguyện niệm gì mà có thể thành tựu chuyện chẳng thể nghĩ bàn ấy?” Hai chữ Hà (何) [trong đoạn chánh kinh trên đây] là từ ngữ nghi vấn. Bởi lẽ, Bồ Tát trong tứ giáo, không ai chẳng tu hành phát nguyện.  

Như ba giáo trước đều là hạnh nguyện Thiên, Quyền, đều thuộc nhân duyên sanh diệt. Nếu dùng cái tâm sanh diệt làm gốc để tu nhân, sao có thể thành tựu viên mãn tánh bất sanh diệt nơi quả địa cho được? Vì thế, xin hãy nói rộng cái nhân ấy, khiến cho hàng tiểu quả tin nhận, chẳng dấy tâm nghi ngờ, phỉ báng! [Hai chữ] “hạnh nguyện” đã được giải thích trong phần trước. Ắt phải hỏi cả hai điều là vì Nguyện có thể dẫn khởi, Hạnh là thực hiện. Nếu có Nguyện mà chẳng có Hạnh, Nguyện sẽ hư dối. Nếu có Hạnh nhưng thiếu Nguyện, Hạnh sẽ trơ trọi. Do có Nguyện cho nên Hạnh chẳng trơ trọi; do có Hạnh nên Nguyện chẳng rỗng tuếch! Nguyện và Hạnh giúp nhau, chứng quả càng nhanh chóng. Vì thế, phải hỏi cả hai!

 

3.1.2.2.3.2.2. Thế Tôn cử nhân đáp độ nhân (Thế Tôn nêu cái nhân để đáp về người hóa độ)

 

          Phần này chia thành hai:

          – Lược tán công đức (tán thán đại lược công đức).

          – Quảng thuyết hạnh nguyện (nói cặn kẽ về đại nguyện).

 

3.1.2.2.3.2.2.1. Lược tán công đức (tán thán đại lược về công đức)

3.1.2.2.3.2.2.1.1. Minh đại tiểu quả vị công đức (nói rõ công đức nơi quả vị lớn, nhỏ)

3.1.2.2.3.2.2.1.1.1. Cử dụ (nêu thí dụ)

         

          (Kinh) Phật cáo Văn Thù Sư Lợi: – Thí như tam thiên đại thiên thế giới, sở hữu thảo, mộc, tùng lâm, đạo, ma, trúc, vi, sơn thạch, vi trần, nhất vật nhất số, tác nhất Hằng hà. Nhất Hằng hà sa, nhất sa nhất giới. Nhất giới chi nội, nhất trần nhất kiếp. Nhất kiếp chi nội sở tích trần số, tận sung vi kiếp.

          ()佛告文殊師利譬如三千大千世界所有草木叢林稻麻竹葦山石微塵一物一數作一恆河。一恆河沙一沙一界。一界之內一塵一劫。一劫之內所積塵數盡充為劫。

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi: – Ví như trong tam thiên đại thiên thế giới, tất cả cỏ, cây, rừng rậm, lúa, mè, tre, lau, đá núi, vi trần, cứ coi mỗi vật là một con số, mỗi số coi như một sông Hằng. Đối với cát trong một sông Hằng, coi một hạt cát là một thế giới. Trong mỗi thế giới đó, coi một hạt bụi là một kiếp. Số lượng bụi tích tụ trong một kiếp đều được coi là kiếp hết cả).

          Đại Luận viết: “Hỏi: Tam thiên đại thiên thế giới là như thế nào? Đáp: Nói phân biệt theo kinh Tạp A Hàm, một ngàn mặt trời, một ngàn mặt trăng, một ngàn Diêm Phù Đề, cho đến một ngàn Đại Phạm Thiên, được gọi là một tiểu thiên thế giới, tức là một Châu Lợi (chính là “tiểu thiên” trong tiếng Phạn). Coi một ngàn Châu Lợi thế giới là một đơn vị, đếm từ một tới một ngàn, thì gọi là nhị thiên trung thế giới. Coi nhị thiên trung thế giới là một đơn vị, đếm từ một đến một ngàn, gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Một ngàn thế giới là tiểu thiên, nhị thiên là trung thiên, loại thứ ba là đại thiên, do một ngàn nhân lên một ngàn nhân với một ngàn, nên gọi là đại thiên. Do hai lượt [một ngàn] đã nhân với nhau, lại nhân lên một ngàn nữa, nên nói là Tam Thiên (ba lần một ngàn nhân với nhau), tức là đặt tên theo cách kết hợp. Trăm ức nhật nguyệt, cho đến trăm ức Đại Phạm Thiên, gọi là tam thiên đại thiên thế giới”. Đại thiên thế giới ở trong hư không, nước ở trên gió, đất ở trên nước, người ở trên đất. Các loài thảo mộc v.v… ở trên mặt đất.

          “Tùng” (叢) là tụ tập. Cây cối tụ tập gọi là Lâm (林, rừng). “Đạo, ma, trúc, vi” (Lúa, mè, tre, lau): Thí dụ có hai loại, một là giả dụ; hai là dùng sự thật làm thí dụ. Ở đây là giả dụ. Do bốn thứ ấy sanh trưởng rậm rạp, chi chít, chủng loại lại nhiều, người ta lại thường thấy, dễ tin tưởng. Đá núi, vi trần cũng thế. Nay trong khá nhiều vật như thế, tùy ý lấy một vật coi là một số, coi đó là một sông Hằng. Vật đã là vô lượng, [số lượng] sông làm sao có thể cùng tận cho được? Đây là dùng vật để coi là sông, sông làm sao có thể cùng tận cho được? Lại từ số lượng cát trong một sông Hằng (có bản nói là “sông Hằng chứa đầy cát”), tùy ý lấy một hạt cát, coi đó là một thế giới. Cát đã khó thể cùng tận [số lượng], há [số lượng] thế giới có thể cùng tận ư? Đấy là dùng cát để đếm thế giới, thế giới chẳng thể cùng tận vậy! Lại trong mỗi thế giới thuộc số thế giới nhiều như cát ấy, tùy ý lấy một hạt bụi, coi đó là một kiếp. Số lượng bụi đã là khó biết, số lượng kiếp há tính lường nổi ư? Đấy là dùng số lượng bụi trong một thế giới để đếm kiếp, kiếp chẳng thể cùng tận! Nay lại từ số bụi tích tập trong một kiếp, coi hết số lượng ấy là kiếp. Thời gian trải qua đã lâu, số lượng bụi tích tụ rất nhiều. Dựa theo số kiếp nhiều như số bụi ấy, làm sao có thể tính nổi số lượng? Kiếp số chẳng thể nghĩ bàn! Tầng tầng ví dụ nêu tỏ như thế chính là vì để thấy Địa Tạng đại sĩ từ thuở ban đầu thệ nguyện phát tâm tới nay, dẫu bậc thầy về tính toán, hay học trò của các bậc thầy tính toán, đối với con số như trong thí dụ trên đây, cùng nhau mong dùng cái trí lanh lợi và tài khéo để tính toán, rốt cuộc vẫn chẳng thể biết nổi!

          Ắt phải nêu ra Hằng hà [làm thí dụ] là vì sông Hằng có nhiều cát. Hơn nữa, nơi đức Phật sống, nơi Ngài du hành, đệ tử chính mắt thấy [sông Hằng]. Hơn nữa, sông Hằng lớn nhất trong bốn con sông [ở xứ Ấn], mọi người đều coi đó là con sông phước đức, cát tường, cho rằng “vào trong đó tắm gội, tội cấu đều tiêu trừ”. Do mọi người kính trọng, tôn thờ con sông ấy, đều cùng nhận biết. Lại do [người đời] thích đổi tên các con sông, nhưng sông Hằng đời đời chẳng đổi tên. Vì thế, lấy sông Hằng làm thí dụ. Hỏi: Số lượng cát trong sông Hằng là bao nhiêu? Đáp: Hết thảy tính toán đều chẳng thể biết, chỉ có Phật và Pháp Thân Bồ Tát có thể biết.

          Chữ Kiếp Ba (Kalpa) trong tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Phân Biệt Thời Tiết, có tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp khác nhau! Nay dựa theo đại kiếp để nói!

 

3.1.2.2.3.2.2.1.1.2. Chánh minh (nói rõ nhân địa)

 

          (Kinh) Địa Tạng Bồ Tát chứng Thập Địa quả vị dĩ lai, thiên bội đa ư thượng dụ, hà huống Địa Tạng Bồ Tát tại Thanh Văn, Bích Chi Phật địa.

          ()地藏菩薩證十地果位已來千倍多於上喻何況地藏菩薩在聲聞辟支佛地。

          (Kinh: Kể từ khi Địa Tạng Bồ Tát chứng quả vị Thập Địa đến nay, [thời gian ấy] đã ngàn lần nhiều hơn thí dụ trên đây, huống hồ [thời gian] Địa Tạng Bồ Tát còn thuộc các địa vị Thanh Văn và Bích Chi Phật).

         

          Trong đoạn kinh văn này, trước hết là nêu thí dụ về Đại Thừa, sau là nói “huống hồ khi Ngài còn đang tu Tiểu Quả”. Chỉ nêu ra Thập Địa, lược đi các hiền vị (địa vị Tam Hiền) như Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, tức là chỉ dựa theo các địa vị chứng đắc trong Thập Thánh (từ Sơ Địa cho đến Thập Địa) để so sánh. Đấy là luận định dựa theo Biệt Giáo. Nếu xét theo Viên Giáo, từ Sơ Trụ cho đến Đẳng Giác có tất cả bốn mươi mốt địa vị đều là “chân nhân vị” (địa vị chân thật trong khi còn đang tu nhân). Nay vẫn nói theo Biệt Giáo: Một là Hoan Hỷ Địa, từ đây trở đi dùng Trung Đạo Quán, phá một phần vô minh, hiển lộ một phần Tam Đức (Pháp Thân, Bát Nhã, Giải Thoát). Đấy là địa vị Kiến Đạo, lại còn là địa vị Vô Công Dụng. Làm Phật trong trăm thế giới, [thị hiện] tám tướng thành đạo, lợi ích chúng sanh, đi năm trăm do-tuần, mới nhập Thật Tướng vô chướng ngại độ, mới vào bảo sở (chỗ có của báu, tức đạt đến quả vị rốt ráo), cho nên gọi là Hoan Hỷ. Hai là Ly Cấu, ba là Phát Quang, bốn là Diễm Huệ, năm là Nan Thắng, sáu là Hiện Tiền, bảy là Viễn Hành, tám là Bất Động, chín là Thiện Huệ, mười là Pháp Vân. Mỗi địa vị đều đoạn một phẩm vô minh, chứng một phần Trung Đạo… Nhưng Địa Tạng Bồ Tát chứng nhập như thế, dù Biệt hay Viên, đều thuộc quả vị Thập Địa. Cho đến hiện tại, kiếp số ấy dài lâu hơn số kiếp tính bằng số lượng bụi tích tập trong các thế giới trên đây không chỉ vượt quá ngàn lần! Huống hồ [thời gian Ngài trụ] trong các địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng của Đại Thừa, huống hồ trong các tiểu quả thuộc những địa vị Thanh Văn, Bích Chi Phật ư?

          Nghe âm thanh nói về Tứ Đế Khổ Tập Diệt Đạo bèn chứng quả thì gọi là Thanh Văn (Śrāvaka), nhưng trong ấy có Quyền và Thật. Thật là như thường (là Thanh Văn thật sự). Quyền thì như kinh Thập Luân có nói Địa Tạng Bồ Tát và tám mươi trăm ngàn na-dữu-đa (nayutaḥ) tần-bạt-la (vimvara)[25] Bồ Tát do sức thần thông, hiện hình tượng Thanh Văn từ phương Nam đến, lễ Phật, tán thán. Dựa theo hiện tại để ước đoán xưa kia, há chẳng phải là như vậy ư?

          Chữ Bích Chi Ca La (Pratyekabuddha) trong tiếng Phạn được phương này dịch là Duyên Giác, [hàm ý] do quán duyên mà ngộ đạo. Còn dịch là Độc Giác, do vị ấy ra đời trong khi không có Phật. [Đối với Duyên Giác] cũng đáng nên luận định Quyền, Thật [như trên]. Ở đây, chẳng xét theo Đại, Tiểu để so sánh, chỉ nhằm tỏ rõ “đã trải qua thời gian lâu xa”. Nhân địa như thế, ai có thể tính lường là lâu xa hay gần đây cho được!

 

3.1.2.2.3.2.2.1.1.3. Kết hiển (kết lại phần hiển thị thời gian tu nhân)

 

          (Kinh) Văn Thù Sư Lợi! Thử Bồ Tát oai thần thệ nguyện, bất khả tư nghị.

          ()文殊師利此菩薩威神誓願不可思議。

          (Kinh: Này Văn Thù Sư Lợi! Oai thần và thệ nguyện của vị Bồ Tát này chẳng thể nghĩ bàn).

          Đoạn này kết lại oai lực và thần thông “hàng ma, chế phục ngoại đạo”, nguyện tâm hoằng thệ rộng độ các phẩm vị [của Địa Tạng Bồ Tát] đều là hàng Tiểu Thừa chẳng thể suy lường được, những kẻ thuộc các địa vị thấp hơn sẽ chẳng thể nói được.   

Vì thế, trong kinh Thập Luân, đức Phật đã bảo Hảo Nghi Vấn Bồ Tát: “Như thị Đại Sĩ công đức thiện căn, nhất thiết thế giới thiên nhân đại chúng, giai bất năng trắc kỳ lượng thiển thâm. Nhược Như Lai quảng thuyết như thị Đại Sĩ công đức thiện căn, nhất thiết thế gian thiên nhân đại chúng giai sanh mê muộn, hoặc bất tín thọ. Như thị Đại Sĩ thành tựu vô lượng bất khả tư nghị thù thắng công đức, thiện năng ngộ nhập Như Lai cảnh giới, ư chư Phật pháp dĩ đắc tự tại, vị dục thành thục nhất thiết hữu tình, sở tại Phật quốc tất giai chỉ trụ” (Công đức và thiện căn của vị Đại Sĩ như thế, đại chúng trời người trong hết thảy các thế giới đều chẳng thể tính lường sâu hay cạn được! Nếu đức Như Lai rộng nói công đức và thiện căn của vị Đại Sĩ như thế, đại chúng trời người trong hết thảy các thế gian đều mê man, hoặc chẳng tin nhận. Vị Đại Sĩ như thế thành tựu vô lượng công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn, khéo có thể ngộ nhập cảnh giới của Như Lai, đã được tự tại trong pháp của chư Phật, vì muốn thành thục hết thảy hữu tình thảy đều an trụ trong các cõi Phật). Đại Luận gọi “bất khả tư nghị” là Bất Quyết Định, do chẳng thể quyết định chuyện giáo hóa ấy. Vì thế gọi là Bất Khả Tư Nghị (chẳng thể nghĩ bàn).

 

3.1.2.2.3.2.2.1.2. Thị văn tán cúng tượng công đức (chỉ ra công đức do tán thán, cúng dường tượng Bồ Tát)

 

          (Kinh) Nhược vị lai thế, hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thị Bồ Tát danh tự. Hoặc tán thán, hoặc chiêm lễ, hoặc xưng danh, hoặc cúng dường, nãi chí thái họa, khắc lũ, tố tất hình tượng. Thị nhân đương đắc bách phản sanh ư Tam Thập Tam Thiên, vĩnh bất đọa ác đạo.

          ()若未來世有善男子善女人聞是菩薩名字。或讚歎或瞻禮或稱名或供養乃至彩畫刻鏤塑漆形像。是人當得百返生於三十三天永不墮惡道。

          (Kinh: Nếu trong đời vị lai, có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe danh tự của vị Bồ Tát này mà hoặc tán thán, hoặc chiêm lễ, hoặc xưng danh, hoặc cúng dường, cho đến vẽ vời, chạm khắc, đắp, sơn hình tượng, người ấy sẽ được trăm lần sanh trong Tam Thập Tam Thiên, vĩnh viễn chẳng đọa ác đạo).

          “Nhược” (若) là từ ngữ bất định, bởi kẻ làm ác thì nhiều, người hành thiện thì ít; mà cũng là lời lẽ diễn tả vui mừng khi gặp gỡ. Tức là nếu có nam nữ tu thiện, nghe danh tự của Địa Tạng Bồ Tát bèn cung kính, người ấy ắt sẽ vĩnh viễn đạt được phước to lớn. Chuyện này không hạn cuộc trong hai chúng tại gia, như trong kinh Thập Luân, Địa Tạng Bồ Tát được gọi là “thiện nam tử”, tức là cả bảy  chúng[26] trong  ba  thừa

đều có thể xưng hô như vậy. Do “chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”, phàm là trong Phật pháp, có ai mà chẳng tuân hành? “Nghe danh hiệu Bồ Tát…”, nghe danh hiệu bèn gieo chủng tử, có cảm bèn ứng. Ví như hồng chung treo trên giá, hễ gõ liền kêu. Giải thích về chữ Danh thì như trong phần Luân Quán. Tự (字) [nghĩa gốc là] “có sữa”. Trai có vợ, gái có chồng, sau đó sanh con đẻ cái. Do chữ Miên (宀, giống như nhà cửa) và Tử (子) [ghép lại thành chữ Tự (字), diễn tả ý “người đàn bà đã có con, cơ thể sanh ra sữa”], thuộc loại Hội Ý. Nay mượn làm chữ Tự trong Danh Tự. Cổ nhân nói chuyện với nhau, nếu gọi thẳng tên là cách nói chất phác, người đời Châu đã chuộng gọi nhau bằng Tự, coi đó là cách nói bóng bẩy. Nhưng danh tự của Bồ Tát, tuy do đức mà lập, vẫn là giả đặt bày. Kinh Đại Phẩm Bát Nhã nói: “Bát Nhã Ba La Mật, đản hữu danh tự. Bồ Tát, diệc đản hữu danh tự. Thị danh tự bất tại nội, ngoại, trung gian, hòa hợp cố hữu. Bất sanh, bất diệt, đản dĩ thế gian danh tự cố thuyết” (Bát Nhã Ba La Mật chỉ có danh tự. Bồ Tát cũng chỉ có danh tự. Danh tự ấy chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa, do hòa hợp mà có. Chẳng sanh, chẳng diệt, chỉ vì danh tự thế gian mà nói). Do vậy biết danh tự ấy vốn là Không. Đã biết là không tịch, cho nên cảm ứng đạo giao. Vì thế, nghe danh tự của vị Bồ Tát này, hoặc dùng ngôn từ để tán thán, hoặc chiêm ngưỡng hình tướng thù thắng của bậc tôn thánh mà lễ bái, hoặc chuyên xưng danh tự, hoặc kiền thành tu cúng dường, hoặc chọn lựa tinh tế năm màu để vẽ vời, hoặc khéo đẵn các loại gỗ để chạm khắc, hoặc nhờ vào đất sạch để đắp nặn, hoặc nhờ vào keo sơn để tô phết, tạo thành hình tượng Ngài để cung kính. Người ấy trong đời tương lai, nhất định sẽ trăm lượt sanh vào Tam Thập Tam Thiên, vĩnh viễn chẳng đọa vào chốn tam ác đạo.

