Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên | Quyển 4 | Phần 4

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao

Tam Biên

Quyển 4

(Phần 4)

Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa chuyển ngữ

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ tư)

      Vừa nhận được thư, biết các hạ tuy học rộng lại chẳng thẹn hỏi xuống[1]. Quang thật sự là kẻ vô tri vô thức, chẳng ngại dâng lên những điều mình hay biết. Dựa theo cuốn Đại Minh Trùng Khắc Phương Sách Đại Tạng Duyên Khởi (Duyên Khởi Khắc Lại Đại Tạng Kinh của nhà Đại Minh theo lối in Phương Sách), trong lời tựa của Lục Quang Tổ[2] nơi thiên thứ nhất có đoạn: “Xưa kia có người nữ tên là Thôi Pháp Trân chặt tay để quyên mộ khắc Đại Tạng Kinh, ba mươi năm mới hoàn thành. Đương thời có đàn-việt hy sinh hết tài sản, đem con đi gán nợ [để lấy tiền] cung ứng. Thánh triều hoằng dương đạo pháp rộng lớn, hơn hẳn những triều đại trước rất xa, há chẳng có bậc hào kiệt có lòng cao trỗi hơn [Pháp Trân] ư? Đã không đề xướng cho [việc khắc kinh] được thành tựu mà khi được khuyên dụ lại viện cớ khó khăn, như vậy thì chí của kẻ trượng phu chẳng bằng được một người nữ!” Nơi thiên thứ hai, trong lời tựa của Phùng Mộng Trinh[3] có đoạn: “Trong thời Tống – Nguyên, trừ bản được khắc ở kinh đô ra, như bản [Đại Tạng Kinh được khắc bởi chùa] Tích Sa ở Bình Giang, một ngôi chùa nọ ở Ngô Hưng hoặc ngôi chùa kia ở đất Việt đều có tàng bản, không ít hơn bảy tám bản [Đại Tạng Kinh khác nhau]. Đấy là một đầu mối khiến cho pháp đạo thịnh hành. Đến quốc triều chỉ có hai bản Đại Tạng được khắc ở kinh đô”. Lại còn viết: “Do vậy, ghi chép duyên khởi của bản Tích Sa Tạng[4]: Ni sư Hoằng Đạo chặt tay để quyên hóa. Hoằng Đạo khuyến hóa xong, đồ đệ của ni sư lại nối chí chặt tay, phải qua ba đời mới mãn nguyện ấy. Bọn ta là trượng phu, chẳng thể dùng thâm tâm gánh vác đại pháp, khắc bản lưu thông, đâm ra chẳng bằng một nữ nhân! Nay sanh đúng cõi đời Phật pháp được thanh lặng, vào núi báu lại về tay không, há chẳng thẹn đến chết ư?”.

“Người nữ tên Thôi Pháp Trân” như ông Lục đã viết chính là “vị ni sư tên Hoằng Đạo ở chùa Tích Sa” trong bài viết của ông Phùng. Hai cái tên Pháp Trân và Hoằng Đạo thì một là nêu pháp tự, hai là nêu pháp hiệu, chứ không phải là hai người. Nói “nữ nhân” để tăng khí thế cho câu văn ở phía sau: “Chí của kẻ trượng phu chẳng bằng được một người nữ!”. Ghi “Thôi Pháp Trân” là theo cách viết tên trên độ điệp[5] thời cổ, đều ghi họ ngoài đời trước pháp danh. Vì thế mới có kiểu gọi [pháp danh] kèm theo họ ngoài đời, như Mã đại sư, Vương lão sư, Trầm Liên Trì v.v… chứ chẳng phải [Thôi Pháp Trân] là một nữ nhân tại gia, không phải là ni sư!

Câu tiếp theo là: “Thánh triều hoằng dương đạo pháp rộng lớn, hơn hẳn những triều đại trước rất xa”. Lại dựa theo lời tựa của ông Phùng thì biết ni sư không phải là người đời Minh. Vì sao biết ni sư không phải là người đời Tống mà là người đời Nguyên? Do [căn cứ trên] phương pháp khắc ván. Bắt đầu từ thời Ngũ Đại, Phùng Đạo[6] cho khắc ván chín bộ kinh Nho giáo phải mất mấy chục năm mới khắc xong. Đến đời Tống tuy đã tinh xảo, nhanh chóng hơn, nhưng dựa trên sự kiện sách Long Thư Tịnh Độ Văn chỉ gồm hơn một trăm trang, lúc ấy đang nhằm thời Nam Tống mà vẫn phải khắc mất mấy tháng. “Do một người nữ đứng ra đề xướng, ba mươi năm mới khắc xong toàn bộ Đại Tạng” thì rõ ràng là dưới triều Nguyên chứ không còn nghi ngờ gì nữa!

Vì sao biết kinh được khắc thuộc dạng Phạn bản?[7] Trong lời tựa thứ năm của Mật Tạng đại sư có ghi: “Thái Tổ đã khắc toàn bộ Đại Tạng tại Kim Lăng (Nam Kinh), Thái Tông lại cho khắc bản đích xác hơn ở Bắc Bình (Bắc Kinh). Ấy chính là ý nguyện hoằng pháp của thánh nhân chỉ mong [kinh điển nhà Phật] được phổ biến. Vì thế, Đại Tạng được khắc để lưu hành trong cõi đời, chẳng ngại phải khắc đi khắc lại. Về sau, [chùa Chiêu Khánh ở] Vũ Lâm thuộc Chiết Giang vâng theo đức ý[8] liền cho tạo phương sách[9], nhưng năm tháng đã lâu, bản khắc bị thất lạc”. Đây chính là khởi nguồn của việc in kinh Phật theo lối Phương Sách vậy! Xưa kia, hễ là sách Phật thì đều dùng lối in Phạn bản. Ở kinh đô, Quang từng được thấy bản lưu thông của [các sách] Lăng Nghiêm Hội Giải[10], Hoa Nghiêm Sớ Sao[11] đều được [in theo lối] Phạn bản. Chẳng phải chỉ có thế mà thôi, ngay như cuốn Quảng Nguyên Giáo Luận do Trầm Sĩ Vinh soạn được in theo lối Phạn bản. Đủ biết sách nhà Phật thời cổ đều nhất loạt được in theo kiểu Phạn bản. Từ khi [lối in] Phương Sách được lưu hành trở đi, do muốn thuận tiện, bất luận kinh, luật, luận, hay trước thuật, đều dùng kiểu Phương Sách. Chẳng biết các hạ có cuốn Duyên Khởi Khắc In Đại Tạng Kinh này hay không? Mùa Thu năm nay tôi đã nhờ người viết chữ đẹp chép lại, cho khắc ván, có thể ra sách vào mùa Xuân năm sau. Khi in ra, sẽ đem mấy cuốn dâng lên các hạ và một hai người bạn quen biết để kết pháp duyên. Quang hiểu biết như vậy đó. Vì thế liền đem điều mình biết trình lên, những sự tích khác thì tôi chẳng được biết.

      Sách Duyên Khởi Khắc Đại Tạng Kinh gồm mười tám thiên tất cả. Mỗi tác giả trình bày theo một quy củ riêng; vì thế có người viết liên tiếp, có người chừa một ô trống, có người chừa trống hai ô để thay cho cách viết Đài Đầu[12]. Ngoài mười tám thiên ra còn có quy ước khắc tạng, giảo đối v.v… tổng cộng tám mươi mấy trang. Quang chiếu theo cách khắc kinh hiện thời, cứ mỗi trang là mười hàng, mỗi hàng hai mươi chữ, chép liên tiếp, nên [bản mới] có tổng cộng năm mươi trang. Lời văn giữ theo đúng nguyên văn, nhưng phương thức trình bày tuân theo cách thức hiện thời. Do vậy, bớt được ba mươi mấy trang giấy cho dễ lưu thông.

Phật Học Đại Từ Điển là cửa ngõ đầu tiên để vào Phật pháp, chỉ nên [biên soạn] thong thả trong hai ba năm, chớ nên muốn mau ra sách kẻo bị sai ngoa. Tuy các hạ huệ quang chiếu khắp như mặt trời mọc lên soi trọn hoàn vũ, nhưng kẻ thấy cạn nghe ít chẳng ngại gì đem kiến thức thấy cạn nghe ít để dâng lên nhằm tỏ lòng ngu muội khăng khắng chí thành ngưỡng mộ mà thôi! Hơn nữa, Pháp Trân và Hoằng Đạo quyết không phải là hai người. Nếu là hai người thì vì sao ông Lục lại chỉ nhắc đến Pháp Trân, ông Phùng chỉ nói đến Hoằng Đạo? Chuyện đặc biệt ấy sao lại bỏ sót không nêu lên? Huống hồ [hai ông] đều muốn nhờ vào đấy để phát khởi cái tâm thù thắng gánh vác pháp của bậc trượng phu ư?