          Tam Thập Tam Thiên thì có hai thuyết. Theo Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh, Đao Lợi dịch là Tam Thập Tam. Đấy là một tầng trời thuộc Địa Cư Thiên. Nếu sanh vào đó một trăm lần, tức là địa vị thấp kém, nơi chốn hẹp hòi, há có thể hiển lộ oai thần thệ nguyện chẳng thể nghĩ bàn của đức Địa Tạng ư? Phải hiểu là ba mươi ba cõi trời như trong Quán Đảnh Chú Kinh đã liệt kê thì mới phù hợp kinh văn! Những cõi trời ấy chính là Cận Tế, Phổ Quán, Khoái Kiến, Vô Kết Ái, Sắc Cứu Cánh, Tịnh Quang, Phổ Đẳng, Ái Thắng, Phước Ái, Cực Diệu, Quảng Diệu, Vi Diệu, Thủ Diệu, Tịnh Minh, Biến Tịnh, Ước Tịnh, Thủy Ứng Phạm, Thủy Vô Lượng Phạm, Thủy Vi Phạm, Thủy Hành Phạm, Ma Ha Phạm, Phạm Phụ Lộc, Phạm Chúng Diệu, Hóa Tự Tại, Hóa Ứng Thanh, Bất Kiêu Lạc, Đâu Suất Đà, Diêm Ma La, Đao Lợi, Tỳ Sa Môn, Duy Chiêm Văn, Tỳ Lâu Lặc, Đề Đầu Lại Trá. Đấy là các tầng trời thuộc Dục Giới và Sắc Giới, từ Tứ Vương Thiên lên đến Ngũ Tịnh Cư, lại từ Ngũ Tịnh Cư trở xuống Tứ Thiên Vương Thiên, lần lượt sanh vào các tầng trời trong ấy, trong mỗi tầng trời đều hưởng hết thọ mạng trong tầng trời ấy. Một trăm lượt như thế, hưởng tột cùng niềm vui trên cõi trời. Tu nhân ít mà thọ báo nhiều, trải qua thời gian ngắn mà hưởng phước lâu xa, mới hiển lộ thần lực chẳng thể nghĩ bàn của đức Địa Tạng. Nếu là như thế, há có nên sanh lên trời hưởng phước, lại còn vĩnh viễn lìa khỏi ác đạo hay chăng? Hãy nên biết người căn cơ viên đốn, như vương tử ở trong thai, vừa nghe danh, tạc tượng, bèn sanh lên trời, lìa ác. Đấy gọi là “Thập Thiện Bồ Tát phát đại tâm, vĩnh viễn giã biệt biển khổ trong tam giới”, đó là ý chỉ của bản kinh này vậy.

 

3.1.2.2.3.2.2.2. Quảng thuyết hạnh nguyện (rộng nói về hạnh nguyện)

3.1.2.2.3.2.2.2.1. Trưởng giả cầu Phật tướng hảo (trưởng giả cầu tướng hảo của Phật)

3.1.2.2.3.2.2.2.1.1. Đằng tích kiến Phật phát nguyện (nêu rõ chuyện thấy Phật phát nguyện trong quá khứ)

3.1.2.2.3.2.2.2.1.1.1. Tự viễn kiếp Phật hiệu (trần thuật danh hiệu Phật trong kiếp lâu xa)     

         

          (Kinh) Văn Thù Sư Lợi! Thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, ư quá khứ cửu viễn bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp tiền, thân vi đại trưởng giả tử. Thời thế hữu Phật, hiệu viết Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai.

          ()文殊師利是地藏菩薩摩訶薩於過去久遠不可說不可說劫前身為大長者子。時世有佛號曰師子奮迅具足萬行如來。

          (Kinh: Này Văn Thù Sư Lợi! Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp trước lâu xa trong đời quá khứ, làm thân đại trưởng giả. Lúc ấy, trong cõi đời có Phật, hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai).

          Đoạn này trần thuật nguyên do phát tâm tối sơ. Chữ Tiền (前) [trong chánh kinh] mà coi là chữ đầu tiên trong câu kế tiếp thì chẳng hay như là chữ cuối trong câu trước đó. “Đại trưởng giả” là danh xưng chung của bậc tuổi cao đức trọng trong cả hai cõi. Như cuối đời Xuân Thu, nước ta có Trịnh trưởng giả. Những nhà có thế lực ở Tây Trúc đều được gọi là Trưởng Giả. Sách Pháp Hoa Văn Cú nói [trưởng giả] có mười đức:

          – Một là dòng họ tôn quý ([chẳng hạn như] hậu duệ của hoàng đế, nhà quan lại).

          – Hai là địa vị cao (bậc Thừa Tướng phụ bật (phù tá của nhà vua), là bậc hiền tài rường cột, quan dạy các hoàng tử).

          – Ba là giàu to (núi đồng, hang vàng, giàu có, dư dật, chẳng thiếu thứ gì).

          – Bốn là oai mãnh (nghiêm nghị, trang trọng, tự nhiên có oai).

          – Năm là trí sâu (bụng như kho vũ khí (ý nói có tài dụng binh), quyền biến kỳ diệu, tài nghệ nổi bật).

          – Sáu là tuổi cao (tóc đã hoa râm, nhưng sắc bén, phong thái được mọi người nể phục).

          – Bảy là hạnh thanh tịnh (ngọc khuê trắng không tỳ vết, làm đúng như lời nói).

          – Tám là trọn đủ lễ tiết (chừng mực tường tận, là tấm gương cho cõi đời nhìn vào).

          – Chín là được người trên ca ngợi (được bề trên kính trọng).

          – Mười là kẻ dưới quy phục (bốn biển quy phục).

          Có đủ mười đức ấy thì mới gọi là Trưởng Giả. Tử (子) là tiếng tôn xưng, như trong cõi đời nói Khổng Tử, Lão Tử v.v… [Trưởng giả tử] chẳng phải là con của ông trưởng giả!

          Sư Tử Phấn Tấn là mượn dùng thí dụ để lập danh hiệu Phật, chẳng phải là sư tử thật sự. Như sư tử riêng là loài không sợ hãi trong các loài thú bốn chân, có thể chế phục hết thảy; Phật cũng giống như thế. Trong chín mươi sáu thứ ngoại đạo, Ngài hàng phục hết thảy, không sợ hãi, cho nên được gọi là Sư Tử. Phấn (奮) là phấn chấn. Tấn (迅) là nhanh chóng; mượn thí dụ để hiển thị pháp. Như sư tử trong cõi đời, phấn tấn có hai chuyện: Một là chân đạp tung bụi; hai là có thể đi trước, chạy nhanh, nhanh nhẹn khác hẳn các loài thú khác. Môn tam-muội này cũng giống như vậy, một là quét sạch những thứ Hoặc (phiền não) vô tri vi tế gây chướng ngại cho Định; hai là có thể xuất nhập nhanh chóng, chẳng gián đoạn.

          Cụ Túc Vạn Hạnh: Kinh Đại Phẩm Bát Nhã nói “nhất tâm cụ vạn hạnh” (nhất tâm có đủ muôn hạnh) là nói về ý này. Một chính là hết thảy các danh đều trọn đủ; hết thảy chính là một danh trọn đủ. Đã trừ các thứ Hoặc gây chướng ngại cho Định, xuất nhập tam-muội nhanh chóng, tức là trong một có vô lượng, trong vô lượng có một. Do vậy biết Sư Tử Phấn Tấn tam-muội có thể trọn đủ muôn hạnh. Nếu là hành nhân sơ tâm, nắm được cái quả để thành tựu cái nhân, như kinh Niết Bàn dạy: “Kim Cang bảo tạng, cụ túc vô giảm, đản hữu thiển thâm minh muội chi thù” (Kho báu Kim Cang trọn đủ, chẳng giảm, chỉ có cạn, sâu, thông hiểu, mê muội sai khác).

 

3.1.2.2.3.2.2.2.1.1.2. Chánh vấn nhân phát nguyện (thưa hỏi cái nhân rồi phát nguyện)

 

          Gồm hai phần:

          – Hỏi do cái nhân nào mà [đức Phật] có được tướng [thù thắng].

          – Phát nguyện độ sanh.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.1.1.2.1. Vấn đắc tướng chi nhân (thưa hỏi do cái nhân nào mà [đức Phật] đạt được tướng thù thắng)

3.1.2.2.3.2.2.2.1.1.2.1.1. Trưởng giả vấn Phật (trưởng giả hỏi Phật)

 

          (Kinh) Thời, trưởng giả tử, kiến Phật tướng hảo, thiên phước trang nghiêm, nhân vấn bỉ Phật tác hà hạnh nguyện, nhi đắc thử tướng?

          ()長者子見佛相好千福莊嚴因問彼佛作何行願而得此相

          (Kinh: Khi ấy, ông trưởng giả thấy tướng hảo của Phật, ngàn phước trang nghiêm, do đó bèn hỏi đức Phật ấy đã làm hạnh nguyện gì mà đạt được tướng ấy?)

 

          “Kiến Phật” (Thấy Phật) tức là gặp gỡ giữa đường, thấy tướng hảo của Ứng Thân Phật, giống như “quán Phật tướng hảo bèn phát tâm” trong sách Ma Ha Chỉ Quán. Nói “nếu thấy thân do cha mẹ sanh ra của Như Lai, thân tướng rạng rỡ, tướng hảo dầy đặc, thượng cầu, hạ hóa, phát Bồ Đề tâm” chính là nói đến chuyện này. Nhìn vào có thể phân biệt được thì gọi là Tướng; trông thấy đáng yêu mến thì gọi là Hảo. Tướng là đại tướng hải, còn Hảo là tiểu tướng hải. Nếu Tướng không có Hảo, sẽ chẳng viên mãn; Hảo mà không có tướng, sẽ chẳng thể hiển lộ rạng rỡ được! Tướng và Hảo trang nghiêm lẫn nhau, Pháp Thân hiển lộ trọn vẹn.

          “Thiên phước”: Dùng thân, khẩu, ý nghiệp thuộc điều thiện hữu lậu để tu hành Lục Độ, thành tựu một trăm phước đức. Dùng một trăm phước đức để thành tựu một tướng, dùng chuyện này để làm nghiệp nhân của ba mươi hai tướng. Sách Phụ Hành nói: “Bồ Tát tu Thập Thiện, mỗi điều thiện đều có năm tâm, tức là hạ, trung, thượng, thượng thượng, thượng trung thượng (điều tốt nhất trong bậc thượng). Thoạt đầu là phát năm tâm, cho đến trọn đủ năm tâm. Một trăm tâm như thế được gọi là trăm phước”. Nhưng phước có nhiều nghĩa, khó thể phán định dứt khoát! Có thuyết cho rằng “chữa cho người mù trong đại thiên thế giới đều được sáng mắt” là một phước v.v… Nói chung, dùng ba ngàn hai trăm phước để thành tựu ba mươi hai tướng đại nhân; vì thế nói là “thiên phước trang nghiêm” (ngàn phước trang nghiêm). Đại Luận nói: “Dùng ba mươi hai tướng và tám mươi tùy hình hảo để trang nghiêm, bên trong thì có vô lượng công đức Phật pháp. Cho nên nhìn Phật không chán. Người thấy thân Phật sẽ quên bẵng ngũ dục trong cõi đời, chẳng nhớ tới muôn sự. Nếu thấy một chỗ trên thân Phật sẽ yêu thích, không chán, chẳng thể dời mắt được”. Công đức nơi thân Phật là như thế, cho nên ông trưởng giả trông thấy, sanh lòng hoan hỷ cùng cực, lòng khát ngưỡng sâu xa; do vậy, thưa hỏi đức Phật ấy. Tướng hảo ấy chính là báo quả (cái quả do phước báo tạo thành) nơi thân Phật, quả ắt có nhân. Chẳng biết Ngài đã làm hạnh nguyện gì mà có thể đạt được tướng thù thắng, nhiệm mầu như thế?

 

3.1.2.2.3.2.2.2.1.1.2.1.2. Phật thị trưởng giả (Phật dạy trưởng giả)

 

          (Kinh) Thời, Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, cáo trưởng giả tử: “Dục chứng thử thân, đương tu cửu viễn độ thoát nhất thiết thọ khổ chúng sanh”.  

          ()師子奮迅具足萬行如來告長者子欲證此身當須久遠度脫一切受苦眾生。

          (Kinh: Khi ấy, Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo ông trưởng giả: “Muốn chứng thân này, hãy nên tu lâu dài phép độ thoát hết thảy chúng sanh đang chịu khổ”).

 

          Đây là dạy cách cầu tướng. Ba mươi hai tướng ấy chính là quả báo

của lòng đại bi. Vì thế, cần phải độ thoát chúng sanh để làm căn bản cho tướng hảo! Đấy là các kinh Đại Thừa rộng nói về tướng trạng trải bao kiếp tu hành của Bồ Tát. Đã là thực hiện dài lâu, hành theo thứ tự cách biệt, thì chính là pháp tu chứng của Đại Thừa Biệt Giáo. Kinh Niết Bàn nói: “Tứ Đế nhân duyên hữu vô lượng tướng, phi Thanh Văn, Duyên Giác sở tri” (Nhân duyên của Tứ Đế có vô lượng tướng, hàng Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể biết được). Vì thế nói là “cửu viễn” (久遠, lâu xa).

          Hỏi: Ngài Địa Tạng phát tâm đã là Biệt, nay vì sao phán giáo [pháp môn này] giống như Viên?

          Đáp: Phát tâm vốn là Viên, nhờ vào Biệt để nói. Kinh Duy Ma dạy: “Tuy tri chư Phật quốc, cập dữ chúng sanh không, nhi thường tu Tịnh Độ, giáo hóa ư quần sanh. Chư hữu chúng sanh loại, hình thanh cập oai nghi, vô úy lực Bồ Tát, nhất thời năng tận hiện” (Tuy biết các cõi Phật và chúng sanh đều là không, nhưng thường tu Tịnh Độ, giáo hóa các quần sanh. Đối với các loài chúng sanh trong các cõi, bậc Bồ Tát có sức vô úy đều có thể trong cùng một lúc mà hiện trọn hết các hình tướng, âm thanh và oai nghi). “Hạnh Biệt, tâm Viên” đã được nói rõ trong đoạn kinh văn ấy. Nhưng Phần Viên chính là Biệt, dung thông Biệt thì chính là Phần Viên, chẳng thể luận định ý nghĩa theo kiểu nhất loạt được!  

 

3.1.2.2.3.2.2.2.1.1.2.2. Phát độ sanh chi nguyện (phát nguyện độ sanh)     

 

          (Kinh) Văn Thù Sư Lợi! Thời trưởng giả tử nhân phát nguyện ngôn: “Ngã kim tận vị lai tế, bất khả kế kiếp, vị thị tội khổ lục đạo chúng sanh, quảng thiết phương tiện, tận linh giải thoát, nhi ngã tự thân, phương thành Phật đạo.

          ()文殊師利時長者子因發願言我今盡未來際不可計劫為是罪苦六道眾生廣設方便盡令解脫而我自身方成佛道。

          (Kinh: Này Văn Thù Sư Lợi! Khi ấy, ông trưởng giả do vậy bèn phát nguyện: “Cho đến hết đời vị lai chẳng thể tính kiếp, con sẽ vì các chúng sanh tội khổ trong lục đạo mà rộng lập bày phương tiện, khiến cho họ được giải thoát rồi bản thân con mới thành Phật đạo”).

 

          Đây là nêu ra lời phát nguyện trong thuở  xưa  của  vị  trưởng  giả.

Hai câu kể từ “ngã kim” (con nay) nêu rõ lúc [bắt đầu] độ sanh. Câu “vị thị tội khổ” (vì những người tội khổ này) nói rõ căn cơ được hóa độ. Bốn câu từ “quảng thiết” (rộng lập bày) nêu bày điều Ngài phát nguyện. “Tội khổ lục đạo”: Kinh Pháp Hoa nói: “Kiến lục đạo chúng sanh, bần cùng vô phước huệ, nhập sanh tử hiểm đạo, tương tục khổ bất đoạn” (Thấy lục đạo chúng sanh, nghèo túng, không phước huệ, vào đường hiểm sanh, liên tục khổ chẳng ngừng). Tuy [sáu đường] phân chia thành thiện hay ác, nhưng đều chẳng tránh khỏi nỗi khổ sanh, lão, bệnh, tử!

          “Quảng thiết phương tiện” (Rộng lập phương tiện) là chuyện trọng yếu để xuất Giả. Sách Ma Ha Chỉ Quán viết: “Nhân duyên để nhập Giả, nói đại lược thì có năm điều: Một là tâm từ bi sâu nặng. Hai là nhớ đến thệ nguyện của chính mình. Ba là trí huệ nhạy bén. Bốn là phương tiện hay khéo. Năm là sức đại tinh tấn”. Nếu đối chiếu những điều trên đây với đoạn kinh văn ở đây thì mỗi mỗi đều trọn đủ. Căn cơ đã chẳng phải là một loại thì pháp cũng có nhiều môn. Vì thế, rộng lập phương tiện khiến cho bốn môn đều nhập. Đối với giải thoát mà nói là “tận linh” (khiến cho trọn hết) thì như kinh Tiểu Phẩm Bát Nhã đã nói: “Nhược thai, noãn, thấp, hóa đẳng, ngã giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn” (Đối với các loài sanh bằng thai, trứng, thấp sanh, hóa sanh v.v… ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn) chính là ý này. Kinh Phổ Diệu dạy: “Vô ngũ thú, ngũ ấm, lục suy, tắc thị Nê Hoàn” (Chẳng có năm đường, năm ấm, sáu điều suy[27], thì chính là Niết Bàn), đấy chính là ý chỉ của kinh này. “Ngã phương thành Phật đạo” (Ta mới thành Phật đạo): Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tự vị đắc độ, tiên độ chúng sanh giả, Bồ Tát phát tâm dã” (Chính mình chưa đắc độ mà đã độ chúng sanh trước, đó là Bồ Tát phát tâm). Năm điều trong sách Ma Ha Chỉ Quán [như vừa trích dẫn trên đây] đã giải thích đại lược chuyện này. Nếu có tâm mong muốn như thế, dẫu ở trong sanh tử phiền não, vẫn chẳng thể tổn hại trí huệ của ta được, [những thứ] ngăn chướng, gây nạn càng giúp cho hóa đạo [mạnh mẽ] vậy!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.1.2. Thị kim nhân vị độ sanh (chỉ ra sự độ sanh trong địa vị tu nhân trong hiện thời)

 

          (Kinh) Dĩ thị ư bỉ Phật tiền, lập tư đại nguyện. Ư kim bách thiên vạn ức na-do-tha bất khả thuyết kiếp thượng vi Bồ Tát.

          ()以是於彼佛前立斯大願。於今百千萬億那由他不可說劫尚為菩薩。

          (Kinh: Do Ngài đối trước đức Phật ấy, lập ra đại nguyện đó, cho đến nay, trong trăm ngàn vạn ức na-do-tha bất khả thuyết kiếp vẫn làm Bồ Tát).

          Trong kinh Hoa Nghiêm, Hiền Thủ Bồ Tát nói: “Nhược hữu Bồ Tát sơ phát tâm, thệ cầu đương chứng Phật Bồ Đề, bỉ chi công đức vô biên tế, bất khả xưng lượng, vô dữ đẳng! Hà huống vô lượng vô biên kiếp, cụ tu địa độ chư công đức, Thập Lực nhất thiết chư Như Lai, tất cộng xưng dương bất năng tận. Dĩ thử Bồ Tát văn viên pháp, khởi viên tín, lập viên hạnh, trụ viên vị, dĩ viên công đức nhi tự trang nghiêm, dĩ viên lực dụng kiến lập chúng sanh” (Nếu có Bồ Tát sơ phát tâm, thề cầu chứng quả Bồ Đề của Phật, công đức của người ấy chẳng có ngằn mé, chẳng thể kể lường, chẳng sánh bằng! Huống hồ trong vô lượng vô biên kiếp, tu đủ các công đức thuộc các địa vị và các độ (Ba La Mật) thì mười phương hết thảy các đức Như Lai đều cùng ca ngợi chẳng thể cùng tận. Do vị Bồ Tát ấy nghe pháp viên mãn, dấy lòng tin viên mãn, lập hạnh viên mãn, trụ nơi địa vị viên mãn, dùng công đức viên mãn để tự trang nghiêm, dùng sức viên mãn để kiến lập chúng sanh). Sơ tâm còn như thế, huống hồ trung, hậu tâm. Vì thế, sách Tứ Giáo Nghĩa viết: “Do vậy, giảng kinh, thuyết pháp trong một tông, ắt cần phải khéo léo cởi gỡ [những nghi vấn] cho hàng sơ tâm. Nếu là người thuộc địa vị sâu xa của bậc hiền thánh, chỉ cần chỉ vẽ đôi chút là được rồi. Người học Phật đạo, chớ nên không biết!”

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2. Thị thánh nữ ức mẫu cảm Phật (dạy về thánh nữ nhớ mẹ cảm Phật)

         

          Phần này chia thành hai:

          – Nêu bày hạnh nguyện.

          – Từ “Phật cáo Văn Thù” (đức Phật bảo Văn Thù) trở đi, kết lại chuyện xưa nay.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1. Đằng tích hạnh nguyện (nêu rõ hạnh nguyện xưa)

          Phần này chia thành hai:

          – Nêu ra chuyện đã làm trong lúc tu nhân.

          – Tỏ rõ Bồ Tát phát nguyện rộng lớn.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1. Cử sở hành nhân sự (nêu ra chuyện đã làm trong lúc tu nhân)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.1. Cử Phật hiệu kiếp thọ (nêu ra danh hiệu Phật, kiếp số, và thọ lượng)

 

          (Kinh) Hựu ư quá khứ bất khả tư nghị A-tăng-kỳ kiếp, thời thế hữu Phật, hiệu viết Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai.

          ()又於過去不可思議阿僧祇劫時世有佛號曰覺華定自在王如來。

          (Kinh: Lại trong quá khứ chẳng thể nghĩ bàn A-tăng-kỳ kiếp, thuở ấy, trong cõi đời có Phật, hiệu là Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai).

          A-tăng-kỳ (Asaṃkhyeya), hoặc A-tăng-xí-da, cõi này dịch là Vô Ương Số (Ương (央) là cùng tận). Kinh Bồ Tát Địa Trì nói: “Nhất giả, nhật, nguyệt, trú, dạ, tuế số vô lượng. Nhị giả, đại kiếp vô lượng, danh A-tăng-kỳ” (Một là ngày, tháng, ban đêm, ban ngày, năm, số lượng của chúng đều đến vô lượng. Hai là đại kiếp vô lượng, gọi là A-tăng-kỳ). Ý nghĩa của chữ Kiếp như đã nói trong phần trên. Nhưng A-tăng-kỳ kiếp chẳng thể nghĩ bàn như thế, đức Phật ta (Thích Ca Mâu Ni Phật) thấy giống như trong hiện thời. Sức Túc Mạng Trí há nghĩ bàn được ư? Như xưa kia, vua Phân Hòa Đàn đấu trí với đức Phật, đức Phật bảo nhà vua: “Dùng nước biển làm nghiên mực, chặt cây làm bút để viết những kinh ta biết. Dù nước biển cạn khô, chặt sạch cây cối, kinh của ta chẳng hết. Vì cớ sao vậy? Phật có ba đạt trí (trí thông đạt), từ xưa đến nay không gì chẳng thông đạt”. Đây là chuyện trong kiếp quá khứ nhiều như số vi trần, [Như Lai thấy rõ ràng] như nhìn quả Am-ma-lặc (quả xoài) đặt trong lòng bàn tay.

          Giác Hoa Định Tự Tại Vương là dùng Định để đặt tên. Kinh Duy Ma nói: “Giác ý tịnh diệu hoa” (Hoa giác ý thanh tịnh, mầu nhiệm). “Giác” chính là tánh Bổn Giác. Nhục đoàn tâm (quả tim thịt) hình dạng như đóa hoa sen có tám cánh, tức là biểu thị tám thức Tâm Vương, mỗi cánh là một vị Như Lai. Kinh Như Lai Tạng nói: “Phật quán nhất thiết phiền não tâm trung, hữu Như Lai kết già phu tọa, nghiễm nhiên bất động, đức tướng cụ túc” (Phật quán trong hết thảy cái tâm phiền não có một vị Như Lai ngồi xếp bằng, nghiễm nhiên bất động, đức tướng trọn đủ). Đấy chính là thiên nhiên Tánh Đức mà các hàm linh vốn sẵn có. Hễ mê thì là phàm, ngộ thì là thánh. Trong lúc tu nhân, đức Phật ấy thường quán giác hoa đó trong tam-muội. Vị Phật nào cũng đều đang ở trong Định. Giác tánh hiển lộ trọn vẹn, tâm hoa nở ngay lập tức. Hoặc là từ một căn mà nhập Chánh Thọ, từ các căn mà xuất Định. Hoặc từ các căn nhập Chánh Thọ, từ một căn xuất Định. Hoặc từ một căn vừa xuất vừa nhập, hoặc chẳng xuất nhập. Hoặc từ một căn, một trần liền xuất nhập, liền vừa xuất vừa nhập, hoặc chẳng xuất nhập. Cho đến các phương khác, cũng giống như thế. Dù y báo hay chánh báo, đều đắc đại tự tại, tức là Tam Muội Vương, cho nên hiệu là Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, tức là Báo Thân Phật, do Đệ Nhất Nghĩa Đế mà gọi là Như, do Chánh Giác mà gọi là Lai.

 

          (Kinh) Bỉ Phật thọ mạng tứ bách thiên vạn ức A-tăng-kỳ kiếp.

          ()彼佛壽命四百千萬億阿僧祇劫。

          (Kinh: Thọ mạng của đức Phật ấy là bốn trăm ngàn vạn ức A-tăng-kỳ kiếp).

          “Bỉ Phật thọ mạng” (Thọ mạng của đức Phật ấy): Phàm là Phật, ắt phải luận định ba thân, đối với mỗi thân, đều nói đến thọ mạng. Pháp Thân chẳng có thọ và phi thọ, chẳng phải là có số lượng, chẳng phải là không có số lượng. Nay đã luận về kiếp số thì chẳng phải là Pháp Thân. Ứng Thân nhiều lượt hiện sanh, hiện diệt. Nay đã nói “bốn trăm ngàn vạn ức A-tăng-kỳ kiếp”, tức chẳng phải là Ứng Thân. Đây là nói về Báo Thân, cảnh và trí tương ứng thì gọi là Thọ, trí huệ là Mạng. Dùng Như Như Trí để khế hợp cảnh Như Như; Cảnh phát khởi Trí là Báo, Trí ngầm hợp Cảnh là Thọ. Cảnh đã là vô lượng biên, thường trụ bất diệt, Trí cũng như thế. Hộp to thì nắp cũng to. Nói “ngã trí lực như thị, cửu tu nghiệp sở đắc, huệ quang chiếu vô lượng, thọ mạng vô số kiếp” (trí lực ta như thế, nghiệp tu lâu bèn đắc, huệ quang chiếu vô lượng, thọ mạng vô số kiếp) chính là thọ lượng của cái mạng Báo Thân Trí Huệ. Do vậy, đức Phật có thọ mạng lâu xa như thế đó.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2. Thuật thánh nữ  nhân  hạnh (tường  thuật  nhân

hạnh của thánh nữ)

 

          Phần này gồm hai phần:

          – Trần thuật, khi mẹ còn sống, thánh nữ đã khuyên mẹ sanh chánh kiến.

          – Trần thuật sau khi mẹ chết, bèn nhớ mẹ, mong biết chỗ mẹ sẽ sanh về.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.1. Thuật sanh tiền khuyến mẫu chánh kiến (trần thuật, khi mẹ còn sống, thánh nữ đã khuyên mẹ sanh chánh kiến)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.1.1. Thánh nữ phước hậu (thánh nữ phước sâu dy)

                   

          (Kinh) Tượng Pháp chi trung, hữu nhất Bà-la-môn nữ, túc phước thâm hậu, chúng sở khâm kính, hành, trụ, tọa, ngọa, chư thiên vệ hộ.

          ()像法之中有一婆羅門女宿福深厚眾所欽敬行住坐臥諸天衛護。

          (Kinh: Trong đời Tượng Pháp, có một cô gái thuộc giai cấp Bà-la-môn, phước xưa sâu dy, được mọi người khâm phục, cung kính, đi, đứng, ngồi, nằm, chư thiên bảo vệ).

          Chỉ rõ sau khi đức Phật nhập diệt, vào đời Tượng Pháp kiên cố. Tượng (像) tức là có hình dạng hơi giống. Hàn Tử nói: “Tượng (, voi) là một loài thú lớn ở phương Nam, Trung Quốc chẳng biết, chỉ thấy hình vẽ rồi viết về nó. Vì thế, mượn nghĩa này nhằm giải thích ý nghĩa tương tự”. Đừng hiểu Tượng [trong Tượng Pháp] phải viết là Tượng (像), [nếu hiểu như vậy] thì sai mất rồi! Nhưng do thói quen lưu truyền đã lâu, khó thể sửa đổi, [cho nên vẫn viết Tượng Pháp là “像法”].

          Chữ Bà-la-môn (Brahman) được Phổ Môn Sớ dịch là Tịnh Hạnh. Chủng tộc này có từ thời kiếp sơ, tự hưởng thanh nhàn trong núi non, đồng vắng, nên mọi người gọi họ là Tịnh Hạnh. Trong tiếng Phạn, nữ được gọi là Na, ở đây dịch là Nữ, tức là cô gái chưa kết hôn. Câu này nhằm nêu ra chủng loại, câu kế tiếp tán thán đức hạnh. “Túc phước thâm hậu” nói rõ cái nhân thù thắng trong quá khứ. Đại Luận nói: “Quả báo là phước. Nói đại lược thì có ba loại: Một là bố thí phước, tương phản với cái tâm keo kiệt. Hai là trì giới phước, tương phản với ác nghiệp. Ba là tu Định phước, tương phản với sân loạn trong Dục Giới”. Vị thánh nữ này trong đời quá khứ đã tu ba phước sâu dầy, khiến cho thân thích, họ hàng, người nhà, làng nước đều khâm phục, cung kính. Kinh Pháp Hoa nói: “Đoan chánh hữu tướng chi nữ, túc thực đức bổn, chúng nhân ái kính” (Người nữ có tướng đoan chánh, đời trước đã gieo cội đức, được mọi người kính yêu) chính là nói về ý này. Há chỉ là được mọi người khâm phục, cung kính? Phàm là trong bốn oai nghi, hết thảy chư thiên, thần, quỷ, không ai chẳng vây quanh bảo vệ, ủng hộ! Bởi lẽ phước lấy Bi và Kính làm khởi nguồn. Bi là thương xót những kẻ gian nan, cay đắng trong đường khổ, mong cứu giúp họ thoát lìa. Kính là biết Phật pháp khó thể gặp gỡ, lắng lòng tin tưởng, ngưỡng mộ rộng lớn. Do vậy, tuy là thiếu nữ, đã trọn đủ nguyện tâm của bậc Đại Sĩ, cho nên cảm chư thiên bảo vệ, ủng hộ!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.1.2. Tà mẫu tội trọng (mẹ tà kiến, tội nặng)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.1.2.1. Thánh nữ phương tiện khuyến mẫu (thánh nữ dùng phương tiện khuyên mẹ)

 

          (Kinh) Kỳ mẫu tín tà, thường khinh Tam Bảo. Thị thời thánh nữ, quảng thiết phương tiện, khuyến dụ kỳ mẫu, linh sanh chánh kiến.

          ()其母信邪常輕三寶。是時聖女廣設方便勸誘其母令生正見。

          (Kinh: Mẹ cô ta tin theo tà thuyết, thường khinh Tam Bảo. Khi ấy, thánh nữ rộng lập phương tiện để khuyên nhủ mẹ, khiến bà sanh chánh kiến).

          Tín là sự chân thật nơi tâm. Ngũ Thường, Bách Hạnh, hễ tin thì sẽ thật sự có lý ấy. Chẳng tin bèn quên bẵng! Bà ta đã tin tà, chánh tín đã mất. “Tà” (邪) là tà kiến, tâm rong ruổi vượt ra ngoài lý. Bên trong đã chấp vào tà kiến, cho nên [thể hiện ra] ngoài là khinh miệt Tam Bảo, trở thành Nhất Xiển Đề (Icchantika), tạo tội Ngũ Vô Gián. Thuần Đà (Cunda Kammāraputra) hỏi Phật: “Nhất Xiển Để có nghĩa là như thế nào?” Đức Phật dạy: “Nhược hữu tứ chúng, phát thô ác ngôn, phỉ báng chánh pháp, ngôn vô Phật pháp chúng, bất tín nhân quả, bất tín nghiệp báo, bất thân thiện hữu, bất tùy chư Phật giáo giới, danh Nhất Xiển Đề” (Nếu có tứ chúng thốt lời thô ác, phỉ báng chánh pháp, bảo là không có những người tin theo Phật pháp, chẳng tin nhân quả, chẳng tin nghiệp báo, chẳng thân cận bạn lành, chẳng tuân theo lời răn dạy của chư Phật, thì gọi là Nhất Xiển Đề). Bởi lẽ, Nhất Xiển (Icchan) là Tín, Đề (Tika) là “chẳng trọn đủ”. Lòng tin đã không trọn đủ thì gọi là Nhất Xiển Đề. Chẳng có lòng tin, tự nhiên sẽ thường khinh rẻ Tam Bảo, tội nghiệp sâu dầy. Thánh nữ biết mẹ tà hạnh, ắt chìm đắm trong biển khổ. Do vậy, thiết tha kề cận, ân cần sáng tối, rộng nói pháp khéo léo, khuyến hóa, dẫn dụ, ắt khiến cho mẹ thường giữ được chánh kiến, tin tưởng, tôn trọng Tam Bảo để tránh khỏi nỗi khổ về sau. Ấy là vì Chánh Kiến đứng đầu Bát Chánh Đạo.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.1.2.2. Tà mẫu tội trọng đọa khổ (bà mẹ tà kiến do tội nặng, đọa trong đường khổ)

 

          (Kinh) Nhi thử nữ mẫu, vị toàn sanh tín. Bất cửu mạng chung, hồn thần đọa tại Vô Gián địa ngục.

          ()而此女母未全生信。不久命終魂神墮在無間地獄。

          (Kinh: Nhưng mẹ của cô gái ấy chưa hoàn toàn sanh lòng tin tưởng. Chẳng lâu sau, mạng chung, hồn thần đọa trong địa ngục Vô Gián).

          Chữ A Ma trong tiếng Phạn, cõi này dịch là “nữ mẫu” (mẹ của cô gái). [Bà mẹ] do tạm thời được khuyên dụ mà tin đôi chút, nhưng vẫn theo thói cũ mà còn mang tâm tà kiến. Ác nghiệp đã sâu, tín tâm tự khuyết. Chẳng bao lâu sau, thọ mạng chấm dứt. Làm lành thì sanh lên trời, tạo ác ắt sa xuống vực. Do ác nghiệp đã chín muồi, hồn thần tám thức theo nghiệp đọa vào Vô Gián. Phật Thuyết Ha Điêu A Na Hàm Kinh có nói: “Bạch y bất tín Phật ngữ giả, tiện đương đọa Nê Lê trung” (Kẻ bạch y (người tại gia) chẳng tin lời Phật, sẽ đọa trong địa ngục). Ngục Nê Lê trọn chẳng gọi người, người theo nghiệp mà tự hiện thân trong đó!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2. Thuật tử hậu ức mẫu sanh giới (trần thuật sau khi mẹ chết, con nhớ mẹ, chẳng biết mẹ sanh trong cõi nào)

 

          Phần này gồm hai đoạn:

          – Bán nhà để cúng dường, cảm trên không có tiếng an ủi, khuyên bảo.

          – Vâng lời dạy niệm Phật, mộng thấy Quỷ Vương chỉ dạy.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1. Mại trạch hưng cúng (bán nhà để cúng dường)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.1. Vị mẫu mại trạch hưng cúng (vì mẹ bèn bán nhà để cúng dường)

 

          (Kinh) Thời, Bà-la-môn nữ, tri mẫu tại thế, bất tín nhân quả, kế đương tùy nghiệp, tất sanh ác thú. Toại mại gia trạch, quảng cầu hương hoa, cập chư cúng cụ. Ư tiên Phật tháp tự, đại hưng cúng dường.

          ()婆羅門女知母在世不信因果計當隨業必生惡趣。遂賣家宅廣求香華及諸供具。於先佛塔寺大興供養。

          (Kinh: Khi ấy, cô Bà-la-môn biết mẹ lúc còn sống, chẳng tin nhân quả, xét theo nghiệp, ắt phải sanh trong đường ác. Liền bán nhà cửa để mua sắm nhiều thứ hương, hoa, và các vật cúng. Đối trước chùa, tháp thờ đức Phật trên đây mà cúng dường trọng thể).

          Chữ Tri (知, biết) chính là cội nguồn để cứu mẹ. Thiện ác đắp đổi, tội phước đối địch nhau! Ác thì gục xuống, đọa lạc, thiện thì thăng lên thơ thới. Do vậy, các pháp tội ác chớ nên chẳng trừ khử; công phước thiện há chẳng nên tạo? Hoằng dương điều thiện, nêu rõ sự vui sướng chốn thiên đường. Trừng phạt sự sai trái, tỏ rõ sự chua xót, đắng cay nơi địa ngục! Hiềm rằng kẻ tà kiến dấy lên kiến chấp đoạn diệt, thốt lời bài bác nhân quả; cội nguồn do căn bệnh mê si. Bởi lẽ, kẻ ngu si chẳng biết nhân quả, lầm lạc dấy lên tà kiến, phá pháp thiện, ác, gọi là “đoạn thiện căn”, chắc chắn đọa vào địa ngục A Tỳ. Nay thánh nữ biết mẹ lúc còn sống, bệnh mê si đã nặng, thường khinh miệt Tam Bảo, suy ra chết đi, ắt sẽ theo nghiệp, sanh trong đường ác.

          Từ ngữ A Ba Na Già Đê (Aparagati) trong tiếng Phạn, cõi này dịch là “ác thú” (惡趣, đường ác). Đoạn này nói rõ bà mẹ mang tội, nghiệp chướng nặng nề; sau đó, nói ra phương pháp cứu mẹ. Người ta có nhà cửa là để an thân, nay vì cứu mẹ, rảnh đâu mà tiếc thân, cho nên bán sạch của cải để lấy tiền lo liệu hòng mua sắm rộng rãi các món vật cúng. Hương, hoa là những thứ đứng đầu để dâng cúng, là bước đầu để biểu lộ lòng thành. Hương có thể khử ô uế, hoa trọn đủ cái nhân viên mãn. Thiên tử Phí Thị[28] đã nói: “Hơi thối trong loài người đã xông lên tận hư không, chư thiên thanh tịnh không ai chẳng chán ghét, nhưng do vâng nhận lời đức Phật dặn dò, giao phó, chư thiên chẳng dám không đến”. Vì thế, trong Phật pháp, hương là sứ giả của Phật. Hương, hoa đã đầy đủ, bèn soạn bày các món ăn ngon. Treo phan, lọng phất phơ, giăng chuỗi ngọc lóng lánh trước tháp thờ đức Phật đã nhập diệt là Giác Hoa Định Tự Tại Vương, khởi lên sự cúng dường rộng lớn trong pháp giới.

          Tháp Bà (Stūpa) là danh xưng trong tiếng Phạn, chính là nơi chôn giấu xương Phật. “Tự” (寺) là Tự (嗣, nối tiếp), [ý nói] là chỗ những người lo liệu công việc sẽ tiếp nối nhau trong ấy[29], mà cũng là từ ngữ chỉ chung cảnh giới để hết thảy chúng tăng tu đạo trong mười phương.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2. Kiến tượng, mặc niệm, không thị (thấy tượng, thầm niệm, trên không có tiếng chỉ dạy)

 

          Phần này chia thành hai đoạn:

          – Thấy Phật nổi lòng nghi.

          – Trên hư không có tiếng chỉ dạy nơi chốn.

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.1. Kiến Phật hưng nghi (thấy Phật nổi lòng nghi)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.1.1. Kiến Phật lễ kính (thấy Phật bèn lễ kính)

 

          (Kinh) Kiến Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, kỳ hình tượng tại nhất tự trung, tố họa oai dung, đoan nghiêm tất bị. Thời Bà-la-môn nữ, chiêm lễ tôn dung, bội sanh kính ngưỡng.

          ()見覺華定自在王如來其形像在一寺中塑畫威容端嚴畢備。時婆羅門女瞻禮尊容倍生敬仰。

          (Kinh: Thấy hình tượng của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai trong một ngôi chùa, dung nhan oai thần được đắp vẽ trọn đủ đoan nghiêm. Khi ấy, cô gái Bà-la-môn chiêm ngưỡng, lễ bái tôn dung, sanh lòng kính ngưỡng bội phần).