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ năm)

       Hôm qua nhận được thư và cuốn Phật Giáo Tông Phái Chú (ghi chú về các tông phái Phật giáo), khôn ngăn vui mừng, an ủi. Quang gần đây bận việc túi bụi, không rảnh rỗi để đọc kỹ được, chỉ đọc lời tựa tổng quát mà thôi; những phần khác đều là tùy tiện xem qua. Nơi dòng thứ bốn trong trang hai mươi sáu, phần chữ nhỏ, chữ Sách (册) trong từ ngữ Thiên Sách (天册: sách trời) bị viết sai thành Đan (丹), chữ Vũ (武) trong Vũ Thị (武氏: họ Vũ) bị viết sai thành Từ (慈). Đấy là do kẻ sắp chữ không cẩn thận mà ra. Ông Vạn làm thầy dạy học đã lâu[13], những kẻ được ông ấy chỉ dạy chắc sẽ chẳng đến nỗi phạm những sai lầm nhức mắt ấy.

An Sĩ Toàn Thư được các hạ nhận lãnh làm sách tài liệu và lưu thông, Quang sẽ thay cho quốc dân đối trước Tam Bảo lễ tạ hằng ngày. Thoạt đầu, An Sĩ tiên sinh quyết định cách [trình bày bản in] cũng chưa tốt lành tột bậc, bởi lẽ những lời văn giáo huấn [của cổ nhân], cũng như những sự việc dùng để dẫn chứng, những lời bàn luận về cái tâm do ông ta viết ra v.v… đều in Đảnh Cách[14] hết, cho nên không phân biệt được chủ và khách. Các hạ bảo đổi thành cỡ chữ Nhị Hiệu Tự quả là chí lý danh ngôn, nhưng sợ làm theo cách ấy sẽ khó thể điều chỉnh được, lỡ ra chẳng được như pháp! Quang tính trừ những đoạn văn ghi sự tích ra, những phần khác đều in thấp xuống một chữ ngõ hầu chẳng bị lẫn lộn. Đối với bốn câu “Vu Công…” [tiên sinh An Sĩ không giải thích], trong năm ngoái khi vị Đô Đốc đất Điền (Vân Nam) phát tâm khắc ván [bộ An Sĩ Toàn Thư], Quang đã sao lại [hành trạng trong đời cuối cùng của] Đế Quân [tại nhân gian (tức Trương Á đời Tấn)] và những sự tích [được nhắc tới trong] bốn câu ấy đem gởi đi[15] . Ông Đường tuy đã rút lui, nhưng sách đã khắc xong, chỉ là chưa gởi đến. Sẽ sao ra một bản khác, cho đính kèm vào sau phần mục lục trong đầu quyển sách và soạn một lời tựa ngắn để nêu rõ nguyên do, ngõ hầu chẳng phạm đến nguyên văn mà lại khiến cho dù văn hay nghĩa đều không bị thiếu sót gì! Chẳng biết các hạ nghĩ như thế nào? An Sĩ Toàn Thư chính là bộ sách trọng yếu để vãn hồi thế đạo nhân tâm. Tuy nói là tính in một vạn bộ, nhưng in càng nhiều càng hay, há nên tự vạch [giới hạn]? Hơn nữa, bảo người ta xuất tiền thì tợ hồ cắt thịt kẻ ấy vậy! Ngay trong hiện thời với số tiền đã gởi tới sẽ in được sáu ngàn bộ; nếu trọn chẳng có một ai chịu bỏ tiền ra nữa thì cũng tạm để an ủi tấm lòng đau đáu của các vị. Vạn sự tùy duyên, bất tất phải chấp chặt thì mới là cách thức yên vui.

Bản kinh Lăng Nghiêm do bà Ngô Nghệ Anh chép được chồng bà ta lưu thông. Bản kinh Pháp Hoa do bà Trang Nhàn chép (bà này là em gái của Trang Tư), chồng bà ta là Lục Giá Hiên cũng muốn lưu thông, cậy cư sĩ [Cao] Hạc Niên cầm kinh đến xin Quang xem xét, sửa chữa và xin viết lời Bạt. Do vậy, tôi đọc đại lược, thấy nét chữ mạnh mẽ, thanh tú, từ đầu đến cuối giống hệt như nhau, nhưng kiểu chữ đa phần vướng phải tập khí văn nhân: Hoặc là viết theo lối Tục Thể, Phá Thể, Thiếp Thể, Biến Thể v.v… hoặc là ngược ngạo coi lối chữ Chánh Thể đang được lưu hành hiện thời là sai nên đổi sang dùng lối Cổ Thể. Quang cho rằng viết như vậy là theo thói tục, trái thời, chẳng đáng theo khuôn phép ấy, liền viết thư chê trách[16], bảo bà ta viết lại, cũng như phải sửa cho nét chữ hơi lớn hơn ngõ hầu người thọ trì lẫn kẻ ứng phó[17] đều vui thích thỉnh mua. Bà ta đọc thư Quang khá bội phục, ngày hôm sau liền cùng chồng đến bái kiến. Quang bảo bà ta hãy chép kinh giống như tiến sĩ viết đối sách[18] thì công đức sẽ lớn lao. Nghe nói bà ấy tuân thủ Nữ Huấn[19] khá tốt, phàm những nơi vui chơi đều nhất loạt không tới, rất được phu nhân Thịnh Hạnh Tôn khâm phục, kính trọng. Không biết cuốn sách của Trang Ngô là viết cho chị em gái? Hay là dành cho cô và cháu? Ai là chị, là cô? Ai là em, là cháu? Nếu sách được sửa chữa lần thứ hai xong, Quang chẳng thể không viết lời đề từ, sợ vẫn phải phiền các hạ lưu thông. Gần đây, phong khí Phật học rộng mở, những bậc anh hiền chốn khuê các cũng dấy lên nhiều lắm, cũng giải được nỗi lo đau đáu của những người bận tâm tới đất nước, nhân dân vậy!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ sáu)

      Chuyện nhân quả báo ứng trong cuốn Phật Học Khởi Tín Biên do ông rộng lòng ban cho trước đây đủ để chấn động kẻ điếc, mở mắt cho người mù. Do vậy, tôi bèn tùy tiện nói với một hai người bạn, bọn họ cũng vui thích muốn xem, nhưng phiền một nỗi là không có ai tiện dịp sang đất Thân (Thượng Hải) [để nhờ thỉnh sách]. Do vậy, Quang tính thuận theo ý họ, xin ông đọc thư rồi sẽ gởi cho một gói Phật Học Khởi Tín Biên. Gói sách ấy chỉ lấy kích thước của [bưu kiện] do bưu cục [đã quy định] làm chuẩn, không cần biết là bao nhiêu cuốn! Hãy ghi một tờ hóa đơn, thỉnh một bản phải tốn bao nhiêu tiền, đợi khi Quang tới Thượng Hải vào cuối tháng Sáu sẽ trả lại theo đúng số, ắt chẳng đến nỗi sai chạy vậy!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ bảy)

      Lá thư tôi dâng trình lần trước chắc ông đã nhận được rồi. Ngày hôm qua, ông Bao Ngọc Đường đến thăm, cầm theo thư của các hạ và một gói Phật Học Toát Yếu. Sách này từ chỗ cạn tiến vào sâu, [giảng giải] nhân quả sự tích, luân hồi báo ứng cũng như sự vãng sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử, đúng là đã trao cho người ở trong nhà tối một ngọn đèn khiến cho tu nhân kết quả nơi thân trước, thân sau đều có thể quyết đoán sẵn được. Vì thế, kẻ có tín tâm đều cùng yêu thích, chẳng tiếc tiền tài để lưu thông.

Các hạ gạt bỏ lời ông Ngũ nói thì cũng là chuyện hay lắm. Phàm muốn đoạn nghi, khơi gợi lòng tin, chớ nên dùng những lời lẽ nửa tin, nửa ngờ, cũng như trích dẫn những lời lẽ giảng giải nghĩa lý nhưng chẳng nương theo Thật Lý. Bởi lẽ, những lời nói ấy có thể khơi gợi tín tâm cho người khác mà cũng có thể khơi gọi lòng nghi ngờ của kẻ khác vậy! Có lẽ nên đưa chương thứ tám ra phía sau thì thể tài [của cuốn sách] sẽ hợp lý hơn, mà cũng có thể khiến cho người khác biết có những loại sách ấy để thỉnh về đọc. Những điều nào nên cắt bỏ hoặc nên thêm vào, xin ông hãy tự cân nhắc. Quang gần đây bận bịu đa đoan, hằng ngày không rảnh rỗi, xin ông hãy rủ lòng thông cảm. Khi ông Bao đến, Quang đã khuyên ông ta hãy tu tại gia, tu chân ngay trong cõi tục, không cần phải xuất gia. Sợ rằng sau khi xuất gia do hằng ngày ở chung với bọn Tăng lười nhác, biếng trễ, lâu ngày chầy tháng sẽ chỉ trở thành một gã ăn bám cửa Phật! Chẳng biết ông ta có chịu nghe theo hay không?

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ tám)

      Vừa nhận được thư và mười tám cuốn Phật Học Khởi Tín Biên, còn Lục Đạo Luân Hồi Lục vẫn chưa nhận được. Mỗi lần gởi sách và thư thì thường được chia thành hai lần gởi đến. Quang cũng chẳng thể đọc Lục Đạo Luân Hồi Lục nhiều được, trong những phần tôi đã xem thì thấy không có gì sai sót lớn lao. Nhưng loại sách này nên lấy chuyện nêu rõ nhân quả báo ứng làm chủ yếu, những bài dịch từ các báo ngoại quốc như tờ Linh Học Chí v.v… đăng ở cuối sách cũng có thể dùng để chứng minh [nhân quả báo ứng]. Gần đây, ngoại quốc cũng tin có quỷ thần. Đã có quỷ thần thì đời trước lẫn đời sau đương nhiên chẳng phải là không có, mà liễu sanh thoát tử lại càng là nhiệm vụ cấp bách; nhưng người đọc chẳng suy tới chỗ ấy, bèn học theo thói phù phiếm, chẳng thân thiết!

Từ nay trở đi, hễ sao lục những chuyện xưa, chuyện nay, hãy đều nên chú trọng sao cho nhân quả báo ứng được nêu tỏ rạng rỡ thì sẽ có thể làm cho người thấy kẻ nghe không ai chẳng kinh sợ rét buốt tận xương, lông tóc dựng đứng, sanh lòng kiêng nể, sợ hãi. Đối với những lời bàn luận chung chung về chuyện có ma quỷ, hãy nên dành cho những tiểu thuyết gia thâu thập hòng tô vẽ, lưu truyền. Có người bảo các hạ tính [viết sách về Phật pháp để] kiếm lợi cũng chẳng phải là không có nguyên nhân. Các hạ đã lấy hoằng pháp lợi sanh làm trách nhiệm của chính mình, đừng nên bắt chước những kẻ buôn sách: Hễ in ra một cuốn sách mới liền áp dụng cách định giá của các loại sách mới, chẳng bận tâm tới số trang, công thợ! Các loại sách do các hạ in ra hãy nên căn cứ vào giá vốn rồi tính giá tiền dôi ra đôi chút ngõ hầu đại pháp được lưu thông mà cũng chẳng bị hụt vốn. Nếu giá sách cao gấp mấy lần giá vốn lẫn công thợ, sẽ bị người khác công kích, chê gièm (ngay như Phật Học Tiểu Từ Điển cũng bị định giá quá cao). Do tôi lạm nhận là người cùng chí hướng với các hạ nên mới dám nói thẳng như vậy, xin hãy rủ lòng tha thứ!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ chín)

      Quang trọn chẳng có học vấn lại thêm mắt lòa; vì thế đối với trước thuật của các bậc danh nhân xưa nay đều chưa từng ghé mắt vào. Tôi chưa đọc bài văn bia của Ma Cật[20] nên ý nghĩa, ngữ mạch trong phần văn trên và dưới tôi đều không biết. Nếu chẳng vâng lời thưa trình, sợ các hạ trách móc. Nay tôi dựa theo bổn phận của kẻ lòa thốt lời sờ voi cho xong trách nhiệm, chứ chưa chắc đã hoàn toàn đúng, mà cũng chưa chắc đã hoàn toàn sai bét. Xin bậc sáng mắt hãy cân nhắc để chọn hay bỏ thì may mắn lắm thay!

“Cổ duệ hải sư” (鼓 枻 海 師: bậc thầy đẩy mái chèo trong biển cả) là từ ngữ thường được dùng trong kinh để chỉ người vào biển cả tìm vật báu. Từ ngữ “Hành giả chẳng biết Bồ Đề” là nói về Thiền Tông, ngụ ý: Chỉ ra trí thể của chư Phật ở ngay trong Phiền Hoặc của chúng sanh. Ý nói: Kẻ vào trong biển cả tìm của báu, chẳng biết nhà mình sẵn có đồ quý, cao sang nhất, quý báu nhất, có thể sanh ra vô lượng các món báu, cứ rong ruổi tìm cầu bên ngoài, nào khác kẻ ôm của báu lạc nẻo, đang cưỡi trâu lại đi tìm trâu! Cần biết rằng: Thật Tánh của tham – sân – si chính là Phật tánh! Nếu có thể triệt ngộ Phật tánh ấy thì trọn chẳng thể tìm được tham – sân – si. Chân Giới, Chân Định, Chân Huệ ở ngay trong bản thể, nhưng cũng chẳng thể tìm được tướng của Chân Giới, Chân Định, Chân Huệ ! Đại ý của lời Lục Tổ nói là như thế đấy. Lấy hai câu này làm câu văn để soi ngược lại, nhằm tỏ rõ sự thắng diệu. Đấy là sự sờ sẫm mù lòa của Quang vậy! Chẳng biết các hạ nghĩ như thế nào?

Hơn nữa, Thiền Tông chuyên trọng tham cứu, chứ không chú trọng giảng giải. [Pháp Bảo] Đàn Kinh tuy có những chỗ giảng nói ý nghĩa, nhưng nếu chưa mở được con mắt nhà Thiền thì nếu chẳng biến Tông thành Giáo cũng sẽ tưởng mê là ngộ. Vì thế, ông Bùi Công Mỹ[21] nói: “Hễ hiểu được ý chỉ thì mau thành Phật đạo! Hễ lạc mất ý chỉ, sẽ mau vào Nê Lê[22]”. Quang thì Giáo cũng chẳng thông, huống hồ là Tông ư? Nhưng cũng hơi biết lối vào môn đình hai tông ấy. Tiếc đã không chân, lại chẳng có mắt, nên chẳng thể bén mảng nơi phên giậu được! Kinh ấy (tức Pháp Bảo Đàn Kinh) cũng có thể lợi người mà cũng có thể khiến cho người khác bị lầm lẫn! Nếu có thể đối với pháp nào, chuyện nào cũng đều nêu rõ tông chỉ “trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”, lại chẳng trái nghịch giáo nghĩa thì dẫu có nói “Lục Tổ xuất thế” cũng không phải khen ngợi quá lố! Nếu không, đã chẳng làm cho người khác thấy được Tánh, lại còn đến nỗi do Tông mà trái Giáo thì lợi ích nơi Tông lẫn Giáo hai đằng đều bị mất, sẽ ứng với ý nghĩa trong câu nói thứ hai của Công Mỹ (tức câu “hễ lạc mất ý chỉ sẽ mau vào Nê Lê”), cố nhiên vẫn chẳng bằng để nguyên diện mục sẵn có của nó[23] thì hay hơn! Các hạ có tâm lợi người tha thiết, Quang cũng ôm lòng tha thiết ngừa cho người khác khỏi bị sai lầm; vì thế chẳng thể không thưa trước để tận tấm lòng ngu thành khăng khăng trọn hết tình tri kỷ vậy!

      Câu chữ trong nhà Thiền cần phải có con mắt khác để lãnh hội! Nếu chẳng khéo hiểu ý sẽ chưa khỏi “y văn giải nghĩa, tác tam thế Phật oan” (dựa theo văn tự để hiểu ý nghĩa khiến cho ba đời chư Phật phải bị oan uổng). Lỡ như trái nghịch giáo nghĩa, chỉ thành “ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết” (rời kinh một chữ, sẽ giống như lời ma nói). Dễ thì dễ như trở bàn tay, khó thì khó như lên trời. Nếu không phải là bậc Tông lẫn Giáo đều thông, hai mắt viên minh, cố nhiên chẳng nên khinh thường, dễ duôi theo đuổi việc chú giải kinh ấy!    

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười)

       Quang bẩm tánh ngu bướng, đã không hiểu biết, lại chẳng hiểu đời nên chẳng thể mềm mỏng thuận theo tình người. Vì thế, phát nguyện suốt đời làm một Tăng nhân ăn nhờ ở đậu mãi mãi, may được cư sĩ chẳng chê bỏ Quang là hạng không ra gì. Phàm nói ra điều nào dẫu cuồng ngạo, trái nghịch, cũng đều được cư sĩ khen ngợi, cảm thấy hổ thẹn đến cùng cực! Tục ngữ có câu: “Nhặng xanh bám vào đuôi ngựa Ký bèn đi được ngàn dặm”. Lòng Quang ngu thành, nhờ sức của các hạ mà khiến cho hết thảy những ai có tín tâm đều cùng sanh lòng kính nể kinh tượng, ngõ hầu diệt được tội khiên của tôi, tăng thêm phước huệ cho họ. Xét tới nguồn cội, đều là được thành tựu bởi các hạ vốn là một bậc thiện tâm vui đạo vậy. Hết sức cảm ơn!