 

          Đoạn này nói [cô gái Bà-la-môn] đến chùa cúng dường, ngẩng đầu nhìn tượng Phật: Kim dung chói ngời, trang nghiêm hiển lộ đẹp đẽ. Trong lúc chiêm ngưỡng, lễ bái, kính ngưỡng bội phần. Cần phải biết: Chiêm ngưỡng, lễ bái tượng Phật, công đức khó nghĩ tưởng! Như kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Quá khứ hữu Phật, hiệu Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai. Thời hữu tỳ-kheo, dữ cửu đệ tử vãng nghệ Phật tháp, kiến nhất bảo tượng, lễ dĩ tán thán. Hậu thời mạng chung, tất sanh Đông phương Bảo Oai Đức Thượng Vương Phật quốc, đại liên hoa trung, hốt nhiên hóa sanh, tịnh tu phạm hạnh, đắc Niệm Phật tam-muội hải. Phật vị thọ ký, các đắc thành Phật. Kim Đông phương Thiện Đức Phật thị kỳ sư. Cửu phương Vô Ưu Đức Phật đẳng thị cửu đệ tử. Hựu Không Vương Như Lai Niết Bàn hậu, hữu tứ tỳ-kheo, đồng học Phật pháp, phiền não phú tâm, bất năng kiên trì, đa bất thiện nghiệp, đương đọa ác đạo. Không trung hữu thanh, ngữ tỳ-kheo ngôn: ‘Nhữ đẳng kim khả nhập tháp quán tượng, dữ Phật tại thế đẳng vô hữu dị’. Văn không thanh dĩ, nhập tháp quán tượng mi gian hào tướng, tức tác niệm ngôn: ‘Như Lai tại thế, quang minh, sắc thân, dữ thử hà dị? Phật đại nhân tướng, nguyện trừ ngã tội’. Do nhập tháp quán tượng hào tướng, sám hối nhân duyên, hậu bát thập ức A-tăng-kỳ kiếp, bất đọa ác đạo, thường kiến chư Phật, thọ ký thành Phật. Kim Đông phương A Súc, Nam phương Bảo Sanh, Tây phương Vô Lượng Thọ, Bắc phương Vi Diệu Thanh, tức tứ tỳ-kheo thị” (Trong quá khứ có Phật, hiệu là Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai. Khi ấy có vị tỳ-kheo và chín đệ tử đi đến tháp thờ Phật, thấy một tượng báu, lễ xong bèn tán thán. Về sau, mạng chung, đều sanh vào cõi của Bảo Oai Đức Thượng Vương Phật tại phương Đông, ở trong hoa sen lớn, bỗng dưng hóa sanh, tịnh tu phạm hạnh, đạt được biển Niệm Phật tam-muội. Đức Phật thọ ký cho các vị ấy đều được thành Phật. Nay Thiện Đức Phật ở phương Đông là vị thầy ấy, các vị như Vô Ưu Đức Phật v.v… ở chín phương là chín vị đệ tử. Lại nữa, sau khi Không Vương Như Lai nhập Niết Bàn, có bốn tỳ-kheo cùng học Phật pháp, do phiền não che lấp tâm, chẳng thể kiên trì, tạo nhiều nghiệp bất thiện, sắp đọa ác đạo. Trong hư không có tiếng bảo các vị tỳ-kheo: “Nay các ông có thể vào tháp quán tượng, sẽ chẳng khác gì Phật còn tại thế”. Nghe tiếng nói trên hư không xong, họ bèn vào tháp, quán hào tướng giữa hai mày của tượng Phật, bèn suy nghĩ rằng: “Đức Như Lai tại thế thì quang minh và sắc thân khác với tượng này như thế nào? Phật là đấng có tướng đại nhân, nguyện trừ tội cho con”. Do nhân duyên vào tháp quán tướng bạch hào của Phật và sám hối, tám mươi ức A-tăng-kỳ kiếp sau, chẳng đọa ác đạo, thường thấy chư Phật, được thọ ký thành Phật. Nay Phật A Súc ở phương Đông, Phật Bảo Sanh ở phương Nam, Phật Vô Lượng Thọ ở phương Tây, Phật Vi Diệu Thanh ở phương Bắc chính là bốn vị tỳ-kheo). Do nhân duyên này, hành giả phải nên nhiều lượt quán Phật. Vì thế biết: Cúng dường, quán tượng, bà mẹ có tội được sanh lên trời chẳng nghi!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.1.2. Tư niệm nghi tình (tự suy nghĩ, dấy lòng nghi)      

 

          (Kinh) Tư tự niệm ngôn: “Phật danh đại giác, cụ Nhất Thiết Trí. Nhược tại thế thời, ngã mẫu tử hậu, thảng lai vấn Phật, tất tri xứ sở”.

          ()私自念言佛名大覺具一切智。若在世時我母死後儻來問佛必知處所。

          (Kinh: Riêng tự nghĩ rằng: “Đức Phật là đấng Đại Giác, trọn đủ Nhất Thiết Trí. Nếu Ngài còn trên đời, sau khi mẹ tôi mất, nếu như tôi đến hỏi Phật, ắt sẽ biết nơi chốn”).

          “Tư” (私) là trong tâm tự hoài niệm, người khác chẳng biết. Tâm niệm Phật như tỉnh giấc mộng lớn, đối với hết thảy các pháp, thấy biết vô ngại. Cao tột bậc nhất, gọi là Nhất Thiết Trí. Nếu như đức Phật còn trụ thế, mẹ ta đã khuất, nếu ta đến thưa hỏi Ngài chỗ mẹ sanh về, thăng, trầm, cao, thấp, nam, nữ, sang, hèn, ắt Ngài sẽ rủ lòng Từ chỉ dạy, an ủi ta.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.2. Không thanh thị xứ (tiếng nói trên hư không dạy nơi chốn)

 

          Phần này chia làm hai:

          – Khóc lóc, luyến mộ, nghe tiếng nói.

          – Nghe tiếng nói, tự gieo mình xuống đất.


3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.2.1. Khấp luyến văn thanh
(khóc lóc, luyến mộ, nghe tiếng nói)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.2.1.1. Không thanh an ủy dụ (tiếng nói trên hư không an ủi, phủ dụ)

 

          (Kinh) Thời, Bà-la-môn nữ, thùy khấp lương cửu, chiêm luyến Như Lai.

          ()婆羅門女垂泣良久瞻戀如來。

          (Kinh: Khi ấy, cô Bà-la-môn lệ đẫm một lúc lâu, chiêm ngưỡng, luyến mộ Như Lai).  

          Trước hết, trần thuật nỗi khổ tâm của thánh nữ. Không phát ra tiếng mà chảy nước mắt là Khấp (泣), tức là khóc thầm. “Chiêm” (瞻) là ngẩng lên nhìn, “luyến” (戀) là quyến luyến, hâm mộ. Lệ đẫm hồi lâu, chiêm ngưỡng, quyến luyến, chẳng rời đi, “mong Phật ắt dạy cho con biết mẹ đã sanh về đâu để độ thoát”. Kinh Quyết Định Tỳ Ni nói: “Phật cáo Xá Lợi Phất: – Nhược trừ Như Lai trí huệ, cánh vô dư thừa nhi đắc độ thoát, đáo ư Niết Bàn, năng thị chúng sanh giải thoát chi đạo, năng linh chúng sanh viễn ly tà đạo, thị hiện thánh đạo. Dĩ thị nghĩa cố, cố danh Như Lai” (Đức Phật bảo Xá Lợi Phất: “Chỉ trừ trí huệ của Như Lai, trọn chẳng do thừa nào khác mà được độ thoát, đạt đến Niết Bàn, có thể dạy cho chúng sanh đạo giải thoát, có thể khiến cho họ xa lìa tà đạo, thị hiện thánh đạo. Do vì nghĩa này mà gọi là Như Lai”). Vì thế, chiêm ngưỡng, luyến mộ, mong sẽ ứng hiện cho con.

 

          (Kinh) Hốt văn không trung thanh viết: “Khấp giả thánh nữ, vật chí bi ai! Ngã kim thị nhữ mẫu chi khứ xứ”.

          ()忽聞空中聲曰泣者聖女勿至悲哀我今示汝母之去處。

          (Kinh: Bỗng nghe không trung có tiếng nói: “Này thánh nữ đang khóc lóc, đừng đau buồn quá mức! Ta nay sẽ dạy cho ngươi biết chỗ mẹ sanh về”).

          Kế đó, trần thuật chuyện tiếng nói trên không trung an ủi, phủ dụ. Đang ngay trong lúc [thánh nữ] sướt mướt, chiêm ngưỡng, luyến mộ, bỗng dưng trong hư không có tiếng an ủi rằng: “Thánh nữ! Đừng buồn khóc, bi ai, quyến luyến quá mức! Ngươi đã hành đại hiếu, dốc sạch của cải trong nhà để cúng dường, khóc lóc, luyến mộ, chiêm ngưỡng, nương cậy, ngấm ngầm mong được cảm thông chỉ dạy chỗ mẹ đã sanh về. Ta là bậc Đại Giác, trọn đủ Nhất Thiết Trí, sẽ dạy ngươi chỗ mẹ đã sanh về, cần gì phải bi ai không ngơi vậy?”

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.2.1.2. Vấn không hà thần (hỏi trên không trung là vị thần nào)

          (Kinh) Bà-la-môn nữ hiệp chưởng hướng không, nhi bạch không viết: “Thị hà thần đức, khoan ngã ưu lự? Ngã tự thất mẫu dĩ lai, trú dạ ức luyến, vô xứ khả vấn, tri mẫu sanh giới”.

          ()婆羅門女合掌向空而白空曰是何神德寬我憂慮我自失母已來晝夜憶戀無處可問知母生界。

          (Kinh: Cô gái Bà-la-môn chắp tay, hướng lên không trung bạch rằng: “Là vị thần đức nào vơi bớt nỗi lo nghĩ cho con? Kể từ khi con mất mẹ đến nay, ngày đêm nghĩ nhớ, không nơi nào để hỏi hòng biết chỗ mẹ sanh về”).

          “Chắp tay hướng lên không trung”: Cảm kích tột bậc, vui mừng cùng cực. Như người đánh mất đồ vật, được chỉ dẫn bèn kiếm lại được; như người lạc đường được dẫn dắt quay về. Ý nghĩa của chữ Thần (神) như đã giải thích trong phần tựa đề kinh. Đức (德) là điều thiện vốn sẵn có, trực tâm là đức, là sự chánh trực vốn sẵn có trong tánh mạng. Vì thế, thuận theo lẽ trời là Thần, đều là bậc thông minh, chánh trực. “Khoan” (寬) là rộng, là thư thả. Trước kia, do nghĩ ngợi chốn mẹ sanh về, lo âu như bị vướng mắc vật gì; nay nghe tiếng nói trên hư không dạy  bảo  chỗ

ấy, như vật thoát khỏi ngực, nhẹ nhàng, thơ thới vậy!

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.2.1.3. Không thanh cáo thị (tiếng nói trên không trung dạy bảo)        

 

          (Kinh) Thời, không trung hữu thanh, tái báo nữ viết: “Ngã thị nhữ sở chiêm lễ giả, quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, kiến nhữ ức mẫu bội ư thường tình chúng sanh chi phần, cố lai cáo thị”.

          ()空中有聲再報女曰我是汝所瞻禮者過去覺華定自在王如來見汝憶母倍於常情眾生之分故來告示。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, trên hư không có tiếng nói, lại bảo thánh nữ rằng: “Ta là người mà ngươi đang chiêm ngưỡng, lễ bái, tức quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, do thấy ngươi nhớ mẹ gấp bội các chúng sanh thường tình, nên đến dạy bảo”).

          Có âm thanh mà không hiện tướng, hiển thị “sanh mà vô sanh”. Không có tướng mà có âm thanh, thị hiện “diệt mà bất diệt”. Nhớ mẹ gấp mấy lần thường tình, khen nàng chí hiếu, cho nên cảm Phật đến dạy bảo. Nhưng mẹ chết mà con tưởng nhớ thì cũng là chuyện đương nhiên. Ngay khi con còn ở trong thai, mẹ đã chịu nỗi khổ mười tháng thai nghén. Tới khi con sanh ra, mẹ nhọc nhằn bú mớm suốt ba năm. Mao Thi[30] có viết: “Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao, vô phụ hà hỗ, vô mẫu hà thị, xuất tắc hàm tuất, nhập tắc mị chí. Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, phủ ngã, súc ngã, trưởng ngã, dục ngã, cố ngã, phúc ngã, xuất nhập phúc ngã. Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực” (Xót thay cha mẹ, sanh ta nhọc nhằn. Không cha cậy ai? Không mẹ nhờ ai? Ta ra khỏi cửa, cha mẹ âu lo. Con về, yên dạ. Cha sanh ra ta, mẹ vỗ về ta, ẵm bồng, bú mớm, nuôi lớn thân ta, chăm sóc cho ta, ra vào bồng bế. Muốn báo ân đức, trời cao khôn thấu). Vì thế, Tăng Tử nói: “Thân dã giả, phụ mẫu chi di thể dã” (Thân ta là hình hài do cha mẹ để lại). Đã cùng là một Thể với cha mẹ, mẹ đã chết, chẳng trở lại nữa, há con chẳng tưởng nhớ mẹ luôn nghĩ đến con ư? Nhưng thánh nữ đã bán nhà để cúng dường, lễ Phật cầu biết [chỗ mẹ sanh về], nhờ phước bố thí để hồi hướng cho mẹ, cậy vào lòng Từ của Phật chỉ dạy nơi chốn. Cố nhiên là hạng thường tình chẳng thể mong sánh bằng, cho nên Phật thị hiện âm thanh trên không trung để bảo chỗ mẹ sanh về. Than ôi! Lòng thuần hiếu động trời, lòng chí thành cảm Phật. Xem ra, vị thánh nữ này hiển nhiên là như thế đấy!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.2.2. Văn thanh tự phác (nghe tiếng bèn gieo mình xuống đất)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.2.2.1. Cầu thuyết mẫu sanh giới (xin nói chỗ mẹ sanh về)

 

          (Kinh) Bà-la-môn nữ văn kỳ thanh dĩ, cử thân tự phác, chi tiết giai tổn, tả hữu phù thị, lương cửu phương tô, nhi bạch không viết: “Nguyện Phật từ mẫn, tốc thuyết ngã mẫu sanh giới. Ngã kim thân tâm tương tử bất cửu”.

          ()婆羅門女聞此聲已舉身自撲支節皆損左右扶侍良久方蘇而白空曰願佛慈愍速說我母生界。我今身心將死不久。

          (Kinh: Cô gái Bà-la-môn nghe tiếng ấy xong, toàn thân tự gieo xuống đất, chân tay đều bị tổn thương, người chung quanh nâng đỡ, hồi lâu mới tỉnh, bèn hướng lên không trung, bạch rằng: “Nguyện Phật từ bi xót thương, mau nói chỗ mẹ con sanh về. Nay con thân tâm không lâu sau sẽ chết”).

          Tình dấy lên bên trong, tiếng cảm bên ngoài, toàn thân gieo sụp xuống lễ bái như Thái Sơn sụp lở! Nôn nóng muốn biết chỗ mẹ sanh về, đâu rảnh để tiếc nuối hình hài, đến nỗi các đốt xương nơi chân tay đều bị tổn hoại mà ngất lịm đi. “Tả hữu phù thị”: “Tả” (Bên trái) là chỗ thiên đạo dấy lên, là nơi địa đạo ngưng nghỉ. [Chữ Tả (左) và chữ Hữu (右)] đều thể hiện ý nghĩa “gần với thân thể” giống như hình thế đưa tay nâng đỡ. Tay trái không thuận tiện, cho nên mang ý nghĩa xa thân [hơn tay phải]. Tay phải thuận thế, dùng sức nhiều hơn. [Trong chữ Hữu] lại thêm chữ Khẩu (口), [nhằm thể hiện ý nghĩa] giúp đỡ lẫn nhau. Do các thị tỳ (những người hầu gái, đầy tớ gái) vốn quanh quẩn bên chủ nhân, nên họ liền nâng [cô chủ] dậy, chăm sóc. Tô (蘇) là chết rồi sống lại. Kinh Hoàng Đình nói: “Lâm tuyệt hô chi diệc phục tô” (Đã chết ngất rồi, kêu gọi bèn tỉnh lại). Theo thói quen thường viết Tô thành “甦” là sai. Đoạn này là vị trùng tuyên kinh thuật chuyện, kế đó là [thánh nữ] xin [đức Phật hãy] nói chỗ mẹ sanh về, nhưng cô ta nóng ruột, xin hãy mau nói, vì tự biết thân tàn, tâm khổ, không lâu sau sẽ chết.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.1.2.2.2.2. Thị phản xá niệm Phật (dạy hãy trở về nhà niệm Phật)

         

          (Kinh) Thời, Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai cáo thánh nữ viết: “Nhữ cúng dường tất, đản tảo phản xá, đoan tọa tư duy ngô chi danh hiệu, tức đương tri mẫu sở sanh khứ xứ”.  

          ()覺華定自在王如來告聖女曰汝供養畢但早返舍端坐思惟吾之名號即當知母所生去處。

          (Kinh: Khi ấy, Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai bảo thánh nữ rằng: “Ngươi cúng dường xong, hãy mau trở về nhà, ngồi ngay ngắn, tư duy danh hiệu của ta, sẽ liền biết chốn mẹ sanh về”).

 

          “Tảo phản xá” (Sớm quay về nhà), “phản” (返) là trở lại. Xét theo Sự, đức Phật bảo cô hãy nhanh chóng quay về nhà. Xét theo pháp, Xá biểu thị Ngũ Ấm, [tức là] dạy cô ta hãy trở lại quán Ngũ Ấm, thì Tâm Vương Trí Độ Mẫu sẽ ngay lập tức tự hiện, cho nên bảo hãy “đoan tọa tư duy”. “Đoan tọa” (端坐) tức là ngồi theo thế Kim Cang Chánh Tọa (Vajrāsana), còn gọi là Toàn Già (Padmāsana, ngồi theo tư thế hoa sen, ngồi kiết già), hoặc Bán Già. Thiền Na (Dhyāna) được gọi là Tư Duy Tu, dụng ý dạy cô ta hãy tu Niệm Phật tam-muội. Vì thế, “ngồi suy nghĩ danh hiệu của ta, sẽ biết ngay chỗ mẹ đã sanh về!”

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2. Thọ giáo niệm Phật, mộng Quỷ Vương chỉ thị (vâng lời dạy niệm Phật, mộng thấy Quỷ Vương chỉ dạy)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.1. Quy xá ức mẫu niệm Phật (về nhà, nhớ mẹ niệm Phật)

 

          (Kinh) Thời, Bà-la-môn nữ tầm lễ Phật dĩ, tức quy kỳ xá. Dĩ ức mẫu cố, đoan tọa niệm Giác Hoa Định Tự Tại  Vương  Như  Lai, kinh

nhất nhật, nhất dạ.

          ()婆羅門女尋禮佛已即歸其舍。以憶母故端坐念覺華定自在王如來經一日一夜。

          (Kinh: Khi ấy, cô Bà-la-môn vừa lễ Phật xong, liền trở về nhà mình. Do vì nhớ mẹ, ngồi ngay ngắn niệm Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai qua một ngày một đêm).

          Vừa lễ xong bèn trở về, biểu thị chuyển mê thành ngộ nhanh chóng. “Niệm” là Quán Huệ. Giác Hoa là tâm Phật (vị Phật ở trong tâm). Do vậy, quán điều này, “mẫu” chính là tâm mẫu, Phật tức tâm Phật. Tâm là mẹ, là Phật, tuy một mà ba, tuy ba mà một. Gì là tâm ta, gì là Phật, hay mẹ vậy thay? Kinh Phổ Hiền Quán dạy: “Nhược dục sám hối giả, đoan tọa niệm Thật Tướng, chúng tội như sương lộ, huệ nhật năng tiêu trừ” (Nếu muốn sám hối, hãy ngồi ngay ngắn, nghĩ tới Thật Tướng, các tội như sương, móc, mặt trời trí huệ có thể tiêu trừ). Vì thế, mặt trời biểu thị sự giác ngộ của thánh nữ chiếu rạng ngời như ban ngày. Đêm biểu thị sự mê muội của người mẹ đang mắc tội, tối tăm như đêm thâu. “Nhất” nói chung là biểu thị cái tâm, là cội gốc của mê và ngộ. Bà mẹ có tội tin theo tà kiến, bị vô minh che lấp cái tâm, xuôi theo trần lao, trái nghịch giác. Thánh nữ cúng dường, chánh trí nhập tâm, hợp cùng giác, trái nghịch trần lao. Tâm vốn là một, do mê hay ngộ mà sai khác!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2. Đáo ngục tri mẫu sanh xứ (đến địa ngục biết chỗ mẹ sanh về)

          Hỏi: Đức Phật chẳng dạy ngay chỗ sanh về, cứ buộc thánh nữ đích thân đến địa ngục là vì lẽ nào?