Quý môn nhân[24] là Vạn cư sĩ hỏi về Bảo Hoa Tam Muội Truyện, chùa Pháp Vũ không có sách ấy. Ở quý cục (tức Y Học Thư Cục) đã không có thì cũng khó thể tìm được ở nơi nào khác! Hãy nên hỏi ở Bảo Hoa chắc sẽ tìm được! Vị này[25] chính là Bồ Tát thị hiện chứ không phải là người thường, Sư là học trò của Huệ Vân Hinh Công, là thầy của Kiến Nguyệt Thể Công. Vào năm Sùng Trinh thứ mười (1637), Kiến Nguyệt thọ giới dưới tòa của vị ấy xong liền nối pháp. Đến năm Thuận Trị thứ mười (1653), Ngài đã làm Trụ Trì tại Hoa Sơn, vẫn chẳng biết Ngài đã vào chùa bao nhiêu năm? Do điều này có thể biết Ngài là người sống vào cuối đời Minh. Người được Linh Ẩn Hối Công nhắc đến chính là vị này vậy!

      Kẻ mờ mịt Phật tánh, mù mờ Chân Như bèn bài xích người kiến đạo là chuyện thường thấy, cần gì phải hỏi tới xuất xứ? Dẫu có chỉ ra xuất xứ thì cũng chưa chắc người ấy đã là kẻ đầu tiên thốt ra lời ấy. Do vậy, chẳng thà không chỉ ra xuất xứ thì hơn! Bồ Đề Đạt Ma truyền y bát tại Trung Quốc nhằm thời Ngũ Đại, đến đời Lục Tổ chỉ truyền pháp ấn, chứ không truyền y bát. Hãy nên tra trong Lục Tổ Đàn Kinh sẽ biết được nhân duyên. Nguồn tâm sẵn có của chúng ta đều bị tình thức ngăn lấp nên chẳng thể hiển hiện được. Nếu có thể phản chiếu hồi quang, thấy ngay được tình thức huyễn vọng ấy thì nó sẽ còn khởi từ đâu được nữa? Như vậy thì trong chẳng do tâm, ngoài chẳng do cảnh, hai đằng đều bị cắt đứt, chính giữa cũng chẳng lập. Cái gọi là “tình thức” hóa thành trọn chẳng còn gì! Tình thức chướng lấp đã trừ thì nguồn tâm triệt để hiển lộ. Đấy chính là cảnh tượng đại triệt đại ngộ trong Tông môn vậy!

Tiễu (勦) là diệt. Theo đao chẳng theo sức, hễ theo sức thì chẳng phải là đúng nghĩa[26]. Càng về sau càng thua kém đời trước cũng là chuyện thường được Giáo nói đến! Nếu chẳng thể chỉ ra lời nói ban đầu do ai nói, chẳng thà không nêu ra [thì hơn]! Nói chung, hết thảy mọi sự được tiền nhân sáng lập, người đời sau kế thừa. Tuy càng về sau, càng tinh vi, càng mầu nhiệm, nhưng công hiệu vẫn chẳng thể vượt trỗi lúc ban đầu, bởi điều ấy do tiền nhân sáng lập. Huống chi các vị tiền nhân sáng lập, trước thuật trong Phật pháp phần nhiều là hạng Pháp Thân đại sĩ thừa nguyện tái lai. Người đời sau kế thừa, dẫu có đổ công sức làm cho pháp ấy tinh vi, nghiêm mật trỗi vượt tiền nhân, nhưng đại cương, yếu chỉ, những lời bàn luận sâu xa thâm nhập được lý, không có gì chẳng phải do tiền nhân đã tìm ra. Dẫu chưa nêu rõ ra thì [những gì người đời sau nêu ra] vẫn là suy luận dựa theo ngữ mạch của những lời tiền nhân đã nói. Vì thế, tuy những gì về sau này trỗi hơn những gì thuộc thuở ban đầu, quả thật vẫn kém hơn thuở ban đầu vậy!

Từ ngữ “quang ảnh môn đầu” (光 影 門 頭) chỉ cho tình trạng “kiến đạo chẳng chân thật”. Ấy là vì lấy mặt trăng trên bầu trời và thân hình con người để ví cho đạo. Những kẻ chỉ thấy được ánh trăng và bóng người bèn cho là đã đắc, há có được chăng? Hơn nữa, nếu dùng mặt trăng để ví cho đạo, lấy ánh trăng, bóng trăng để ví với chỗ đạo lưu lộ thì cũng được. Ánh trăng, bóng trăng chính là chỗ lưu lộ của mặt trăng, nhưng hãy nên từ ánh trăng, bóng trăng mà ngẩng lên nhìn vầng trăng trên trời, đừng ngỡ ánh trăng và bóng trăng trong nước là vầng trăng thật sự!

Chuyện Huệ Quả chưa được chép trong Tống [Cao] Tăng Truyện. Từ sau Tống [Cao Tăng] Truyện, tiểu truyện của những vị Tăng [trong các triều đại kế tiếp] chưa được biên soạn. Bộ Minh Cao Tăng Truyện, hai cuốn, chỉ sao chép [hành trạng của] một hai vị đã biết, chẳng đáng gọi là sách tiếp nối bộ Tống Cao Tăng Truyện. Hiện thời, pháp sư Đạo Giai ở Bắc Kinh đang thỉnh người sưu tập rộng khắp, tính chép nối tiếp [hành trạng] của các vị cao tăng sau thời những vị được nêu tên trong Tống Cao Tăng Truyện cho đến hiện tại. Như vậy thì số quyển sẽ không thể dưới một trăm mười quyển được!

Mật Tông lấy Tam Mật Gia Trì khiến cho phàm phu được chứng thánh ngay trong hiện đời, công đức lực dụng ấy chẳng thể suy nghĩ được, chẳng thể bàn bạc được, nên gọi là “lực dụng chẳng thể nghĩ bàn”. Tuy Mật Tông đề xướng tông chỉ ấy, nhưng cần phải là đúng người thì mới có thể làm được! Hạng người ấy là hạng người nào? Chính là các vị như Kim Cang Trí[27], Thiện Vô Úy[28] v.v… Nếu không phải là hạng như vậy thì đạo chẳng thể không hành xuông. Những kẻ học Mật Tông hiện thời đều chỉ học được ngoài da, hoàn toàn không có Kim Cang giới lực lẫn Bồ Đề đạo tâm. Họ chẳng chú trọng trì chú để đoạn Hoặc chứng Chân mà phần lớn bắt chước hiện chữ, hiện hình tướng, để hỏi cát – hung, họa – phước, nhân trước, quả sau, giống như tác dụng của linh quỷ. Đấy gọi là làm cho Mật Tông bị bại hoại; tôi sợ quở tội họ còn chẳng xuể, nói chi là thành thánh ngay trong cõi phàm! Chúng ta chỉ nên lấy pháp môn Tịnh Độ làm một tòa núi Tu Di lớn lao để dốc hết toàn thân nương tựa, ngõ hầu chẳng bị hết thảy tri thức lay động hòng có thể liễu thoát ngay trong đời này! Nếu không, sóng sẽ theo gió dấy lên, trọn chẳng có lúc nào ngưng thì buồn thay!

Tôi chưa từng thấy sách Đại Tạng Bí Yếu, chắc là sách được lưu truyền bởi người Nhật. Bốn câu “đoạt nhân cảnh”… chính là lời lẽ trong bài Tứ Liệu Giản của ngài Lâm Tế. “Đoạt” có nghĩa là dứt bặt dấu tích, hình tượng vậy. “Bất đoạt” có nghĩa là “hiển thị Lý Thể”. “Nhân cảnh” chính là cảnh trí của nhân và pháp. “Sanh thì quyết định sanh, đi thì thật sự chẳng đi”, tức là “đoạt cảnh bất đoạt nhân”, nêu rõ người đi vãng sanh, dứt bặt cảnh được sanh về. “Đi thì quyết định đi, nhưng sanh thì thật sự chẳng sanh” chính là “đoạt nhân bất đoạt cảnh”, nêu rõ cảnh được sanh về, diệt người đi vãng sanh. “Đi thì thật sự chẳng đi, sanh cũng thật sự chẳng sanh” chính là “nhân lẫn cảnh đều đoạt”, tức nhân lẫn cảnh đều vắng lặng vậy. “Đi thì quyết định đi, sanh cũng quyết định sanh” chính là “nhân lẫn cảnh đều chẳng đoạt”, bởi nhân lẫn cảnh cùng được hiển thị vậy. Tuy có bốn câu, nhưng chỉ nhằm nói lên ý “tuy về mặt Sự thì quả thật có sanh, nhưng xét trên mặt Lý thì thật sự vô sanh”, cũng là diệu chỉ “nêu Chiếu, diệt Tịch; nêu Tịch, diệt Chiếu; Tịch lẫn Chiếu cùng diệt; Tịch Lẫn Chiếu cùng nêu”. Hễ sanh thì ắt phải có người [thực hiện hành động đó], vì thế gọi là Nhân. Hễ đi thì ắt phải có cảnh [để đến] nên gọi là Cảnh. Lý này rất sâu, hãy nên sốt sắng niệm Phật hòng đích thân thấu hiểu được. Nếu không, sẽ trở thành Khẩu Đầu Thiền, bàn xằng Bát Nhã đấy!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười một)

      Hôm qua nhận được thư và [bản chú giải] Quán Thế Âm Kinh, cũng như tác phẩm lớn lao [của các hạ] là [Phật Học Đại] Từ Điển, khôn ngăn cảm kích, cảm ơn lắm! Nhưng do nét chữ quá nhỏ, chẳng thể đọc kỹ được, chỉ xem đại lược lời Tựa và mấy điều thuộc phần Phàm Lệ[29] mà thôi, giống như Hà Bá dõi nhìn biển cả, khôn ngăn than dài sườn sượt! Tự thẹn cô lậu quả văn (học kém, nghe ít), sống luống uổng nơi cửa Phật chẳng có ích gì, cảm thấy hổ thẹn không thể cùng cực được! Nay có người khẩn cầu: Cư sĩ Tôn Ngọc Tiên ở Phụng Hóa gần đây khá sanh lòng tin tưởng nơi Phật học, do thấy Di Lặc Bồ Tát từng thị hiện giáng trần ở huyện Phụng Hóa[30], chí càng tha thiết muốn lưu truyền sự tích của Ngài để mong khơi gợi lòng tin cho hết thảy mọi người. Năm trước, ông ta đã khắc cuốn sách Tích Lục Hoàn do ông nội của ông ta soạn. Mùa Xuân năm ngoái đến núi tặng cho Quang một bộ. Quang đọc, thấy những điều được nói trong ấy đều là dùng tri kiến phàm phu để suy lường, chứ trọn chẳng phải là những lý đương nhiên trong Phật pháp cũng như [chẳng nêu được] nguyên do vì sao Di Lặc Bồ Tát ứng thế. Lại còn sử dụng từ ngữ giống hệt như lời lẽ thông tục chốn quê mùa, lầm lạc khinh nhờn xằng bậy khiến cho người khác đau đớn, bi thương. Quang vạch rõ cặn kẽ khuyết điểm ấy, bảo ông ta: “Ông lưu thông sách này nhằm tôn vinh ông nội, nhưng đối với Phật pháp, đối với chúng sanh đều chẳng có ích gì mà chỉ có hại, xin đừng lưu thông!” Ông ta nghe lời Quang nói liền hủy bản in ấy.

Về sau, [ông Ngọc Tiên] lại khắc Di Lặc Truyện, sách ấy rất hay. Đầu Xuân ông ta liền gởi thư cho Quang, cho biết là tìm được ngữ lục tại đạo tràng của Phó Đại Sĩ, cũng muốn khắc ván. Quang từng được thấy một bản do pháp sư Hưng Từ bảo đệ tử quy y của thầy ấy khắc in, [bản ấy] sai ngoa nhiều khôn kể xiết! Sợ bản do ông Tôn tìm được chính là bản ấy, cho nên bèn hỏi có phải là bản ấy hay không? Ông ta bèn gởi sách ấy tới. Đây là bản in theo lối Thạch Ấn, so với bản do pháp sư Hưng Từ đã khắc sai ngoa càng nhiều hơn nữa. Vì thế, bảo ông ta hãy khoan khắc. Năm trước Quang đã khuyên pháp sư Hưng Từ nên in bản khác, Sư cũng chấp thuận. Nếu Sư khắc in thì [ông Tôn] không khắc bản này cũng được, còn nếu khắc thì hãy chiếu theo bản của Sư đem khắc trong lần này cho đỡ bị sai ngoa. Ngọc Tiên lại nói bi ký của Phó Đại Sĩ vốn do Từ Lăng[31] đã soạn dưới đời Trần, văn sâu, nghĩa uyên áo, người đọc phần nhiều chẳng hiểu được ý nghĩa, bảo Quang hãy khẩn cầu các hạ chú giải tường tận thì hết thảy người đọc sẽ liền phát tâm Bồ Đề mong được vãng sanh Tây Phương ngay trong đời này, dự hội Long Hoa trong tương lai. Quang nói khi chú giải ắt phải xem kỹ ngữ lục hầu biết cội nguồn, sự việc, cũng như biết đại lược những điều Ngài đã đề xướng.

Bản khắc hiện thời sai ngoa quá nhiều, nếu chẳng xét kỹ chắc sẽ khó khỏi phạm sai lầm! Đợi cho bản khắc lần thứ hai của thầy Hưng Từ được in ra rồi mới chú giải thì một là sẽ đỡ tốn tâm lực, hai là không sai ngoa, ngõ hầu có thể dẫn chứng đích xác, mở mang chánh nhãn cho người khác. Tấm lòng ấy thật ân cần! Đến hôm qua [ông Tôn] lại gởi thư tới, ý muốn thực hiện ngay chuyện này để mong sao Phó Đại Sĩ Ngữ Lục sẽ được lưu hành cùng với Di Lặc Truyện, bảo Quang gởi thư xin các hạ hãy vì chúng sanh mà phát Bồ Đề tâm, ngõ hầu mọi người đều được biết tới đạo uyên áo của đức Di Lặc, cầu khẩn khôn ngằn! Do vậy, bèn đem bản Phó Đại Sĩ Tập do Quang đã châm chước sửa đổi gởi đi bằng thư bảo đảm và bỏ luôn thư của Ngọc Tiên vào phong bì, mong ông hãy thỏa mãn ý nguyện nhỏ nhoi của Ngọc Tiên và Quang mà vung ngọn bút lớn lao khiến cho quang minh của ngài Di Lặc được chiếu trời soi đất đến tận đời vị lai.

      Đạo tràng của Phó Đại Sĩ ẩn sâu trong xó núi. Gần đây thật ít cao nhân tới trụ, nên bản ngữ lục ấy qua nhiều lần sao chép, khắc ván thường tăng thêm phần sai ngoa, hoặc thêm phần thừa thãi, hoặc bị sai sót. Quang thấy vậy khôn ngăn đau tiếc, bèn dùng tri kiến kém hèn để châm chước, sửa chữa. Bản khắc lại của pháp sư Hưng Từ sẽ dựa theo bản [sửa chữa] này. Nhưng trong cõi đời không có bản nào hoàn chỉnh, Quang lại không có sự hiểu biết chân chánh, chưa chắc mỗi một điều đều đúng pháp. Những chỗ được sửa cho đúng chiếm hơn một nửa, dẫu có những chỗ bị sửa đúng thành sai thì cũng chỉ chiếm chưa tới một nửa. Do trong cõi đời không có một bản hoàn chỉnh nên không thể [dựa vào đâu để] châm chước, cân nhắc sửa đổi được. Do vậy, nếu giữ chết cứng thái độ thận trọng, theo lệ chẳng dám sửa đổi một chữ thì tấm lòng đau đáu của Đại Sĩ sẽ bị phong kín bởi văn tự sai ngoa, thiếu sót, thừa thãi, sẽ không có cách nào phô bày rõ rệt được! (Đây chính là nỗi khổ tâm “chẳng lượng sức, cứ làm chuyện châm chước, giảo định” của Quang).

Dựa theo mặt sau trang ba trong quyển bảy sách Phật Tổ Thống Kỷ thì tôn giả Pháp Hoa[32], tổ thứ sáu của tông Thiên Thai, chính là hậu thân của Từ Lăng. Ngài Trí Giả hoằng pháp ở kinh đô vào đời Trần, Từ Lăng quy y dưới tòa, phát nguyện hoằng pháp trong đời sau. Trong một cuốn sách Phó Đại Sĩ Ngữ Lục có tới ba bốn tên, trong phần Thư Thiêm và bìa sách đều ghi là Tập. Quyển một và hai lại ghi là Truyện Lục. Quyển ba ghi là Thi Kệ. Quyển bốn hoàn toàn chẳng đề danh xưng chánh thức của sách. Phần văn bia thì ghi là Phụ Lục Bi Văn, những chỗ khác chỉ có hai chữ Phụ Lục. Quang châm chước đặt ra một tên gọi, gọi chung toàn bộ cuốn sách là Phó Đại Sĩ Tập. Hai quyển đầu ghi kèm thêm hai chữ Truyện Lục, quyển ba ghi là Thi Kệ, quyển bốn thì trước phần văn bia ghi thêm dòng chữ “phụ lục bi văn”. Các truyện thì ghi là “phụ lục truyện này nọ”. Trong bản của pháp sư Hưng Từ tôi đã viết rõ cách thức trình bày cho thầy ấy; còn bản này vốn để Quang giữ cho nên chưa ghi rõ.