          Đáp: Ấy là do người đời bị vô minh che lấp, chẳng biết thiện ác nhân quả. Cho nên cậy thánh nữ chính mắt trông thấy chuyện khổ, hòng cảnh tỉnh kẻ ngu độn, ương bướng trong cõi đời. Như trong kinh Chánh Hạnh của bộ A Hàm [có nói] đức Phật tĩnh tọa, nghĩ đến con người do si, cho nên có sanh tử. Sao gọi là Si? Vốn từ si sanh đến, đời này làm người vẫn si! Tâm chẳng giải ngộ, chẳng mở mang, chẳng biết chết rồi sẽ hướng về đâu! Gặp Phật chẳng hỏi, thấy kinh chẳng đọc, thấy sa-môn chẳng thừa sự, thấy cha mẹ chẳng kính, chẳng nghĩ thế gian khổ, chẳng biết trong Nê Lê tra khảo, trừng trị dữ dội, nên gọi là Si. Vì thế, có sanh tử chẳng ngơi! Do vậy, thánh nữ đích thân vào địa ngục, mới biết “ác chớ nên làm, thiện phải nên làm!” Đoạn kinh văn được chia thành ba phần:

          – Đích thân đến cái biển có địa ngục.

          – Quỷ Vương đón chào, tán thán.

          – Hỏi đáp về chuyện trong ngục.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.1. Thân đáo ngục hải (đích thân đến chỗ cái biển có địa ngục)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.1.1. Kiến ngục hải ác tướng (thấy tướng ác trong biển địa ngục)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.1.1.1. Ác thú phi trì thực đạm (ác thú bay đuổi, ăn nuốt)

 

          (Kinh) Hốt kiến tự thân, đáo nhất hải biên. Kỳ thủy dũng phí, đa chư ác thú, tận phục thiết thân, phi tẩu hải thượng, đông tây trì trục. Kiến chư nam tử, nữ nhân, bách thiên vạn số, xuất một hải trung, bị chư ác thú, tranh thủ thực đạm.

          ()忽見自身到一海邊。其水涌沸多諸惡獸盡復鐵身飛走海上東西馳逐。見諸男子女人百千萬數出沒海中被諸惡獸爭取食噉。

          (Kinh: Bỗng thấy thân mình đến một bờ biển. Nước biển sôi trào, có nhiều ác thú, toàn thân bằng sắt, bay, chạy trên mặt biển, đuổi bắt đông, tây. Thấy các người nam, kẻ nữ, số đến trăm, ngàn, vạn, thoạt chìm, thoạt nổi trong biển, bị các ác thú giành nhau bắt lấy ăn nuốt).

          Đoạn này tường thuật: Trong Định, thấy tướng nơi cõi âm. Tự đến bên bờ biển là thần thức xuất từ Định [mà đến đó]. Nước biển sôi trào, ác thú bay chạy, đều là cảnh tương tự từ trong thức tâm, theo nghiệp mà phát khởi. Đấy là do sự thức của chúng sanh tạo tội đến nỗi mắc những khổ báo ấy. Kinh Lăng Già nói: “Thí như cự hải lãng, tư do mãnh phong khởi, hồng ba cổ minh hác, vô hữu đoạn tuyệt thời” (Thí như sóng biển lớn, là do gió mạnh thổi, sóng to vỗ hang tối, chẳng lúc nào ngừng nghỉ). Há chẳng phải là do trong biển tạng thức nổi gió, dậy sóng, cho nên nay cảm biển nghiệp sôi sục như canh đang sôi. Ác thú và Dạ Xoa cũng từ nghiệp cảm. Do khi còn sống đã buông lung tham, sân, si, lại còn tạo đủ giết, trộm, dâm, dối, cho nên tới địa ngục, cảnh giới tự hiện. Nếu thấu đạt cảnh, tâm rỗng rang, biển cũng tự lặng. Tâm lẫn cảnh đều lặng, không chuyện gì chẳng chiếu. Giống như biển cả không có gió, sâm la rạng ngời minh bạch. Kinh Bảo Tích nói: “Nhất thiết pháp hư vọng như mộng, dĩ duy niệm cố” (Hết thảy các pháp đều hư vọng như mộng, chỉ là niệm). Vì thế biết là nếu thấu đạt duy tâm, các cảnh sẽ như huyễn hóa!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.1.1.2. Dạ Xoa hình dị úy thị (quỷ Dạ Xoa hình dáng lạ lùng, trông đáng sợ)

 

          (Kinh) Hựu kiến Dạ Xoa, kỳ hình các dị, hoặc đa thủ, đa nhãn, đa túc, đa đầu, khẩu nha ngoại xuất, lợi nhẫn như kiếm, khu chư tội nhân, sử cận ác thú. Phục tự bác quặc, đầu túc tương tựu. Kỳ hình vạn loại, bất cảm cửu thị.

          ()又見夜叉其形各異或多手多眼多足多頭口牙外出利刃如劍驅諸罪人使近惡獸。復自搏攫頭足相就。其形萬類不敢久視。

          (Kinh: Lại thấy Dạ Xoa hình dáng mỗi tên mỗi khác, hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu, răng chìa ra ngoài miệng, bén nhọn như gươm, xua đuổi các tội nhân đến gần bọn ác thú. Lại còn tự tay tóm bắt khiến họ đầu và chân quặp vào nhau. Hình dáng vạn loại, chẳng dám nhìn lâu).

 

          Dạ Xoa (Yakşa) có nghĩa là Tật Tiệp (疾捷, nhanh nhẹn), tức là quỷ trong địa ngục. Đầu của chúng như trâu, ngựa, sư tử, voi, hổ, báo, sói, hình thù mỗi con quỷ mỗi khác. Hoặc là có hai tay, cho đến ngàn tay; hoặc chỉ có một mắt, cho đến ngàn mắt. Đầu và chân cũng phỏng theo đó [mà biết]. Răng nanh chìa ra ngoài miệng, môi túm ngược lên, lộ cả chân răng, răng sắc bén như mũi dao, nhọn hoắt tựa gươm. Sách Pháp Uyển Châu Lâm nói: “Đầu trâu, trợn mắt hung ác; ngục tốt nhe răng hung hăng” là nói về chuyện này. “Xua đuổi tội nhân đến gần thú dữ” là để cho chúng nó ăn nuốt. Bác (搏) là dùng tay tóm lấy. Quặc (攫) là dùng móng vuốt giữ lấy, hoặc quăng chụp. Trang Tử nói: “Tay trái chụp lấy”. Ở đây là nói đến các loài Dạ Xoa không chỉ xua đuổi tội nhân đến gần bọn ác thú cho chúng nó ăn, lại còn dùng tay chụp, vươn móng vuốt nắm giữ, khiến cho tội nhân đầu và chân quặp vào nhau, trở thành hình thể rúm ró, đùa bỡn với thân hình của họ, hoặc có thể lúc làm cho thân họ to ra, hoặc ép nhỏ lại, hoặc vo nặn cho ngắn củn lại, hoặc kéo duỗi dài ra, tung ngang, ném dọc, trong khoảnh khắc muôn thứ [hành hạ], chẳng thể nhìn lâu! Đấy chính là do tâm biến khởi, chẳng chân thật! Như Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh có nói: “Diêm Ma La nhân, thị phi chúng sanh. Tội nhân kiến chi, vị thị chúng sanh. Thủ trung chấp trì diễm nhiên thiết kiềm. Bỉ địa ngục nhân ác nghiệp ký tận, bất phục kiến Diêm La ngục tốt, như du chú tận, tắc vô hữu đăng. Nghiệp tận diệc nhĩ, bất phục kiến ư Diêm La ngục tốt” (Người trong cõi Diêm Ma La chẳng phải là chúng sanh, nhưng tội nhân trông thấy, cho đó là chúng sanh, [thấy họ] trong tay cầm nắm kìm sắt cháy rực. Những tội nhân trong địa ngục khi ác nghiệp đã hết, chẳng còn thấy ngục tốt Diêm La nữa, như dầu và bấc đã cháy hết, chẳng còn đèn nữa! Nghiệp hết cũng giống như thế, chẳng còn thấy Diêm La ngục tốt). Nay ác nghiệp của chúng sanh chưa hết, tự nhiên là từ trong không có gì mà hư vọng thấy [như thế đó].

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.1.2. Niệm Phật lực vô cụ (do sức niệm Phật bèn chẳng sợ hãi)

 

          (Kinh) Thời, Bà-la-môn nữ, dĩ niệm Phật lực cố, tự nhiên vô cụ.

          ()婆羅門女以念佛力故自然無懼。

          (Kinh: Khi ấy, cô Bà-la-môn do sức niệm Phật, tự nhiên chẳng sợ hãi).

          “Dĩ” (以) là “vì, do bởi”. Do sức niệm Phật, tuy thấy các thứ hình dáng [kinh khủng], tự nhiên không sợ hãi. Ấy là vì biết các cảnh do tâm, tâm do cảnh hiện. Tâm đã vốn là không, cảnh cũng làm sao có? Tâm tình đã mất, sợ hãi do đâu mà sanh? Trong kinh Tâm Địa Quán, đức Phật bảo ngài Văn Thù rằng: “Thí như tùng lâm mông mật mậu thịnh, sư tử, bạch tượng, hổ, lang, ác thú, tiềm trụ kỳ trung, độc phát hại nhân, huýnh tuyệt hành tích. Thời hữu trí giả, dĩ hỏa thiêu lâm, chư đại ác thú, vô phục di dư. Tâm không, kiến diệt, diệc phục như thị” (Ví như rừng rậm, um tùm, tươi tốt, sư tử, voi trắng, cọp, sói, ác thú, ẩn nấp trong ấy, tỏa chất độc hại người mất bặt dấu vết. Khi ấy, có người trí dùng lửa đốt rừng, các loài ác thú to chẳng còn sót gì. Tâm không, kiến diệt, cũng giống như thế). Lại như kinh Ma Ha Diễn Bảo Nghiêm nói: “Thí như họa sư, tác quỷ thần tượng, tức tự khủng cụ. Như thị Ca Diếp, chư phàm ngu nhân tự tạo sắc, thanh, hương, vị, tế, hoạt chi pháp, luân chuyển sanh tử. Bất tri thử pháp, diệc phục như thị” (Ví như thợ vẽ tạo ra hình tượng quỷ thần rồi tự sợ hãi. Này Ca Diếp, cũng như thế đó, những kẻ phàm ngu tự tạo ra các pháp sắc, thanh, hương, vị, mịn, trơn rồi luân chuyển trong sanh tử, chẳng biết những pháp ấy cũng giống như thế). Nay thánh nữ hiểu rõ hết thảy các pháp đều là do ý mà sanh ra hình tượng, do tâm mà hiện tướng, biết tâm như huyễn, chẳng có ý nghĩa nhất định, những gì ta thấy sai khác đều tùy tâm sanh diệt. Đã biết là như huyễn, há còn sợ hãi ư?

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.2. Quỷ vương nghênh tán (Quỷ vương đón tiếp, tán thán)

 

          (Kinh) Hữu nhất Quỷ Vương, danh viết Vô Độc, khể thủ lai nghênh, bạch thánh nữ viết: “Thiện tai Bồ Tát! Hà duyên lai thử?”

          ()有一鬼王名曰無毒稽首來迎白聖女曰善哉菩薩何緣來此

          (Kinh: Có một Quỷ Vương, tên là Vô Độc, đảnh lễ đến đón tiếp, bạch với thánh nữ: – Lành thay Bồ Tát! Do duyên gì mà đến nơi đây?)

 

          “Độc” (毒) là hại. Trong cõi đời, có một loài cỏ hại người, được gọi là Đồ Mãng (荼莽, thuộc loại dây leo dại), pháp hại người được gọi là Tam Độc. Vị quỷ vương này ôm lòng thương xót chúng sanh, quyền biến hiện thân quỷ, tâm chẳng độc hại, nên có danh hiệu tốt lành ấy để biểu thị. Nhưng trong kinh văn phần trước có [danh hiệu quỷ vương] Nhiếp Độc, phần sau có Ác Độc. Tuy cùng tên là Độc, nhưng dụng ý đều khác biệt; bởi lẽ, họ vốn lợi người, chẳng sai khác!

Lễ Ký chép: “Hú chi, ẩu chi, Xuân Hạ sở dĩ sanh trưởng dã. Sương chi, tuyết chi, Thu Đông sở dĩ thành thục dã, mạc phi thiên chi giáo dã” (Sở dĩ Xuân và Hạ ấm áp là vì [để cho muôn vật] sanh trưởng. Thu Đông có sương, tuyết để [ngũ cốc, trái cây] chín muồi, không gì chẳng là sự dạy bảo của trời vậy).  

          “Khể thủ” (稽首) là dùng đầu chạm đất (dập đầu lạy) trong chốc lát. Quỷ Vương lạy để tiếp đón vì trông thấy thánh nữ hình tướng phi phàm, oai nghi khác hẳn mọi người, suy đoán người này chẳng do mang tội mà đến, ắt là nhờ thần thông mà tới. Vì thế nói: “Lành thay Bồ Tát! Do duyên gì mà đến nơi đây?” Chữ Sa Độ (Sadhu) trong tiếng Phạn, cõi này dịch là Thiện Tai (lành thay), chính là pháp môn của Hoan Hỷ Vương Bồ Tát. Nếu hành nhân hằng ngày đối trước Phật xưng niệm một ngàn lượt, sẽ đạt được tâm thanh tịnh, được hết thảy Như Lai khen ngợi, tất cả các pháp đều được thành tựu. Chuyện này được chép tường tận trong bộ Thí Thực Thuyên Thứ Hương Nhũ Ký.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3. Vấn đáp ngục xứ (hỏi đáp về nơi chốn của địa ngục)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1. Thông vấn địa ngục hữu vô (hỏi chung là có địa ngục hay không)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.1. Lược vấn đáp (hỏi đáp đại lược)

 

          (Kinh) Thời, Bà-la-môn nữ, vấn Quỷ Vương viết: “Thử thị hà xứ?” Vô Độc đáp viết: “Thử thị Đại Thiết Vi sơn, Tây diện đệ nhất trùng hải”.  

          ()婆羅門女問鬼王曰此是何處無毒答曰此是大鐵圍山西面第一重海。

          (Kinh: Khi ấy, cô gái Bà-la-môn hỏi Quỷ Vương rằng: “Đây là chỗ nào?” Vô Độc đáp rằng: “Đây là tầng biển thứ nhất ở phía Tây núi Đại Thiết Vi”).

          Trước hết, thánh nữ hỏi [nơi đây] là chỗ nào, là lời lẽ kinh nghi, vì nơi này khác với [những nơi chính mình] thường thấy. Kế đó, Quỷ Vương đáp lời. Chữ Chá Ca La (Cakravāda-parvata) trong tiếng Phạn, được dịch là Luân Sơn, hoặc dịch theo lối cũ là Thiết Vi. “Vi” (圍) có nghĩa là “vây quanh”. Theo kinh Trường A Hàm, hoặc kinh Khởi Thế v.v… chính giữa bốn đại châu là núi Tu Di (Sumeru). Bên ngoài núi Tu Di có tám rặng núi khác. Cho đến ngoài núi là biển nước mặn, rộng rãi không ngằn mé. Ngoài biển có núi, chính là Đại Thiết Vi sơn. Theo Lập Thế A Tỳ Đàm Luận, ngoài biển nước mặn lớn có núi, tên là Thiết Vi, [chân] núi chìm sâu trong nước đến ba trăm mười hai do-tuần, phần nổi lên trên mặt nước cũng thế, cũng rộng dường ấy. Từ phía Nam của Diêm Phù Đề, cách núi Thiết Vi ba ức sáu vạn sáu trăm sáu mươi ba do-tuần. Từ núi Thiết Vi, nước mở rộng đến phía cực Tây, vùng nước được bao bọc bởi núi Thiết Vi có đường kính là mười hai ức hai ngàn tám trăm hai mươi lăm do-tuần. Chu vi của vùng nước vây phủ núi Thiết Vi là ba mươi sáu ức tám ngàn bốn trăm bảy mươi lăm do-tuần. Tầng biển thứ nhất nằm ở trong đó (theo các kinh luận, cung của vua Diêm La ở ngoài ranh giới, cho nên biển nghiệp cũng thế, tức là Hàm Thủy Nê Lê được nói trong kinh Nê Lê vậy).

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2. Quảng vấn đáp (hỏi đáp chi tiết)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.1. Vấn đáp địa ngục hữu vô (hỏi đáp địa ngục có hay không)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.1.1. Vấn đáp địa ngục sự thật phủ (hỏi đáp địa ngục có phải là sự thật hay không)

         

          (Kinh) Thánh nữ vấn viết: “Ngã văn Thiết Vi chi nội, địa ngục tại trung, thị sự thật phủ?” Vô Độc đáp viết: “Thật hữu địa ngục”.

          ()聖女問曰我聞鐵圍之內地獄在中是事實不無毒答曰實有地獄。

          (Kinh: Thánh nữ hỏi rằng: “Tôi nghe nói trong núi Thiết Vi, địa ngục ở trong đó, có phải là sự thật hay không?” Vô Độc đáp rằng: “Thật có địa ngục”).

          Trước tiên là thánh nữ hỏi: “Tôi nghe kinh nói trong núi Thiết Vi có địa ngục, có phải là thật hay không?” Kế đó, Quỷ Vương đáp: “Chuyện ấy chân thật chẳng dối”. Ấy là vì địa ngục vốn hư huyễn, con người tự biến địa ngục thành thật! Như trong kinh Thiết Thành Nê Lê, đức Phật răn các sa-môn rằng: “Ngã dĩ thiên nhãn, thị thiên hạ nhân sanh tử hảo xú, đắc hảo đạo giả, đắc ác đạo giả, nhân ư thế gian, thân tác ác, khẩu ngôn ác, tâm niệm ác, thường háo phanh sát, từ tự quỷ thần giả, thân tử đương nhập Nê Lê trung” (Ta dùng thiên nhãn thấy người trong thiên hạ sống chết, tốt, xấu, được sanh vào đường lành, được sanh vào đường ác là vì người ta ở trong thế gian, thân làm ác, miệng nói lời ác, tâm nghĩ chuyện ác, thường thích giết chóc để nấu nướng, cúng tế quỷ thần, thân chết đi sẽ vào trong Nê Lê), há chẳng phải là tự biến địa ngục thành sự thật ư?

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.1.2. Vấn đáp ngã hà đáo ngục (hỏi đáp vì sao tôi đến địa ngục được)

 

          (Kinh) Thánh nữ vấn viết: “Ngã kim vân hà đắc đáo ngục sở?” Vô Độc đáp viết: “Nhược phi oai thần, tức tu nghiệp lực. Phi thử nhị sự, chung bất năng đáo”.

          ()聖女問曰我今云何得到獄所無毒答曰若非威神即須業力。非此二事終不能到。

          (Kinh: Thánh nữ hỏi rằng: “Nay tôi vì sao đến chỗ địa ngục?” Vô

Độc đáp rằng: “Nếu chẳng do oai thần, thì phải do nghiệp lực. Chẳng do hai chuyện ấy, trọn chẳng thể đến được”).

          Thoạt đầu, thánh nữ kinh nghi, tự nghĩ địa ngục là chốn lao ngục bắt giữ tội nhân. Tôi tự xét lòng, kính tin Tam Bảo, một thân vô tội, do duyên gì mà nay tôi cũng đến chốn địa ngục này? Kế đó, Quỷ Vương đáp: “Phàm những ai đến đây thì có hai loại người: Một là người có oai đức, thần thông, hoặc vì cứu độ, hoặc vì đến thăm. Hai là kẻ ác nghiệp chín muồi, đáng chịu thân địa ngục, do vậy mà đến. Trừ hai loại đó ra, trọn chẳng có ai có thể đến được!”

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.1.3. Vấn đáp ngục hải khổ cảnh (hỏi đáp về cảnh khổ trong biển địa ngục)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.1.3.1. Ước cảnh nghi vấn (xét theo cảnh mà nổi lòng nghi hỏi han)

 

          (Kinh) Thánh nữ hựu vấn: “Thử thủy hà duyên, nhi nãi dũng phí, đa chư tội nhân, cập dĩ ác thú?”

          ()聖女又問此水何緣而乃涌沸多諸罪人及以惡獸

          (Kinh: Thánh nữ lại hỏi: Do duyên gì mà nước biển sôi sùng sục, có nhiều tội nhân và ác thú vậy?)