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười hai)

      Mấy hôm trước, em trai ông Mạnh Do là Quần Tranh tính thí tặng các sách nói về nhân quả do các hạ đã soạn và Long Thư Tịnh Độ Văn cũng như bộ Văn Sao của Quang, nhưng vì người đọc sách trong hiện thời trọn chẳng chú trọng cung kính kinh sách của thánh hiền, sợ người được tặng sách sẽ đọc với thái độ như đọc sách Nho thì tội lỗi vô lượng. Do vậy, Quần Tranh gởi thư cho Quang, xin soạn một bài văn khuyến cáo, tính cho khắc ván, in vào đằng sau bìa sách, ngõ hầu những kẻ hiểu biết sẽ chẳng đến nỗi giữ mãi thói quen [khinh nhờn] ấy! Quang liền viết một bài gởi cho ông ta, nhưng do học thức kém cỏi, thật khó thể cảnh tỉnh kẻ khác được! Tuy thế, ắt sẽ có người do vậy mà sửa đổi đôi chút thói quen cũ ấy.

Lại nghĩ: Sách đã đóng bìa xong, nếu in thêm vào sẽ thật khó, nếu hơi chẳng lưu tâm sẽ trở thành bôi lem nhem. Nhân đấy nghĩ: Trên bìa của những cuốn sách do các hạ biên soạn, nếu các hạ chịu in những lời này, cố nhiên sẽ có ích lớn lao cho người đọc. Đấy cũng là một đầu mối để dùng pháp giáo hóa người khác. Nay tôi đem bài văn ấy gởi kèm theo thư để trình lên. Nhưng đấy bất quá chỉ là nói đại lược mà thôi; nếu các hạ chịu vận dụng tài viết lách lớn lao để soạn một bài văn khiến cho người đọc vừa nhìn vào sẽ kinh hồn thì càng tốt đẹp hơn nữa! Do vậy, không nhất định phải dùng bài văn của Quang! Chỉ mong cho người khác biết kiêng sợ hòng ai nấy đều được lợi ích vậy! Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, phải hướng về cung kính mà cầu, đấy chính là thường pháp chẳng thể thay đổi trong suốt mười phương ba đời vậy! Tiếc cho người đời nay phần nhiều coi thường chuyện này; do vậy, chỉ mang cái danh nghiên cứu xuông, chẳng đích thân đạt được thực chứng!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười ba)

       Quang vô tri vô thức, bị ép vào thế bất đắc dĩ, bắt chước cách thức gom lá nhóm cỏ cho xong trách nhiệm, Úy Như lầm lạc lưu truyền, cũng chẳng qua là tạm thời mà thôi, lâu ngày ắt sẽ diệt mất! Nay được các hạ sao lục đưa vào trong những trước tác lớn lao, quyết sẽ được lưu truyền rộng khắp thiên hạ hậu thế. Đúng như câu nói: “Nhặng xanh bám đuôi ngựa Ký nên đi được ngàn dặm”, cảm kích, hổ thẹn khôn sánh! Trong lá thư lần trước, ông đã nói đại lược về Huệ Mạng Kinh, Quang chưa hiểu được ý. Nay nhận được thư, biết các hạ muốn nhổ trọn các cội rễ tà kiến, nêu đích danh sách ấy [là kinh điển tà vạy của ngoại đạo giả danh Phật pháp] và dẫn lời Quang đả phá, bài xích, có thể nói lòng từ sâu xa, lòng bi lớn lao đến cùng cực không gì hơn được nữa! Cảm tạ! Bộ Văn Sao hủ bại của Quang nhờ được các hạ tán dương quá mức sẽ được lưu thông tận phương xa, sẽ có ích lớn lao cho kẻ sơ cơ học Phật. Đợi đến khi người ấy đã biết được đường lối sẽ chẳng ngại gì coi [Văn Sao] như chó rơm[33]. Nếu vẫn coi như khuôn thước thì cũng không phải là chẳng được! Bởi lẽ, pháp không có hơn – kém, được lợi ích tùy nơi mỗi người mà thôi!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười bốn)

       Nhận được thư, các hạ ra rả răn nhắc Quang phải đọc trọn [Phật Học] Đại Từ Điển, càng chứng tỏ lòng các hạ vô ngã rỗng rang dường như biển cả, dung nạp khắp mọi dòng chảy, trọn chẳng khi nào đủ! Quang mục lực suy đồi gần như lòa, thẹn chẳng thể ra sức dò theo từng hàng mực, hổ thẹn khôn sánh! Ngày Hai Mươi Ba mới nhận được bài chú giải Đại Sĩ Bi (văn bia thuật hành trạng của Phó Đại Sĩ) do ông Hoàng [Hàm Chi] biên soạn. Trộm nghĩ văn tự, điển cố trong bài văn bia ấy cực khó thấu hiểu tường tận được. Vì thế, ông Tôn Ngọc Tiên tính cậy các hạ chú giải nhằm phát khởi thiện căn của hết thảy người đọc, ngõ hầu được sanh về Tịnh Độ ngay trong đời này, tương lai sẽ phụ trợ đức Di Lặc trong hội Long Hoa. Lợi ích ấy quả thật chẳng nông cạn! Nay thấy trong bản chú giải của ông Hoàng, phàm những điển tích người khác chẳng dễ biết mỗi mỗi đều được nêu ra, chẳng những Quang và Ngọc Tiên vui mừng, an ủi khôn cùng, mà Di Lặc Bồ Tát nơi cõi Thường Tịch Quang và trời Đâu Suất cũng mỉm cười bảo [ông Hoàng] đã nêu bày thông suốt được bản hoài xuất thế của Ngài! Nếu bài văn ấy được khắc, ắt sẽ được lưu truyền khắp cõi, vĩnh viễn không ngừng.

Quang do vô tri lại muốn giúp lưu thông nên bèn dùng lối đánh số để chỉ ra những chỗ sai ngoa do lưu truyền sao chép trong ấy và những chỗ chưa được giảng giải hết sức thông suốt, viết riêng vào một tờ giấy khác để mong ông ta sẽ lại sửa chữa. Cổ nhân soạn sách chẳng hiềm ba bốn lượt sửa đổi bản thảo. Biết ông Hoàng và các hạ là bạn tâm giao, sẽ trọn chẳng trách móc Quang phiền phức, vụn vặt, mà sẽ vui vẻ sửa chữa để mong sao trong hội Long Hoa thường được Di Lặc Thế Tôn đề cao là bậc đa văn trí huệ đệ nhất. Điều đáng tiếc là núi sông xa xôi cách trở chẳng thể gặp mặt trong khi các vị biên soạn nhằm trọn hết tình bằng hữu thiết tha dùi mài! Những điều tôi đã nêu ra chưa chắc đã đều đúng cả, nhưng ngu kiến của Quang chỉ được như thế mà thôi! Ví như kẻ thôn dã dâng rau cần, đứa bé dâng cát, chỉ trọn hết phận mình, há cứ ắt muốn người khác phải sử dụng ư? Tưởng nghĩ các hạ vô ngã, ông Hoàng cũng sẽ vô ngã, chỉ muốn thành tựu thiện căn cho người lẫn mình, sẽ chẳng đến nỗi chê Quang lắm chuyện! Nếu ông Hoàng chịu sửa đổi thành bản khác thì may mắn chi hơn! Nếu như không chịu, tôi sẽ đem nguyên cảo gởi lại, bảo Ngọc Tiên khắc in thì cũng được!

      Trong quyển bảy của bộ [Phật Học] Đại Từ Điển, trang 1029, phía dưới từ ngữ “ấn hoại thành văn” (ấn nát nhưng dấu khắc trên ấn đã hiện) chú rằng: “Đúc sáp thành ấn, in trên bùn đất”, chưa đích xác! Ở đây là nói về kim nê[34], dùng ấn [đúc hay khắc bằng] sáp áp vào kim nê đang nóng chảy. Do kim nê chưa nguội nên còn mềm mại có thể đóng ấn vào được. Tuy đã bị ấn sáp đóng xuống thành vết, nhưng vì sức nóng của kim nê nên ấn sáp bị chảy tan. Tuy ấn sáp bị chảy tan, nhưng mỗi một nét khắc trên mặt ấn sáp đã đều hiện rõ trên kim nê. Như vậy thì ấn bị hoại, nhưng nét khắc trên mặt ấn đã hình thành, [hai chuyện này xảy ra] cùng một lúc. Nếu hiểu là [đem ấn sáp] in trên bùn đất thì làm sao ấn có thể bị hư hoại cho được? Điều này tuy không quan trọng khẩn yếu, chẳng qua là giãi bày tấm lòng ngu thành của Quang mà thôi!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười lăm)

      Vừa nhận được thư, khôn ngăn hổ thẹn, sợ hãi! Ấn Quang là hạng người nào mà dám nhận lấy lời khen ngợi ấy! Các hạ muốn cho kẻ sơ cơ dễ được nhập đạo bèn dùng phương tiện khéo léo, Quang thật sự khâm phục ngưỡng mộ khôn cùng. Đối với chuyện ông đã rộng thí pháp tài, cảm phục đến cùng cực! Tuy thân Ấn Quang chẳng dư tiền, nhưng gần đây do khắc ván, ấn loát v.v… cũng chẳng ngại vì các hạ làm công đức. Hôm nay nhận được thư của Úy Như cho biết sẽ in Ấn Quang Văn Sao, lại bảo Thương Vụ Ấn Thư Quán sắp chữ để tái bản. Khoản tiền này [do các hạ biếu tặng] ắt phải cầm sang [cho ông ta]. Đợi khi sắp chữ thỏa đáng, sẽ dùng khoản tiền ấy để thỉnh sách Văn Sao hủ bại của Quang nhằm kết pháp duyên. Lại xin ông ta gởi mấy chục bộ theo đường bưu điện tới Phổ Đà để làm pháp thí rộng rãi cho các hạ. Lại nhờ các hạ dặn Thương Vụ Ấn Quán hãy giữ lại bản in để khi cần in lần thứ hai sẽ đỡ phải tốn công sắp chữ lại. Thêm nữa, xin ông dặn họ đừng dùng loại giấy có độ bóng, hãy dùng đúng loại giấy mà ông Từ Úy Như đã dùng để in [trong những lần trước]. Ngày Hai Mươi Bốn, Úy Như đã lên Bắc Kinh, xin các hạ hãy để tâm dặn dò.

Hơn nữa, trong sách Quán Âm Linh Cảm Lục, nơi mặt trước của trang hai mươi hai trong chương thứ năm, đoạn chép về Lương Cung Thần[35], Quán Âm nói với Phạm Vương về mười thứ tướng mạo danh nghĩa của chú tâm, thứ nhất là “đại từ bi tâm thị” (tâm đại từ bi là tướng mạo danh nghĩa của chú Đại Bi), cho đến thứ mười là “vô thượng Bồ Đề tâm thị”. Năm trước, trong sách Phật Học Chỉ Nam, ông đã từng sử dụng cú pháp như thế này: Đem chữ Thị đặt trên đầu mỗi câu, Quang đã từng nói cặn kẽ. Nay lại sử dụng cú pháp như thế, biết các hạ bận bịu nhiều việc trọn chưa thể kiểm nghiệm từng điều. Chuyện này tuy nhỏ nhặt, nhưng để cho bậc thông gia trông thấy ắt sẽ chê cười, còn kẻ chẳng phải là bậc thông gia trông thấy sẽ bắt chước! Cố nhiên Quang lòng dạ thẳng băng, ăn nói thẳng tuột, thường muốn làm hòn đá mài nơi ngọn núi khác nhằm giồi mài cho viên ngọc xứ Kinh[36], cho nên lại thưa rằng: Với từ ngữ A Già La trong hàng thứ mười hai, chữ La (羅) chính là chữ Đà (陀) bị viết sai, [A Già La] tức là thuốc A Già Đà vậy. Có người bạn tặng cho Quang bức tranh vẽ chùa Vạn Niên núi Thiên Thai, nay xin tặng lại để ông có cái ngao du tinh thần.

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười sáu)

      Vừa nhận được thư, biết các hạ có chí mong lợi người nhưng lại thận trọng nơi sự, sợ rằng có chỗ không thích đáng sẽ gây trở ngại cho pháp đạo, đáng gọi là “chân tâm hộ pháp, chân tâm lợi người”. Lại do thấy Quang nghèo nàn tiền bạc, liền đặc biệt gởi cho mười tấm bưu phiếu, cảm ơn lắm. Đời Mạt ít có tri thức thật sự, thường có những gã tục Tăng vô tri dạy người khác niệm Phật, bảo: “Cứ niệm Phật một tiếng thì sẽ có một đồng trong cõi Âm!” Nhưng kẻ ngu thấy biết nhỏ nhoi, nói: “Mỗi ngày niệm Phật mấy vạn tiếng liền có mấy vạn đồng! Buôn bán trong thế gian nhọc nhằn, gian nan, trọn chẳng có được chuyện lợi ích lớn lao như thế ấy”, liền phát tâm niệm Phật coi như phương kế tích tụ tiền tài, trọn chẳng biết tới nguyên do niệm Phật! Do kẻ ấy tâm tâm niệm niệm dùng lòng chí thành để mưu tính tích tụ tiền bạc nên sẽ tùy tâm tùy nghiệp mà hiện thành tiền.

Chuyện của Trương Bân đích xác chẳng phải là ngụy tạo! Điều đáng tiếc là ông ta chưa gặp được bậc tri thức sáng mắt dạy cho biết nguyên do niệm Phật. Nếu biết được nguyên do, dùng cái tâm khẩn thiết ấy để phát nguyện tự lợi lợi người, chắc ông Bân sẽ cao đăng chín phẩm, chứng quả Vô Sanh! Há còn lo tích trữ mấy kho kim tiền để đợi sau này sử dụng trong cõi Âm nữa ư? Còn như vua cõi Âm bảo: “Phàm ai thọ Bát Quan Trai Giới chí tâm niệm Phật một tiếng thì cũng đúc được một đồng tiền bằng bạc” cho thấy người đời dùng niệm Phật để tích trữ tiền [nhằm sử dụng sau khi chết] nhiều lắm, họ chẳng biết tới công đức Niệm Phật, chỉ mong có tiền để dùng sau khi chết, giống như đem Như Ý bảo châu đổi lấy một tấm áo, một bữa ăn! Há chẳng đáng tiếc ư?

Tuy nhiên, do vị Thượng Thư khẩn cầu người thợ bện dép cỏ Bồ nên liền được sống lại để chuộc tội[37]. Tri kiến phàm phu trong thế gian chẳng thể suy lường được công đức của sự phát khởi tâm đại Bồ Đề niệm Phật! Vì thế, ngài Tỉnh Am nói: “Tạm trì thánh hiệu còn hơn bố thí suốt một trăm năm, vừa phát đại tâm sẽ vượt trỗi tu hành suốt kiếp”. Hai câu này đều dựa theo những điều kinh luận đã nói mà nêu rõ, chứ không phải là bịa đặt. Phàm sao lục những sự thật ấy, hãy nên nói rõ chánh lý Phật pháp ở đằng sau mỗi chuyện và chỉ rõ: Phàm phu thấy biết nhỏ hoi, chỉ biết niệm Phật để tích cóp tiền thì tiền ấy sẽ theo cái tâm mà cảm vời, theo cái nghiệp mà hiện ra cho nên thật sự có mấy kho tiền vàng trữ trong chốn âm phủ! Phàm là người niệm Phật, ắt phải phát đại Bồ Đề tâm phổ độ chúng sanh thì trong hiện tại các duyên sẽ thuận thảo, thích đáng, lúc lâm chung chánh niệm vãng sanh. Từ đấy, thoát khỏi hàng phàm phu, dự vào hội thánh hiền, nương theo Phật từ lực và nguyện luân của chính mình trở vào Sa Bà hiện khắp các sắc thân độ thoát chúng sanh. Há nào phải khư khư như viên Thượng Thư chỉ mong được nhờ ân hòng diệt tội ư? [Dẫn giải] như thế sẽ khiến cho người đọc đoạn trừ được những tri kiến kém hèn, mở mang, khơi gợi tín tâm chân thật.

Nếu chỉ sao lục nguyên văn, trọn chẳng bình luận thì kẻ ngu sẽ tưởng niệm Phật chính là một pháp để tích trữ tiền bạc trong cõi Âm! Từ đấy một người xướng, trăm kẻ họa, chỉ mong làm quỷ có tiền, đánh mất chỗ nương dựa để tạo lập công phu vãng sanh Tây Phương! Người trí thấy vậy sẽ chê kẻ biên soạn trọn chẳng có chánh nhãn. Nếu bình luận nguyên do thì đôi điều đều đạt được! Nếu không, cả hai điều đều mất. Những sách vở trong thế gian đều có những chỗ giúp nêu tỏ Phật pháp, nhưng do người soạn chưa mở được chánh nhãn nên thường đến nỗi [dẫn đến hiệu quả] trái nghịch. Như Kỷ Văn Đạt, Viên Tử Tài cực lực muốn làm cho người khác tin sâu nhân quả, nhưng chưa hiểu rõ tự tâm, nên thường viết những câu tự mâu thuẫn, hoặc hiểu lầm tin tức, ngỡ ma cảnh là Phật cảnh, huống là những kẻ khác ư?

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười bảy)

      Vừa nhận được thư và Đại Sĩ Tập, khôn ngăn mừng rỡ. Bài văn Đại Sĩ Bi đã được ông Hoàng [Hàm Chi] chú giải thì ân trạch của [Phó] Đại Sĩ sẽ thấm nhuần khắp mọi quần manh. Tôi gởi thư ngay cho Ngọc Tiên, nói rõ nguyên do và gởi kèm theo thư của các hạ. Chú giải đã xong, nếu cho khắc ván chẳng cần phải nói đến nữa! Nếu không khắc thì sao ông ta lại miệt mài muốn xin các hạ chú giải. Nhưng sau khi chú giải đã soạn xong, sẽ đem nguyên cảo từ chỗ Quang gởi đi, đợi cho ông ta đọc xong thì mới quyết định khắc ván hoặc đúc bản kẽm! Lời hỏi của ông Vạn nên ghi vào phía sau.