          Đây là trần thuật cảnh giới trông thấy tại ven biển. [Hỏi về] nước biển là hỏi chung. “Hà duyên” (Duyên gì) là từ ngữ nghi vấn. [Thánh nữ] nghi hoặc, một là do duyên gì mà nước này sôi trào? Hai là nghi do duyên gì mà trong nước biển có nhiều tội nhân? Ba là nghi do duyên gì mà tại ven nước biển có nhiều loài ác thú? Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, đấy đều là do tự nghiệp của các chúng sanh ấy cảm vời, tạo mười tập nhân (tập khí làm cái nhân), thọ sáu giao báo. Nước sôi sùng sục vì mạn tập (tập khí kiêu mạn), phát khởi thành sự dựa dẫm, rong ruổi chẳng ngơi. Vì thế có chuyện tung vọt lên, rảo chạy, tích sóng thành nước; cũng do tập khí cuồng ngạo khinh khi lẫn nhau, đến nỗi có các chuyện như chết chìm, tung quật, bay lên, rơi xuống, phiêu giạt. Ác thú là do xúc báo mà chuốc vời ác quả. Vì thế dẫn đến thần thức [của tội nhân] trông thấy, nhận biết [địa ngục có các hình tướng như] thành sắt lớn, rắn lửa, chó lửa, hổ, sói, sư tử v.v… là do như thế đó.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.1.3.2. Cứ sự trực đáp (theo sự việc mà trả lời thẳng thừng)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.1.3.2.1. Chánh đáp (đáp thẳng vào câu hỏi)   

 

          (Kinh) Vô Độc đáp viết: “Thử thị Diêm Phù Đề, tạo ác chúng sanh, tân tử chi giả, kinh tứ thập cửu nhật hậu, vô nhân kế tự, vị tác công đức, cứu bạt khổ nạn. Sanh thời hựu vô thiện nhân, đương cứ bổn nghiệp, sở cảm địa ngục, tự nhiên tiên độ thử hải”.

          ()無毒答曰此是閻浮提造惡眾生新死之者經四十九日後無人繼嗣為作功德救拔苦難。生時又無善因當據本業所感地獄自然先渡此海。

          (Kinh: Vô Độc đáp rằng: – Đây là chúng sanh tạo ác trong Diêm Phù Đề, là những kẻ mới chết, sau bốn mươi chín ngày mà không có người nối dõi vì họ làm công đức để cứu dẹp khổ nạn. Lúc sống lại chẳng có nhân lành, cứ theo nghiệp của họ mà cảm vời địa ngục, tự nhiên qua cái biển này trước).

          “Diêm Phù Đề”: Kinh Trường A Hàm nói: “Tu Di sơn Nam, hữu thiên hạ danh Diêm Phù Đề, kỳ thổ Nam hiệp, Bắc quảng, tung quảng thất thiên do-tuần. Hữu đại thụ vương, danh Diêm Phù Đề, vi thất do-tuần, cao bách do-tuần, chi diệp tứ bố ngũ thập do-tuần” (Phía Nam núi Tu Di có thiên hạ gọi là Diêm Phù Đề. Cuộc đất ấy phía Nam hẹp, phía Bắc rộng, kích thước là bảy ngàn do-tuần. Có một thụ vương to tên là Diêm Phù Đề, chu vi bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá xòe ra bốn phía, rộng năm mươi do-tuần). Kinh Khởi Thế nói hơi khác. “Tạo ác chúng sanh” tức là kẻ tạo đủ Thập Ác. Chữ Cưu Na La (Kunāla) trong tiếng Phạn được cõi này dịch là Ác Nhân, cũng chẳng phải là người tốt. Có thể diệt các căn thì gọi là Tử. Vì thế, kinh Niết Bàn nói: “Tử giả, xả sở thọ thân, hữu nhị chủng: Nhất giả, mạng tận tử, hữu tam: Nhất, mạng tận, phi thị phước tận. Nhị, phước tận, phi thị mạng tận. Tam, phước mạng câu tận. Nhị giả, ngoại duyên tử, diệc hữu tam: Nhất, phi phận tự hại tử. Nhị, hoạnh vi tha tử. Tam, câu tử. Phục hữu tam chủng tử: Nhất, phóng dật tử. Nhị, phá giới tử. Tam, hoại mạng căn tử” (Chết là bỏ cái thân đã thọ. Có hai loại: Một là chết vì mạng đã hết, [trong loại này] lại có ba loại: Một là mạng hết, chẳng phải là phước hết. Hai là phước hết, chẳng phải là mạng hết. Ba là phước lẫn mạng đều hết. Hai là do ngoại duyên mà chết, cũng có ba loại: Một là chẳng phải đến số mà tự hại chết. Hai là chết ngang xương vì bị kẻ khác hại chết. Ba là chết vì cả hai nguyên nhân ấy. Lại có ba loại chết: Một là chết vì buông lung. Hai là chết vì phá giới. Ba là chết vì mạng căn bị hư hoại).

          “Bốn mươi chín ngày”: Theo Du Già Sư Địa Luận, người đã chết bèn có thân Trung Hữu (Trung Hữu chính là Trung Ấm Thân (Antarā-bhava). Nếu là người cực thiện liền sanh về Tịnh Độ, hay sanh lên trời. Kẻ cực ác liền đọa địa ngục. [Hai hạng người ấy] đều không trải qua thân Trung Ấm. Nếu thiện ác bất định, liền thọ thân Trung Ấm, phải trải qua các ty trong cõi âm). Nếu chưa có duyên tái sanh, tối đa là [thân Trung Ấm] tồn tại bảy ngày, chết rồi lại sanh [một thân Trung Ấm khác]. Sống chết xoay vần như thế, tới bốn mươi chín ngày, quyết định được tái sanh. Nếu có duyên được sanh [trước khi tròn bốn mươi chín ngày] thì không nhất định. Sách Thích Thị Yếu Lãm nói: “Nay đối với người chết, cứ mỗi bảy ngày, ắt phải lo liệu cỗ chay để tạo phước cho người đã mất, gọi là “trai thất”, khiến cho trong thời gian ấy, [người mất sẽ] có chủng tử chẳng chuyển sanh trong đường ác”. Nay sau khi đã trải qua bốn mươi chín ngày, hoàn toàn chẳng có người kế tục, thừa tự vì người đã mất làm công đức, khiến cho người ấy được diệt ác, sanh thiện, ai sẽ cứu bạt khổ nạn? Đấy là nói những người đã chết, không có người thân vì mình tạo phước trong cõi âm, ắt sẽ đến nỗi đọa trong cảnh khổ.

          Kế đó là nói người đã chết lúc còn sống tự mình chẳng tu mảy may điều thiện nào, ắt sẽ phải đọa trong cảnh khổ. Cho đến khi vua cõi âm tra xét, so lường thiện ác, sẽ căn cứ theo nghiệp [do kẻ ấy] đã tạo từ trước thì kẻ đáng đọa vào địa ngục ắt sẽ vào địa ngục. Kinh Na Tiên Tỳ Kheo Sở Vấn nói: “Nhân sở tác thiện ác tùy nhân, như hình ảnh tùy thân. Nhân tử, đản vong kỳ thân, bất vong kỳ hạnh. Thí như nhiên hỏa dạ thư, hỏa diệt tự tồn, hỏa chí phục thành. Kim thế tác hạnh, hậu thế thành chi” (Chuyện thiện ác do một người đã làm sẽ đi theo người đó, như hình bóng theo thân. Người chết, chỉ mất cái thân, chứ những gì đã làm chẳng mất. Ví như ban đêm đốt lửa viết chữ, lửa tắt, chữ còn. Thắp lửa lên, chữ lại hiện ra. Những gì đời này đã làm sẽ thành [cái quả] trong đời sau) là nói về ý này. “Tự nhiên” [thể hiện] ý nghĩa trọn chẳng có nhờ cậy, miễn cưỡng. Diêm Vương quở trách tội nhân: “Tội do chính ngươi tạo, nay phải hứng chịu”. Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Nhữ tà kiến ngu si, si quyến sở phược nhân, kim đọa thử địa ngục, tại ư đại khổ hải” (Ngươi tà kiến, ngu si, lưới si trói buộc người, nay đọa trong địa ngục này, ở trong biển khổ lớn). Vì thế nói là “tự nhiên tiên độ thử hải” (tự nhiên trải qua cái biển này trước).

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.1.3.2.2. Chỉ loại (chỉ dạy các loại địa ngục)

 

          (Kinh) Hải Đông thập vạn do-tuần, hựu hữu nhất hải, kỳ khổ bội thử. Bỉ hải chi Đông, hựu hữu nhất hải, kỳ khổ phục bội.

          ()海東十萬由旬又有一海其苦倍此。彼海之東又有一海其苦復倍。

          (Kinh: Ở phía Đông của biển này, cách đây mười vạn do-tuần, lại có một cái biển, sự khổ gấp bội nơi đây. Phía Đông của biển đó, lại có một biển nữa, sự khổ gấp bội).

          Trong phần trước đã nói [chỗ thánh nữ gặp quỷ vương Vô Độc] là tầng biển thứ nhất ở phía Tây núi Thiết Vi, đã bao hàm hai tầng này. “Sự khổ tăng gấp bội”: Kinh Nê Lê nói: “Hàm thủy Nê Lê tung hoành sổ thiên lý thủy, hàm thủy như diêm, nhiệt phí dũng dược. Thủy trung hữu điểu, uế như thiết sanh, trác nhân cơ, giảo nhân cốt, nhân bất năng nhẫn thị thống, tiện độ thủy khứ. Thủ Nê Lê quỷ ngôn: ‘Tử ác nhân, nhữ hà đẳng cầu sách?’ Nhân ngôn: ‘Ngã khổ cơ khát’. Quỷ tức dĩ câu, câu kỳ thượng hạ ngân, khẩu giai tha khai. Phục dĩ tiêu đồng, quán nhập khẩu trung, thần thiệt yết phúc giai tiều tận, đồng tiện hạ khứ. Kỳ nhân bất năng phục nhẫn, hoàn nhập phí hàm thủy trung. Kỳ nhân bình sanh, ư thế gian tác ác thậm, cố cầu giải bất đắc giải, tùy ba thượng hạ, hồi phục trầm một. Kỳ khổ bội tăng, khả thắng ngôn tai” (Địa ngục nước mặn có kích thước đến mấy ngàn dặm nước, nước mặn như muối, nóng sôi sùng sục. Trong nước có chim, mỏ như bằng sắt, mổ bắp thịt con người, nhai xương người, tội nhân chẳng thể chịu nổi sự đau đớn ấy, liền vượt nước mà chạy. Quỷ giữ Nê Lê nói: ‘Những kẻ ác đã chết kia, ngươi tìm cầu điều gì?’ Người nói: “Tôi khổ sở vì đói khát”. Quỷ liền dùng cái móc, móc vào nướu răng trên và dưới để vạch miệng [tội nhân] ra, lại dùng nước đồng sôi rót vào trong miệng, môi, lưỡi, họng, bụng đều cháy rụi, nước đồng liền chảy xuống dưới. Người ấy chẳng chịu nổi nữa, lại gieo mình vào nước mặn đang sôi sục. Kẻ ấy khi sống, ở trong thế gian làm ác quá đáng, cho nên cầu được thoát khỏi mà chẳng thể thoát khỏi, dập dềnh theo sóng, nổi lên, chìm xuống. Nỗi khổ  tăng  gấp  bội, sao  có thể nói trọn cho được).

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.1.3.2.3. Kết danh (kết lại tên gọi)

 

          (Kinh) Tam nghiệp ác nhân chi sở chiêu cảm, cộng hiệu “nghiệp hải”, kỳ xứ thị dã.

          ()三業惡因之所招感共號業海其處是也。

          (Kinh: Do cái nhân cả ba nghiệp đều ác cảm vời, cùng gọi là “biển nghiệp”, chính là chỗ này vậy).

          “Tam nghiệp ác nhân” chính là ba chi thân, khẩu, ý trong mười ác nghiệp. Do vì cái nhân ấy, chuốc lấy quả báo trong biển địa ngục. Nhưng chiêu là tự chiêu, cảm là tự cảm. Kinh Hưng Khởi Hạnh nói: “Tiên thế tự tạo thử duyên, yếu đương thọ chi, vô khả đào tỵ xứ” (Đời trước đã tự tạo duyên này thì sẽ phải hứng chịu, không có chỗ trốn tránh). Điều này đúng lắm, cũng chẳng do cha làm, mẹ làm, vua làm, trời làm, mà cũng chẳng do sa-môn, Bà-la-môn làm ra; vốn do ta tự tạo, nay tự hứng chịu. Vì thế, đức Phật dạy chúng sanh có hai điều trọng yếu: Một là làm cái gì sẽ hứng chịu cái đó. Hai là chẳng làm cái gì thì không bị hứng chịu cái đó.  

Tội cấu khổ não trong năm đường của tam giới chẳng lìa hành vi tạo tác, hết thảy đều chẳng phải là bỗng dưng mà có! Tội phước đã tạo như bóng theo hình, như tiếng vang ứng với âm thanh, chẳng hề mất đi như râu tóc. Vì thế, ba nơi ấy đều gọi là Nghiệp Hải. Trước kia thánh nữ đã từng nghe nói, nay đích thân đến chỗ này.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.1.2.2. Vấn đáp địa ngục hà tại (hỏi đáp địa ngục ở chỗ nào)

 

          (Kinh) Thánh nữ hựu vấn Quỷ Vương Vô Độc viết: “Địa ngục hà tại?” Vô Độc đáp viết: “Tam hải chi nội thị đại địa ngục. Kỳ số bách thiên, các các sai biệt”.

          ()聖女又問鬼王無毒曰地獄何在無毒答曰三海

之內是大地獄。其數百千各各差別。

          (Kinh: Thánh nữ lại hỏi quỷ vương Vô Độc rằng: “Địa ngục ở chỗ nào?” Vô Độc đáp rằng: “Trong ba cái biển là đại địa ngục, số đến trăm ngàn, mỗi ngục mỗi khác”).

 

          Trước hết, thánh nữ hỏi: “Đã nói trong núi Thiết Vi thật sự có địa ngục, nay vì sao chỉ thấy biển nghiệp, chẳng biết địa ngục lại ở chỗ nào?” Tiếp đó, Quỷ Vương đáp: – Ở trong ba cái biển, chính là đại địa ngục, há có phải là bỏ nơi này mà có nơi nào khác ư? Đấy là do chúng sanh từ trong biển tạng thức nổi gió, cuộn trào sóng Tam Độc, cho nên cảm địa ngục ở ngay trong ba cái biển! Nhưng khảo cứu các kinh luận, [thì thấy] có thể dùng ba loại để gồm thâu trọn hết các thứ địa ngục: Một là nhiệt, hai là hàn, ba là biên. Tám nhiệt ngục ở phía dưới châu Diêm Phù Đề, chất chồng lên nhau, chịu nỗi khổ não vì nóng. Tám hàn ngục ở chân núi Thiết Vi, được sắp xếp ngửa lên, chịu đựng nỗi khổ rét cóng. Biên ngục thì có ba loại: Ở giữa núi, ở trong nước, và nơi đồng hoang, hứng chịu nghiệp báo riêng biệt. Loại này ứng với sự hứng chịu lạnh, nóng xen lẫn! Nay nói “đại ngục mười tám chỗ”, lại nói năm trăm chỗ, trăm ngàn chỗ là vì lẽ nào? Ấy là nói ước định nơi chốn, như trong phần trên đã nói, nói theo chỗ bất định, chẳng ngại cùng nêu chánh ngục và biên ngục, hứng chịu hàn nhiệt xen lẫn. Nếu không, chánh địa ngục và biên địa ngục dùng gì để phân biệt ư? “Ba cái biển” là nói chung. Tám địa ngục lạnh và tám địa ngục nóng, mỗi ngục đều có mười sáu du tăng địa ngục[31], đại lược là một trăm ba mươi sáu ngục, nói rộng thì số đến trăm ngàn!

          “Các các sai biệt” (Mỗi ngục mỗi khác): Tạo nghiệp thì đều có nặng, nhẹ. Nặng thì [chịu tội] trọn khắp [trong mỗi ngục ấy], trung (chẳng nhẹ chẳng nặng) thì chẳng trọn khắp, bậc hạ thì lại giảm bớt. Số kiếp [thọ tội] phải trải qua thì cũng có dài ngắn [khác nhau]!

 

          (Kinh) Sở vị: Đại giả cụ hữu thập bát, thứ hữu ngũ bách, khổ độc vô lượng. Thứ hữu thiên bách, diệc vô lượng khổ.

          ()所謂大者具有十八次有五百苦毒無量。次有千百亦無量苦。

          (Kinh: Nói tới địa ngục lớn thì có mười tám chỗ. Kế đó có năm trăm chỗ, khổ độc vô lượng. Kế đó có trăm ngàn ngục, cũng là vô lượng khổ).

 

          Từ “sở vị” trở đi là phần giải thích riêng. “Địa ngục lớn có mười tám chỗ”, có hai cách giải thích:

          – Một là dựa theo kinh Vấn Địa Ngục, mười tám vị vua làm chủ thống lãnh mười tám địa ngục, tức là: Một là Ca Diên cai quản ngục Nê Lê, cho đến vị thứ mười tám là Quán Thân cai quản ngục Dương Đồng (nước Đồng Sôi). Tức là đối với các ngục có kể tên vị chủ ngục thì hạn cuộc trong con số mười tám.

          – Nếu dựa theo kinh Quán Phật Tam Muội Hải, địa ngục A Tỳ có mười tám tiểu địa ngục. Trong mỗi tiểu địa ngục, đều có mười tám hàn băng địa ngục, hắc ám tiểu nhiệt, cho đến Ẩm Đồng (uống nước đồng sôi), mỗi chỗ đều có mười tám ngục. Như vậy là trong đại địa ngục A Tỳ có mười tám địa ngục ấy. Trong mỗi ngục, lại có riêng mười tám ngăn, bắt đầu từ Hàn Băng cho đến Ẩm Đồng, tổng cộng là ba trăm bốn mươi hai ngăn địa ngục.

          Nay do kinh ấy coi địa ngục A Tỳ là lớn nhất, cho nên coi chuyện mỗi ngục có mười tám ngục nhỏ là nhỏ. Nay kinh này nói “lớn thì có mười tám chỗ” thì có lẽ là do chẳng so với A Tỳ, cho nên mỗi ngục đều được gọi là “đại”. Chẳng hạn như các vị vua trong thế gian, nếu chẳng so với thiên tử, ai nấy đều xưng là “đại vương”. Nếu so với bậc chí tôn thì đều xưng là tiểu vương cả. Kinh nói khác nhau, chẳng cần phải giải thích gượng ép. Kế đến có năm trăm ngục, cũng là con số nhất định. Nhưng kinh Quán Phật Tam Muội bèn nói: Năm trăm ức địa ngục Kiếm Lâm (劍林, rừng gươm), Thích Lâm (刺林, rừng đâm thọc, rừng gai góc), Đồng Trụ (銅柱, cột đồng), Thiết Cơ (銕機, máy sắt), Thiết Võng (銕網, lưới sắt), mỗi loại đều là năm trăm ức. Như vậy là số lượng giữa hai kinh khác biệt rất xa, cũng chẳng cần miễn cưỡng dung hội.

          “Khổ độc vô lượng”: Theo kinh Nê Lê, đức Phật dạy: “Dục tri cần khổ tối bất khả nhẫn giả, độc hữu Nê Lê. Nê Lê giả, cực khổ bất khả cụ ngôn. Như thế nghịch tặc, vị trưởng lại sở bộ, tương chí vương tiền, bị tam bách mâu, ninh độc thống phủ? Tỳ-kheo đáp viết: ‘Nhân bị nhất sang, cử thân giai thống, hà hống bị tam bách sang’. Phật ngôn: – Nê Lê trung thống, dữ mâu sang thống, ức ức vạn bội, thượng bất như Nê Lê thống. Địa ngục chi trung, ngục quỷ gia thống, độc vô bất chí dã” (“Muốn biết chỗ khổ sở khó thể chịu đựng nhất thì chỉ có Nê Lê. Nê Lê có nghĩa là khổ sở cùng cực, chẳng thể nói trọn! Như kẻ giặc phản nghịch trong cõi đời, bị quan trên bắt được, đưa tới trước vua, bị đâm ba trăm ngọn mâu, có đau đớn hay không?” Tỳ-kheo đáp rằng: “Người ta bị một vết thương, toàn thân đều đau, huống hồ bị ba trăm vết thương”. Đức Phật dạy: “Nỗi đau đớn trong Nê Lê so với sự đau đớn vết thương do bị mâu đâm ức ức vạn lần, vẫn chẳng bằng nỗi đau trong Nê Lê! Trong địa ngục, nỗi đau do ngục quỷ hành hạ tàn độc không gì chẳng trọn thấu!”). Trăm ngàn ngục cũng là vô lượng khổ, so ra thì nỗi khổ trong năm trăm ngục giảm bớt đôi chút, nhưng nỗi khổ thế gian đem so với nỗi khổ ấy thì vạn phần chẳng bằng, khổ đến vô lượng! Phần hỏi tổng quát về địa ngục có hay không đã xong.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2. Chánh vấn ngã mẫu sanh giới (hỏi về chỗ mẹ tôi sanh về)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.1. Thánh nữ vấn mẫu sanh thú (thánh nữ hỏi mẹ sanh về đường nào)

 

          (Kinh) Thánh nữ hựu vấn đại Quỷ Vương viết: – Ngã mẫu tử lai vị cửu, bất tri hồn thần đương chí hà thú?

          ()聖女又問大鬼王曰我母死來未久不知魂神當至何趣

          (Kinh: Thánh nữ lại hỏi đại Quỷ Vương rằng: – Mẹ tôi chết chưa lâu, chẳng biết hồn thần sẽ đi vào đường nào?)

          Tứ Phần Luật nói: “Nhất thiết chư thế giới, vô hữu bất lão tử, chúng sanh thị thường pháp, sanh sanh giai quy tử” (Trong hết thảy các thế giới, không có thế giới nào chẳng có già, chết. Pháp thường hằng của chúng sanh là đời đời đều sẽ chết). Mẹ tôi tuy chết chưa lâu, trọn chẳng biết hồn thần nay đã đi vào đường nào? Thiên sách Tế Nghĩa [trong Lễ Ký] giảng: “Khí là Thần hưng vượng, Hồn là quỷ hưng vượng”. Kinh Đạo giáo nói: “Hồn là Thần của Khí, Phách là Thần của Tinh, Dương thần là Nhật Hồn, Âm thần là Nguyệt Phách”. Đạo Phật của chúng ta gọi hồn thần là thức thứ tám. Kinh Pháp Cú dạy: “Thị thân vi tử vật, tinh thần vô hình pháp, tự tác thọ khổ lạc, thân tử thần bất táng. Thức thần tạo tam giới, thiện, bất thiện, tam xứ, Ấm hành nhi mặc chí, sở vãng như hưởng ứng” (Thân này là vật chết, tinh thần không hình, pháp. Tự tạo, chịu khổ vui. Thân chết, thức chẳng chết. Thần thức tạo tam giới, thiện, bất thiện, ba chỗ. Ấm, Hành lặng lẽ đến, chỗ đến như tiếng vọng). Do vậy biết là ắt phải theo nghiệp mà đi vậy.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.  Quỷ  Vương  trưng  kỳ  lai  lịch (Quỷ Vương gạn hỏi hành vi của bà ta)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.1. Vấn đáp hạnh nghiệp (hỏi đáp về hạnh nghiệp)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.1.1. Vấn (hỏi han)

 

          (Kinh) Quỷ Vương vấn thánh nữ viết: – Bồ Tát chi mẫu, tại sanh tập hà hạnh nghiệp?

          ()鬼王問聖女曰菩薩之母在生習何行業

          (Kinh: Quỷ Vương hỏi thánh nữ rằng: – Mẹ của Bồ Tát khi còn sống quen làm hạnh nghiệp gì?)

          “Hạnh” là tiến đến. Nghiệp là tạo tác, tức là ba nghiệp tạo nên chuyện thiện hay ác. Kinh Pháp Cú dạy: “Tùy kỳ sở tạo nghiệp, tội phước hữu quả báo. Ác nghiệp đọa địa ngục, thiện nghiệp sanh thiên thượng. Cao hạnh sanh thiện đạo, đắc vô lậu Niết Bàn” (Tùy theo nghiệp đã tạo, tội phước có quả báo. Ác nghiệp đọa địa ngục, thiện nghiệp sanh lên trời. Cao hạnh sanh thiện đạo, đạt vô lậu Niết Bàn). Chẳng biết mẹ của Bồ Tát làm hạnh nghiệp gì nơi ba nghiệp?

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.1.2. Đáp

          (Kinh) Thánh nữ đáp viết: – Ngã mẫu tà kiến, cơ hủy Tam Bảo. Thiết hoặc tạm tín, toàn hựu bất kính. Tử tuy nhật thiển, vị tri sanh xứ.

          ()聖女答曰我母邪見譏毀三寶。設或暫信旋又不敬。死雖日淺未知生處。

          (Kinh: Thánh nữ đáp rằng – Mẹ tôi tà kiến chê gièm, hủy báng Tam Bảo. Dẫu có tạm tin, rồi lại bất kính. Tuy chết chưa lâu, chẳng biết sanh về đâu?)

 

          Thánh nữ đáp rằng: Mẹ tôi chấp trước tà kiến, chê bai, hủy báng Tam Bảo. Thành Thật Luận nói: “Ninh chỉ bất hành, vật hành tà đạo. Thân hoại mạng chung, đọa ư ác thú” (Thà thôi không làm, đừng hành theo tà đạo. Khi thân hoại, mạng hết, sẽ đọa trong đường ác). Hơn nữa, chẳng giữ lòng thường hằng, chẳng lập tánh quyết định, đôi khi nghe theo lời khuyên mà tạm tin tưởng, thoáng chốc lại theo bọn tà mà chê bai, hủy báng. Nay tuy chết chưa lâu, xét ra, ắt sẽ đọa vào nghiệp khổ. Vì thế, tôi nóng lòng muốn tìm biết chỗ mẹ tôi sanh về mà chẳng thể được!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2. Vấn đáp tánh thị (hỏi đáp về chủng tánh, họ tên)         

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2.1. Vấn

 

          (Kinh) Vô Độc vấn viết: – Bồ Tát chi mẫu, tánh thị hà đẳng?

          ()無毒問曰菩薩之母姓氏何等

          (Kinh: Vô Độc hỏi rằng: – Mẹ của Bồ Tát chủng tánh, tên họ như thế nào?)

 

          [Tại Trung Hoa], “tánh” là xét theo trăm đời thuộc về dòng họ nào. “Thị” là để nhận biết nguồn gốc của con cháu[32]. Tại đất Ấn, có bốn tộc tánh (Varṇa, chủng tánh, giai cấp chánh): Một là Sát-đế-lợi (Kṣatriyaḥ), tức dòng dõi vua chúa. Hai là Bà-la-môn (Brahmin), tức tịnh hạnh. Ba là Phệ-xa (Vaishya), cựu dịch là Tỳ-xá, tức thương nhân. Bốn là Tuất-đà-la (Shudra), cựu dịch là Thủ-đà, tức là đại chúng. Hai tộc tánh trước cao quý, hai tộc tánh sau hèn mọn. Nay chẳng rõ mẹ của Bồ Tát thuộc tộc tánh gì, có họ là gì, là hèn hạ hay cao quý. Hiểu rõ tộc tánh và tên họ, sẽ dễ tra xét; do vậy, ắt phải hỏi tộc tánh và dòng họ.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2.2. Đáp

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2.2.1. Trực đáp tánh thị (trả lời thẳng về tộc tánh và dòng họ)

 

          (Kinh) Thánh nữ đáp viết: – Ngã phụ, ngã mẫu, câu Bà-la-môn chủng. Phụ hiệu Thi La Thiện Hiện, mẫu hiệu Duyệt Đế Lợi.

          ()聖女答曰我父我母俱婆羅門種。父號尸羅善現母號悅帝利。

          (Kinh: Thánh nữ đáp rằng: – Cha và mẹ tôi đều thuộc chủng tánh Bà-la-môn. Cha tên là Thi La Thiện Hiện, mẹ là Duyệt Đế Lợi).

          “Phụ” là Phủ (甫)[33] [hàm nghĩa] người khởi đầu sanh ra ta; Mẫu là Mạo (冒) [ý nói] “chứa đựng, sanh dưỡng ta”. [Cha mẹ của thánh nữ] đều thuộc chủng tánh Bà-la-môn, tự nhiên là chấp tà, báng chánh. Ngoại đạo ở Tây Thiên (Ấn Độ) chuyên chấp trước “chủng tánh Bà-la-môn tôn quý bậc nhất”, như kinh Phạm Chí Át Ba La Diên Vấn Chủng Tôn nói: “Bổn sơ khởi địa thượng nhân thời, giai thị ngã tào Bà-la-môn chủng. Ngã tào chủng tối tôn, sơ tùng khẩu trung xuất, thế nhân tùng hạ xuất. Ngã chủng, thị đệ thất Phạm thiên tử tôn. Phật phản ngôn thiên hạ nhất chủng, trì ngã tào chủng dữ Sát-đế-lợi, điền gia, công sư chủng đẳng! Ngã tào tử, giai sanh Phạm Thiên, Phật phản trì ngã tào dữ phàm nhân đẳng? Phật ngôn: – Ngã kinh trung dĩ thi hành vi bổn. Thi hành thiện giả, tối vi đại chủng. Kỳ thiên hạ tôn quý giả, giai thi hành thiện đắc, bất dĩ chủng đắc dã” ([Phạm Chí cật vấn]: “Lúc ban sơ mới có loài người trên mặt đất, đều là chủng tánh Bà-la-môn của chúng tôi. Chủng tánh của chúng tôi tôn quý nhất, thoạt đầu từ miệng [của Đại Phạm Thiên] sanh ra. [Sau đó], các chủng tánh khác sanh từ những phần dưới [của thân Đại Phạm Thiên]. Chúng tôi là con cháu của vị Phạm Thiên thứ bảy, Phật nói ngược ngạo thiên hạ là một chủng tánh, coi chủng tánh của chúng tôi ngang hàng với Sát-đế-lợi, nông dân, thợ thuyền… Chúng tôi chết đi, đều sanh lên trời Phạm Thiên, Phật lại ngược ngạo bảo chúng tôi bình đẳng với những kẻ bình phàm!” Đức Phật dạy: “Trong kinh của ta, coi hành vi là gốc. Kẻ làm lành là chủng tánh tôn quý nhất. Những người tôn quý trong thiên hạ đều do làm lành mà đạt được, chẳng vì chủng tánh của họ!”)

          Thi La (Śīla) trong tiếng Phạn, được dịch là Tánh Thiện, do thích hành thiện đạo, chẳng tự buông lung. Thiện Hiện là chữ Hán, tiếng Phạn là Tu Bồ Đề (Subhūti). Duyệt Đế Lợi chưa rõ. Danh hiệu của họ đều tốt đẹp, nhưng đều giữ lòng tà. Đại Trí Độ Luận nói: “Do tà kiến là tội nặng, dẫu trì giới, thân, khẩu, nghiệp… tốt đẹp, nhưng đều thuận theo ác tâm, tà kiến, như gieo hạt cây đắng, sẽ đều có vị đắng. Kẻ tà kiến dẫu trì giới, tinh tấn, đều thành ác pháp. Chẳng bằng không chấp mà hành huệ thí (bố thí bằng trí huệ)”. Huống hồ mẹ của thánh nữ trong tâm chấp trước tà kiến, bên ngoài thì thường chê bai, hủy báng ư? Nhưng Quỷ Vương hỏi về chủng tánh, tên họ của mẹ, thánh nữ nêu tên cha trước là vì vợ thường được gọi tên theo chồng vậy!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2.2.2. Quỷ Vương ủy thuyết sanh thiên (Quỷ Vương nói tường tận mẹ thánh nữ đã sanh lên trời)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2.2.2.1. Chánh thuyết kỳ do (nói thẳng vào nguyên do)

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2.2.2.1.1. Nguyện thánh giả phản bổn (xin đức thánh hãy quay về)

 

          (Kinh) Vô Độc hiệp chưởng, khải Bồ Tát viết: – Nguyện thánh giả khước phản bổn xứ, vô chí ưu ức bi luyến.

          ()無毒合掌啟菩薩曰願聖者卻返本處無至憂憶悲戀。

          (Kinh: Vô Độc chắp tay thưa với Bồ Tát rằng: – Xin đức thánh hãy trở về chỗ mình, đừng lo âu, thương nhớ, buồn bã, quyến luyến quá mức).

          Chắp tay nhằm biểu hiện oai nghi chúc mừng, an ủi. “Phản bổn xứ”: Chỗ này chẳng phải là nơi Bồ Tát nên ở. Thoạt đầu, Ngài vì mẹ mà tới, nay đã biết rồi, hãy nên lập tức quay về chỗ mình ở, chẳng cần phải lo âu, thương nhớ, xót xa, quyến luyến nữa!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2.2.2.1.2. Minh tội nữ sanh  thiên (nói rõ tội nữ đã sanh lên trời)

 

          (Kinh) Duyệt Đế Lợi tội nữ, sanh thiên dĩ lai, kinh kim tam nhật. Vân thừa hiếu thuận chi tử, vị mẫu thiết cúng, tu phước bố thí Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai tháp tự.

          ()悅帝利罪女生天以來經今三日。云承孝順之子

為母設供修福布施覺華定自在王如來塔寺。

          (Kinh: Tội nữ Duyệt Đế Lợi từ khi sanh lên trời đến nay đã là ba ngày. Nghe nói nhờ đứa con hiếu thuận, vì mẹ cúng dường, tu phước bố thí nơi chùa tháp của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai).

          Quỷ Vương đáp rằng: “Thoạt đầu, tôi không biết là ai; chứ nếu là tội nữ Duyệt Đế Lợi thì đã thoát khổ, sanh lên trời được ba ngày rồi!” Sau đó, chỉ ra nguyên do sanh thiên: Do đứa con hiếu thuận cúng dường, tu phước nơi chùa, tháp của Như Lai. Khéo phụng sự cha mẹ là Hiếu, hiếu đứng đầu trăm hạnh, là cái tâm tốt lành chân thật, thiết tha nhất. Thân ta chẳng từ trên trời rơi xuống, chẳng từ dưới đất sanh ra. Vì thế, chẳng thể nào không thân thiết với cha mẹ. Tổ sư nói: “Phụ mẫu phi ngã thân, thùy thị tối thân giả” (Cha mẹ chẳng phải là người thân của ta, ai là người thân thiết nhất). “Thuận” là chẳng trái nghịch. Tăng Tử nói: “Hiếu tử chi dưỡng thân dã, lạc dự kỳ tâm, bất vi kỳ chí, lạc kỳ nhĩ mục, an kỳ tẩm thực” (Con hiếu phụng dưỡng cha mẹ, đoán biết sẵn những điều làm cho cha mẹ vui lòng, chẳng trái nghịch ý chí của họ, khiến cho cha mẹ vui tai, sướng mắt, sắp đặt yên ấm chuyện ăn ngủ cho cha mẹ). Vì thế, kinh Phạm Võng nói: “Hiếu thuận, chí đạo chi pháp” (Hiếu đạo là pháp đạo tột bậc). Sách Hiếu Kinh Viện Thần Khế[34] viết: “Nguyên khí hỗn độn, hiếu ở trong đó. Vì thế, tâm tình kính yêu thân ái đáng nên vâng giữ”. [Nhưng thời cổ, tại Trung Hoa] đạo hiếu chỉ để dạy con trai, chẳng dạy con gái. Nay thánh nữ thoạt đầu khuyên mẹ hãy chánh tín, trong khoảng giữa thì cúng dường cảm Phật, cuối cùng là mẹ nhờ phước được sanh lên trời, có thể nói là cô ta đã có thể khuyên dụ mẹ hướng về đạo, cứu mẹ thoát khổ, một thân trọn đủ pháp thế gian và xuất thế gian, cái danh hiếu thuận trọn khắp pháp giới chẳng mòn, trải bao kiếp nhiều như cát mà chẳng mất vậy!

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2.2.2.1.3. Thị đồng tội thọ lạc (chỉ ra những người cùng chịu khổ đều được hưởng vui)

         

          (Kinh) Phi duy Bồ Tát chi mẫu đắc thoát địa ngục, ưng thị Vô Gián tội nhân, thử nhật tất đắc thọ lạc, câu đồng sanh ngật.

          ()非唯菩薩之母得脫地獄應是無間罪人此日悉得受樂俱同生訖。

          (Kinh: Không chỉ mẹ Bồ Tát được thoát địa ngục, mà ngay cả những tội nhân trong ngục Vô Gián, trong ngày hôm ấy đều được hưởng vui, đều cùng sanh lên trời cả rồi).

          Ngục lớn Vô Gián thành sắt nhốt kín, mờ mịt, âm u, khó có dịp ân xá. Nay do phước lực bố thí giúp cho mẹ của chính mình mà mẹ được sanh lên trời; thiện duyên trong lúc ấy khiến cho những kẻ cùng nghiệp [trong địa ngục] cũng được hưởng vui lây. Lòng hiếu thảo tột cùng, phước lực rộng lớn! Đúng là tấm gương báo đền ân mẹ, thật sự là khuôn phép để giúp cõi âm vậy.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.3.2.2.2.2.2.2. Ngôn tất nhi thoái (nói xong bèn lui)

 

          (Kinh) Quỷ Vương ngôn tất, hiệp chưởng nhi thoái.

          ()鬼王言畢合掌而退。

          (Kinh: Quỷ Vương nói xong, chắp tay lui ra).

          Nói xong, chắp tay, kính trọng, ngưỡng mộ tột bậc, lòng hiếu cảm động người khác sâu xa. Phần nói về những chuyện thuộc nhân hạnh đã xong.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.1.2. Hiển sở phát hoằng nguyện (hiển thị hoằng nguyện đã phát)

 

          (Kinh) Bà-la-môn nữ tầm như mộng quy, ngộ thử sự dĩ, tiện ư Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai tháp tượng chi tiền, lập hoằng thệ nguyện: “Nguyện ngã tận vị lai kiếp, ưng hữu tội khổ chúng sanh, quảng thiết phương tiện, sử linh giải thoát”.

          ()婆羅門女尋如夢歸悟此事已便於覺華定自在王

如來塔像之前立弘誓願願我盡未來劫應有罪苦眾生廣設方便使令解脫。

          (Kinh: Cô Bà-la-môn như vừa tỉnh giấc mộng, đã hiểu chuyện ấy rồi, liền đối trước tượng trong tháp thờ đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, lập thệ nguyện rộng lớn: “Nguyện con đến hết kiếp vị lai, nếu có chúng sanh tội khổ, con sẽ rộng lập phương tiện khiến cho họ giải thoát”).

          “Tầm” (尋) là vừa mới, [ý nói] trong khoảnh khắc, ngay lập tức trở lại như cũ; tức là trong khoảnh khắc bèn như vừa trở về từ giấc mộng. Mộng là cảnh hiện trong giấc ngủ, bị vô minh che lấp. Nhưng ngủ mơ là do tâm động, động là do Thức ở bên trong, cảnh là do từ bên ngoài huân tập. Nay do cô ta suy tưởng chỗ mẹ sanh về, cho nên cảm Phật hiện thần thông. Đã ngộ sự cảm ứng do mộng, đạo tâm ngay lập tức phát khởi. Vì thế, liền đối trước tôn tượng, lập Tứ Hoằng Thệ Nguyện, từ ngày nay cho đến tột cùng đời vị lai, nếu có ai tạo tội chịu khổ, bất luận kẻ oán hay người thân, tôi đều rộng lập pháp phương tiện, khiến cho họ đều giải thoát khỏi cảnh trầm luân hết cả! Đấy chính là hoằng nguyện tối sơ, là phần dẫn khởi cho phần Chánh Tông.

 

3.1.2.2.3.2.2.2.2.2. Kết hội cổ kim (kết lại để dung hội xưa và nay)

         

          (Kinh) Phật cáo Văn Thù Sư Lợi: – Thời Quỷ Vương Vô Độc giả, đương kim Tài Thủ Bồ Tát thị, Bà-la-môn nữ giả, tức Địa Tạng Bồ Tát thị.

          ()佛告文殊師利時鬼王無毒者當今財首菩薩是婆羅門女者即地藏菩薩是。

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi: – Quỷ Vương Vô Độc khi ấy nay là Tài Thủ Bồ Tát, cô gái Bà-la-môn chính là Địa Tạng Bồ Tát).

 

          “Tài” là thứ được mọi người cùng quý báu, bởi không có tiền tài sẽ nghèo túng. Cổ nhân nói: “Thậm hỹ! Bần chi vi bệnh dã” (Đúng lắm thay! Nghèo là bệnh). Nhưng những món quý báu được phàm tục trân quý chính là thứ chuốc phiền quyến họa; chỉ có pháp bảo từ đầu đến cuối luôn được an ổn. Kinh Tịnh Danh nói: “Phú hữu thất bảo tài, giáo thọ dĩ tư tức. Thất tài giả, nhất Tín, nhị Giới, tam Đa Văn, tứ Xả, ngũ Huệ (thử ngũ vi Bảo), lục Tàm, thất Quý (thử nhị vi thủ tài nhân)” (Giàu có bảy thứ tài bảo, truyền dạy để dứt trừ những [nỗi khổ hoạn] ấy. Thất tài: Một là Tín, hai là Giới, ba là Đa Văn, bốn là Xả, năm là Huệ (năm thứ này là của báu), sáu là Tàm, bảy là Quý (hai thứ này là người gìn giữ tài bảo). Nhưng đối với bảy món tài bảo ấy, Tín đứng đầu. Do Tín nên trì giới, do thiện nên đa văn, do đa văn nên có thể xả, do xả bèn sanh huệ. Vì thế, Tín đứng đầu các thánh tài. Xưa kia, [quỷ vương] có tên là Vô Độc, cố nhiên hành Thập Thiện Đạo. Nay nêu ra danh hiệu Tài Thủ, đủ chứng tỏ Ngài [tối thiểu] thuộc địa vị Thập Tín. Nếu xét theo lục luân trong kinh Anh Lạc để phán định địa vị thì Thiết Luân ứng với Thập Tín, Đồng Luân ứng với Thập Trụ, Ngân Luân ứng với Thập Hạnh, Kim Luân ứng với Thập Hồi Hướng, Lưu Ly Luân ứng với Thập Địa, Ma Ni Luân ứng với Đẳng Giác và Diệu Giác, đều cùng tôn Ma Ni đứng đầu. Như vậy thì Tài Thủ thuộc hàng Đẳng Giác vậy! Vì sao biết thế? Theo kinh Quán Phật Tam Muội, trong đời quá khứ xưa kia có Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Sau khi Ngài diệt độ, có vương tử tên là Kim Tràng, kiêu mạn, tà kiến, chẳng tin Phật pháp. Khi ấy, có tỳ-kheo tên là Định Tự Tại, bảo vương tử rằng: “Trong đời có tượng Phật, tột bậc khả ái, Ngài có thể tạm thời vào tháp xem hình tượng Phật”. Vương tử liền cùng vào trong tháp, thấy tướng hảo của Phật, bạch rằng: “Tượng Phật đoan nghiêm đến thế, huống hồ đức Phật thật!” Tỳ-kheo nói: “Ngài thấy tượng chẳng lễ, hãy nên chắp tay xưng Nam-mô Phật”. Vương tử liền chắp tay xưng Phật. Trở về cung, nghĩ đến tượng, cuối đêm bèn mộng thấy, hoan hỷ bỏ tà kiến, quy y Tam Bảo. Do thiện căn vào tháp xưng niệm Phật, mạng chung gặp chín trăm vạn ức na-do-tha Phật, đạt được Niệm Phật tam-muội rất sâu, chư Phật hiện tiền, vì vương tử thọ ký. Từ đấy trở đi, trải qua trăm vạn A-tăng-kỳ kiếp, chẳng đọa ác đạo. Cho đến ngày nay, đạt được Thủ Lăng Nghiêm Định rất sâu. Vị vương tử xưa kia, nay là Tài Thủ Bồ Tát. Đức Phật đã nói Bồ Tát đắc Thủ Lăng Nghiêm Định rất sâu, nếu chẳng phải là Đẳng Giác thì là gì vậy?

          Xưa kia, cô gái Bà-la-môn do rộng hành hiếu đạo, thành thân Địa Tạng. Vì thế, hạnh hiếu theo chiều dọc tràn lấp trời đất, theo chiều ngang phô khắp bốn biển, thực hiện mãi đến đời sau chẳng phân sáng tối, tỏa rộng tựa hồ biển Đông. Phương Tây, Nam, Bắc cũng giống như thế. Vì thế, trên là từ đế vương, dưới là đến thứ dân, sang, hèn tuy khác, hành hiếu đều giống hệt như nhau. Như đất là chỗ để muôn vật nương tựa, như kho tàng là chỗ để muôn người thọ dụng. Vì thế biết danh hiệu Địa Tạng toàn là danh hiệu hiếu thuận. Đấy là do ngài Văn Thù thưa hỏi nhân địa của ngài Địa Tạng, [đức Phật] bèn nêu đại lược, khái quát đôi nét tiêu biểu như thế, há có thể nói trọn hết được ư?

 

Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú

(Phần 2)

Hết

 

» Chú thích:

[1] Ở đây, pháp sư Linh Thừa lại phiên âm chữ này  thành  Tỳ  Lê  Da (毗梨耶), không phải là Tỳ Ly Da (毗離耶) như trong phần chánh kinh.

[2] Thất Phương Tiện ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa:

  1. Bảy địa vị Thanh Văn trước khi đạt đến địa vị Kiến Đạo, tức Ngũ Đình Tâm Quán, Biệt Tướng Niệm Trụ, Tổng Tướng Niệm Trụ, Noãn Pháp, Đảnh Pháp, Nhẫn Pháp, Thế Đệ Nhất Pháp.
  2. Bảy địa vị chưa rốt ráo ở ngoài Viên Giáo theo cách phán giáo của tông Thiên Thai, tức là nhân thừa, thiên thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa, và các địa vị Bồ Tát thuộc Tạng, Thông, Biệt Giáo.

[3] Trịnh Huyền (127-200), tự là Khang Thành, người huyện Cao Mật, thuộc quận Bắc Hải (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), là một bậc kinh học đại sư chuyên chú giải các kinh điển Nho gia trong thời Đông Hán.

[4] Thi Tử (tên thật là Thi Giảo) người nước Tấn, là một triết gia kiêm chính trị gia sống vào thời Xuân Thu Chiến Quốc. Ông vốn là môn hạ của Thương Ưởng (nhà chính khách theo chủ trương Pháp Trị). Thi Tử chủ trương thuyết chánh danh.

[5] Chúng tôi dịch câu này theo cách giảng của pháp sư Tịnh Giới.

[6] Dịch theo lối mới (Tân Dịch), tức là tuân theo cách phiên âm và dịch nghĩa do ngài Huyền Trang đề xướng; những cách phiên âm chữ Phạn trước thời ngài Huyền Trang gọi là Cựu Dịch.

[7] Thùy Dụ Ký là tác phẩm do pháp sư Cô Sơn Trí Viên biên soạn để chú thích bộ Tịnh Danh Lược Sớ của Tổ Thiên Thai.

[8] Tướng Luật Cảm Thông Truyện do ngài Đạo Tuyên Luật Sư biên soạn vào đời Đường, ghi chép về những vấn đáp giữa ngài Đạo Tuyên và một vị trời thị giả của Ngài.

[9] Nghiệp Sớ là tên gọi tắt của bộ Tứ Phần Luật Yết Ma Sớ do Sơ Tổ của Nam Sơn Luật Tông là ngài Đạo Tuyên soạn dưới đời Đường Thái Tông. Do Yết Ma (Karma) còn dịch là Nghiệp, nên bộ Sớ này thường được gọi tắt là Nghiệp Sớ.

[10] Sách này có tên gọi đầy đủ là Thích Thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn do tổ Trí Giả đại sư trước tác, chia thành mười chương, phân tích Thiền Ba La Mật theo quan điểm của tông Thiên Thai.

[11] Tám sắc theo tổ Thiên Thai trong Thiền Môn Pháp Yếu là địa, thủy, hỏa, phong, xanh, vàng, đỏ, trắng.

[12] Sở dĩ gọi là “thánh nhân phàm phu” vì từ Sơ Trụ Bồ Tát trở lên mới được coi là thánh nhân xuất thế gian.

[13] Vị này chính là thần Shiva trong Ấn Độ giáo.

[14] Theo Đại Thừa Quảng Ngũ Uẩn Luận, “Đối” có nghĩa là ngăn ngại. Như vậy, Khả Kiến Khả Đối Sắc là những thứ Sắc có thể thấy bằng mắt thường, nhưng khi bị vật chất ngăn ngại thì sẽ không thấy. Chẳng hạn như một quyển sách nếu được bọc kín trong bao bì, ta không thể thấy được; nhưng khi lột bỏ bao bì, ta có thể thấy quyển sách. Do vậy, sách là Khả Kiến Khả Đối Sắc. Bất Khả Kiến Khả Đối Sắc là những sắc chất không thể thấy bằng mắt thường, nhưng chúng có thể bị ngăn ngại. Chẳng hạn như mùi hương hay âm thanh đều là sắc chất, không thể thấy bằng mắt thường, nhưng chúng có thể bị ngăn ngại. Bất Khả Kiến Vô Đối Sắc là những sắc chất không thể thấy bằng mắt thường, không bị các sắc chất khác ngăn ngại. Loại này còn gọi là Vô Biểu Sắc, sanh bởi hữu biểu nghiệp, tức là những nghiệp có thể biểu hiện qua thân và ngữ.

[15] Địa Hạ Thiên là những vị thần sống dưới mặt đất như các loài rồng, các vị thần kỳ, Diêm Vương v.v…

[16] Thuận Chánh Lý là tên gọi tắt của bộ A Tỳ Đạt Ma Thuận Chánh Lý Luận (Abhidharma-Nyāyānusāriṇī) do ngài Chúng Hiền (Saṃghabhadra) thuộc Nhất Thiết Hữu Bộ trước tác. Bộ luận này được ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán thành hai mươi chín quyển trong niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường.

[17] Vô Tài Ngạ Quỷ: Loại ngạ quỷ này hoàn toàn không ăn uống được, hoàn toàn bị vây hãm trong sự đói khát triền miên. Dẫu có được thức ăn, vừa muốn ăn thì thức ăn bèn biến thành lửa cháy hừng hực. Vô Tài Ngạ Quỷ lại chia thành ba loại: 1) Cự Khẩu (Diệm Khẩu, nuốt thức ăn vào miệng bèn biến thành lửa). 2) Châm Khẩu (bụng rất to, cổ họng nhỏ tí như cái kim). 3) Xú Khẩu (miệng lở loét, hư nát, hôi thối).

Thiểu Tài Ngạ Quỷ chỉ ăn được thức ăn rất ít, lại là thức ăn bất tịnh, nên gọi là Thiểu Tài. Loại này lại chia thành ba loại: 1) Châm Mao (loài quỷ thân có lông cứng nhọn như kim). 2) Xú Mao là loài quỷ thân đầy lông, rất hôi thối, tỏa sức nóng thiêu đốt ruột gan. 3) Anh Quỷ tức loài ngạ quỷ cổ họng sanh bướu lớn, nung đốt, đau đớn khó kham.

Đa Tài Quỷ lại chia thành ba loại: 1) Hy Từ Quỷ là các quỷ có phước đức, được loài người cúng tế thực phẩm, tiền giấy… 2) Hy Khí Quỷ là các quỷ hưởng dụng những thứ vật thực do người ta vất đi, hoặc ăn những thứ đờm rãi, ói mửa, tinh khí của con người. 3) Đại Thế Quỷ là hàng đại lực quỷ vương như Dạ Xoa, La Sát v.v… Họ có thần thông và phước đức, có thể giáng họa, ban phước cho loài người.

[18] Trích Hoa Sao là tên gọi tắt của tác phẩm Vu Lan Bồn Kinh Trích Hoa Sao do ngài Cô Sơn Trí Viên biên soạn.

[19] Bác Vật Chí là bộ sách gồm mười quyển do Trương Hoa soạn vào đời Tấn ghi chép những kiến thức về núi, sông, địa lý, các loài chim, cá, côn trùng, thảo mộc, thần tiên, phương thuật, truyền thuyết lịch sử.

[20] Đây là cách gọi miệt thị của người Hán đối với các dân tộc sống chung quanh Trung Nguyên, Nhung (戎) là những sắc dân không phải người Hán sống ở phía Bắc Trung Hoa, Man (蠻) là các sắc dân ở phương Nam, Di (夷) ở phương Đông, Địch (狄) ở phương Tây.

[21] Dật Nhã là tên gọi khác của bộ sách Thích Danh do Lưu Hy biên soạn vào thời Đông Hán. Đây là tác phẩm thuộc loại Huấn Hỗ Học, chuyên giải thích ý nghĩa của các từ ngữ, cùng một thể loại với Thuyết Văn Giải Tự.

[22] Ngũ Nhạc là năm quả núi được coi là trấn giữ, phân định Trung Nguyên xưa, bao gồm:

– Đông Nhạc, tức Thái Sơn (còn gọi là Đại Sơn), thuộc thành phố Thái An, tỉnh Sơn Đông.

– Tây Nhạc, tức Hoa Sơn (còn gọi là Thái Hoa Sơn, Hoa Âm Sơn), thuộc tỉnh Thiểm Tây.

– Bắc Nhạc, tức Hằng Sơn (còn gọi là Đại Mậu Sơn, Thường Sơn), thuộc tỉnh Hà Bắc.

– Nam Nhạc, tức Hành Sơn (còn gọi Thiên Trụ Sơn, Hoắc Sơn, Hoàn Sơn, Tiềm Sơn), thuộc tỉnh An Huy.

– Trung Nhạc, tức Tung Sơn, thuộc tỉnh Hà Nam.

[23] Hậu Thổ là thần đất của Trung Hoa, cai quản tất cả các vị Địa Kỳ, Xã Tắc, Quốc Xã, Sơn Thần, Thành Hoàng, thần thổ địa các nơi. Đạo giáo phong tặng mỹ hiệu cho vị này là Thừa Thiên Hiệu Pháp Hậu Đức Quang Đại Hậu Thổ Địa Kỳ, được xếp ngang hàng với Ngọc Hoàng Đại Đế, Thiên Hoàng Đại Đế, Tử Vi Đại Đế, Trường Sanh Đại Đế, và Thanh Hoa Đại Đế, gọi chung là Lục Ngự. Tại Đài Loan, Hậu Thổ được đồng nhất với Địa Mẫu.

[24] Hậu Tắc họ Cơ tên Khí, người xứ Tắc Sơn (nay là huyện Tắc Sơn, thuộc Vận Thành, tỉnh Sơn Tây). Ông có tài trồng trọt, giữ chức y quan thời vua Nghiêu, được coi là người dạy dân trồng lúa mạch và lúa tẻ đầu tiên. Nhớ ơn, người đời sau tôn phong ông là thần bảo vệ mùa màng, và gọi ông là Hậu Tắc, Tắc Vương, Nông Tắc Đế Quân, Nông Tắc Thần v.v…

[25] Một Na-dữu-đa (na-do-tha) là 10 lũy thừa 112, tức là sau con số 1 có 112 con số 0. Một Tần-bạt-la là mười triệu. Triệu ở đây không phải là Million như cách hiểu theo hệ thống tính toán của phương Tây, mà phải hiểu theo cách tính toán của cổ nhân Trung Hoa, tức mười ngàn là một vạn, vạn vạn là một ức, một ngàn ức là một triệu. Như vậy một triệu là sau con số 1 có đến 12 con số 0.

[26] Bảy chúng: Tỳ-kheo,  tỳ-kheo-ni,  sa-di,  sa-di-ni,  thức-xoa-ma-na  (học pháp nữ),

ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.

[27] Sáu điều suy (lục suy) chính là lục trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp). Do sáu trần này dễ khiến vọng tâm sanh khởi, mê muội chân tánh, nên cũng gọi là Lục Suy.

[28] Đây là một vị trời được nhắc đến trong bộ sách Tướng Luật Cảm Thông Truyện của ngài Đạo Tuyên. Theo đó, khi Tổ hỏi về các vị trời, một vị thiên nhân đã cho biết ông ta họ là Phí, là thuộc hạ của Vi Đà Bồ Tát. Vi Đà Bồ Tát họ Vi, tên là Côn, chính là một trong tám vị tướng quân của Nam Phương Thiên Vương, phát nguyện ủng hộ, hoằng dương Phật pháp sâu xa. Thiên nhân Phí Thị cho biết: “Đệ tử vào thời Phật Ca Diếp, sanh trong Tứ Vương Thiên, làm thuộc hạ của Vi Tướng Quân (Vi Đà Bồ Tát). Chư thiên say sưa tham dục, con do sức túc nguyện nên chẳng bị say đắm bởi dục lạc cõi trời, giữ phạm hạnh thanh tịnh, kính trọng giới luật. Vi Tướng Quân đồng chân phạm hạnh, chẳng hưởng dục lạc cõi trời. Dưới mỗi vị thiên vương có tám vị tướng quân. Tứ Thiên Vương có tất cả ba mươi hai vị tướng quân, trọn khắp thiên hạ, lui tới bảo vệ những người xuất gia”. Những điều trích dẫn trong sách Khoa Chú về thiên nhân họ Phí đều trích từ sách ấy.

[29] “Tự” theo nghĩa gốc là cơ quan làm việc, chẳng hạn Hồng Lô Tự, Đại Lý Tự, Thái Thường Tự, Quang Lộc Tự… trực thuộc sáu bộ. Chùa được gọi là Tự vì thoạt đầu các vị Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan được Hồng Lô Tự Khanh mời tạm trụ tại dinh thự của Hồng Lô Tự. Nơi đó về sau biến thành Bạch Mã Tự.

[30] Mao Thi là kinh Thi do Mao Hanh và Mao Tranh biên tập, chỉnh lý dưới thời Tây Hán. Kinh Thi vốn là một tác phẩm sưu tập những bài dân ca thời Chiến Quốc Xuân Thu, do Khổng Tử biên tập, chỉnh lý. Sau khi Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn học trò, tác phẩm này cũng bị tàn khuyết ít nhiều. Do vậy, đến đời Hán, Khổng giáo đại thịnh, mới có chuyện chỉnh lý các bản kinh điển Nho gia bị tàn khuyết. Mao Hanh và Mao Tranh đã sưu tập các dị bản đương thời, đối chiếu, cân nhắc, chỉnh lý thành một bản kinh Thi hoàn chỉnh. Để phân biệt với công trình chỉnh lý kinh Thi của những người khác, bản này được gọi là Mao Thi. Bài thơ “ai ai phụ mẫu” nói ở đây chính là bài Lục Nga trong phần Tiểu Nhã của kinh Thi.

[31] Du tăng địa ngục (游增地獄) là các tiểu địa ngục phụ thuộc tám đại nhiệt địa ngục. Ở ngoài cửa bốn phía đại địa ngục, mỗi phía có bốn ngục nhỏ, tổng cộng là mười sáu tiểu địa ngục. Tội nhân đã chịu tội trong đại địa ngục xong, phải trải qua các tiểu địa ngục này chịu khổ não tiếp nên gọi là Du Tăng (lần lượt trải qua là Du, chịu thêm hình phạt khổ não, nên gọi là Tăng).

[32] Thoạt đầu, Tánh và Thị có sự khác biệt lớn. Thời cổ, Tánh chính là tên của bộ lạc, thường được đặt tên theo đất, hay theo tên của tù trưởng, nhằm phân biệt giữa bộ lạc này với bộ lạc khác. Con cháu về sau, do sinh sôi nảy nở đông nhiều mà có Thị nhằm phân biệt quan hệ trực hệ hay bàng hệ với thủ lãnh, do chi phái nào sinh ra. Dần dần, hình thành những dòng họ riêng. Cho đến hiện thời, hễ nói đến Tánh thì thường bị coi là đồng nghĩa với Thị. Đôi khi, Tánh và Thị dùng để phân biệt giữa họ chồng và họ thật của mình. Chẳng hạn như nếu đèn lồng treo trước cửa nhà có tang, đề là “Diêu môn Ngụy Thị” thì biết người đã mất là phụ nữ, có họ là Ngụy, làm dâu nhà họ Diêu.

[33] Phủ là tiếng để tôn xưng một người nam. Chẳng hạn Khổng Tử được gọi là Ni Phủ vì ngài có tên tự là Trọng Ni. Phủ lại còn là kính từ để gọi cha người khác như tôn phủ, hoặc phủ quân. Do Phủ còn có nghĩa là “vừa mới” nên ngài Linh Thừa dùng chữ này để giải thích chữ Phụ với hàm nghĩa do có cha thì mới chủng tử sanh ra ta, cổ nhân thường nói “cha sanh mẹ dưỡng” là vì lẽ này. “Mạo” ở đây có nghĩa là che trùm. Dùng Mạo để tôn xưng mẹ với hàm ý mẹ mang thai ta, nuôi nấng, che chở ta.

[34] Tác phẩm này do Vô Danh Thị soạn vào đời Hán, thuộc loại sách sấm vĩ, do được biên tập bởi nhiều người khác nhau qua các đời nên có nhiều dị bản.

File đính kèm

STT Tên File Tải xuống
1 File Word: Địa Tạng Khoa Chú (Toàn Tập) Xem File

Tin liên quan