      Tác phẩm lớn lao của ông là [Phật Học] Đại Từ Điển chữ quá nhỏ, mắt Quang chẳng thể đọc được! Ngẫu nhiên đọc một hai đoạn, tựa hồ có chỗ cần phải thương lượng, châm chước, nên cũng viết vào sau thư này. Những điều ông giảng giải về từ ngữ “được Phật tiếp dẫn” không sai, nhưng Thiên Thân Luận chính là Vô Lượng Thọ Kinh Luận, cũng còn gọi là Vãng Sanh Luận. Trong Đại Tạng Mục Lục gọi là Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá. Ưu Ba Đề Xá[38] chính là từ ngữ tiếng Phạn để chỉ Luận vậy.

Trong từ ngữ “cách ấm chi mê” thì Ấm có nghĩa là sắc thân, tức Ngũ Ấm. Do điều này, bậc Bồ Tát chưa đoạn sạch Kiến Tư Hoặc trong tam giới hễ thọ sanh thì vẫn còn có cái làm cho họ bị mê hoặc, vì thế gọi là “cách ấm chi mê”. Rất nhiều vị đại căn khí lúc thoạt đầu cũng mê muội trái nghịch giống như phàm phu, nếu gặp được duyên hoặc vừa nghe khai thị liền ngộ ngay lập tức, thật giống như người thuộc hai cuộc đời khác nhau, đấy đều là do đời trước đã gieo thiện căn sâu xa nhưng chưa đoạn được Phiền Hoặc, hễ vừa chuyển sang đời sống khác liền trở thành mê trái. [Kinh luận thường] gọi lúc chưa chết là Hiện Ấm, gọi lúc chết rồi nhưng chưa thọ sanh là Trung Ấm, thọ sanh rồi thì gọi là Hậu Ấm. Hậu Ấm là ước theo lúc chưa chết mà nói, chứ nếu ước theo lúc đã thọ sanh để nói thì phải gọi là Hiện Ấm. Thuyết “cách ấm” chỉ cho điều này!

Gạt bỏ Tây Phương Di Đà, coi đó là chấp lấy pháp ở ngoài tâm; đấy chính là căn bệnh chung của những kẻ tham Thiền nhưng không hiểu được ý, chỉ chấp có tâm, chẳng biết có Tịnh Độ, cũng như [chẳng biết có] vị giáo chủ cõi Tịnh Độ. Ý họ cho rằng: “Hết thảy duy tâm mà Di Đà ở Tây Phương tức là chấp lấy pháp ở ngoài tâm”, chẳng biết: Do hết thảy duy tâm nên Sa Bà chỉ là do sự nhơ uế trong tâm cảm thành, Cực Lạc cũng chỉ do sự khiết tịnh trong tâm cảm thành! A Di Đà Phật ở Tây Phương chính là đức Phật thiên chân nơi tự tánh của chúng ta, đức Phật thiên chân trong tự tánh của chúng ta chính là A Di Đà Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Chẳng thấu hiểu nghĩa lý “duy tâm”, lầm lạc sanh ý niệm lấy – bỏ, lỗi ấy kể sao cho xiết? Ngoài tâm không cảnh, ngoài cảnh không tâm, do tâm tịnh thì cõi Phật tịnh, do tâm uế thì cõi Phật uế. Cảnh thiện hay ác là do tâm thiện hay ác cảm thành. Trọn chẳng có chuyện thiện tâm, tịnh tâm lại cảm ác cảnh, uế cảnh, hoặc ác tâm uế tâm lại cảm được thiện cảnh, tịnh cảnh! Do bởi lẽ ấy cho nên nói: “Ngoài tâm không cảnh, ngoài cảnh không tâm”.

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười tám)

      Nhận được thư, biết sách Phật Học Toát Yếu đã được sửa chữa, ấn hành, rộng kết pháp duyên, khôn ngăn mừng rỡ, vui thích. Ông gởi tới hai mươi cuốn, tôi chưa hề nhận được. Thoạt đầu sợ là được gởi riêng trong một bưu kiện khác, nên chắc sẽ chậm trễ một hai ngày. Vì thế, tính khi nào nhận được sách mới dâng thư phúc đáp. Đến nay vẫn chưa nhận được, sợ bưu cục đã để lạc mất rồi! Nhưng thiện thư ấy hễ có ai xem thì cũng được rồi, cũng chẳng cần phải áy náy vì Quang không được xem! Nhưng gởi nhiều đồ vật qua bưu cục mà vẫn bị như thế, chẳng biết họ đã bao lần làm hư chuyện lớn của người khác? Xin hãy nói rõ với bưu cục để họ lưu tâm.

Đối với những bộ Nhị Thập Sử Cảm Ứng Lục đã được khắc bản, các hạ có được sáu bảy loại thì những chuyện lạ lùng hiếm nghe được ghi chép trong các bộ sử sẽ chẳng bị thiếu sót. Nếu các hạ chịu chọn lọc hết ra để lưu truyền trong vũ trụ sẽ khiến cho những kẻ thiên chấp đoạn kiến và những kẻ chỉ tin vào sử sách chẳng tin vào nhân quả báo ứng được nói tới trong các sách vở khác đều được lợi ích. Ấy là công đức chẳng thể nghĩ bàn, chẳng những có ích cho Phật pháp mà quả thật còn là khuôn mẫu lớn lao cho việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ vậy! Nguyện sau khi đã soạn thành sách rồi sẽ đặc biệt ban cho Quang một bộ nhằm thỏa tấm lòng ngu muội thì tôi cũng chẳng ngại phiền phức, sẽ hướng đến khắp mọi người hữu duyên để tuyên nói!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười chín)

      Vừa nhận được Quán Âm Linh Cảm Lục và Phật Học Sơ Giai do ông gởi tới, khôn ngăn cảm phục. Năm Mậu Ngọ (1918), Quang nhận lời thỉnh của ông Trần Tích Châu tu chỉnh [Phổ Đà] Sơn Chí, Quang tính sưu tầm khắp mọi sự tích linh cảm của ngài Quán Âm trong Đại Tạng để đưa vào trong Sơn Chí, nhằm nêu rõ thật nghĩa nơi Bổn và Tích của vị chủ nhân núi này. Hiềm rằng mắt vẫn lòa như cũ, không cách nào viết lách được, nay thấy bản biên tập của các hạ, khôn ngăn mừng cho chúng sanh không nơi nương tựa trong cõi Sa Bà đã có được nơi che chở. Tôi sẽ cất giữ [cuốn sách này] trong phòng chứa kinh. Nếu vạn nhất được toại nguyện, mắt được sáng lại, sẽ thực hiện ý nguyện sửa chữa, tu chỉnh Sơn Chí lần nữa, ắt sẽ chọn lọc sử dụng tài liệu trong cuốn sách này nhằm đáp tạ ân lớn lao của Đại Sĩ, hòng an ủi nỗi khổ tâm của các hạ, mà phẩm sen của lệnh nghiêm, lệnh từ cũng sẽ được chuyển cao lên hơn nữa.

Cuốn Phật Học Sơ Giai tôi sẽ đem tặng cho người có tín tâm để rộng kết pháp thí cho các hạ. Bát Đại Nhân Giác Kinh do ông gởi khi trước tôi đã nhận được rồi. Ông sai tôi viết lời đề từ cho cuốn Phật Học Sơ Giai thì tôi văn từ thô lậu, quê mùa, chẳng thể nêu tỏ ý nghĩa của cuốn sách ấy được! Do vậy, chẳng qua là làm chuyện tắc trách mà thôi!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ hai mươi)

      Quang vốn là chủng tử địa ngục hủy báng Phật pháp, may mắn nhờ vào thiện căn đời trước, giữa chừng giác ngộ xuất gia tu trì Tịnh nghiệp để mong thoát khỏi cõi khổ não này mà thôi! Nào ngờ [Mã] Khế Tây cứ muốn ép tôi vào địa ngục A Tỳ, biến tôi vốn là chủng tử địa ngục rốt cuộc thành một vị Bồ Tát sống! Hay thì hay thật đấy! Nhưng Diêm La đại vương quyết chẳng chấp nhận đem phàm lạm thánh, ắt sẽ phải mời tôi là một vị Bồ Tát giả tới hiển hiện thần thông trong vạc sôi, lò than, rừng gươm, núi đao v.v… nơi ấy! Sợ rằng sẽ phải đem đầu mặt giao nộp mà thôi! Chẳng những không thể sanh về Tây Phương mà còn sợ rằng sẽ phải thường ở mãi trong địa ngục A Tỳ không thể thoát ra! Nếu ông thương xót tôi, quyết sẽ đem truyện[39] ấy đốt sạch hết đi khiến cho ông ta chẳng còn làm những chuyện bịa đặt sáo rỗng ấy nữa thì may mắn muôn phần, vạn phần vậy!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ hai mươi mốt)

      Nhận được thư và sách Tam Tạng Pháp Số[40], khôn ngăn mừng vui, an ủi. Nhưng Quang cứ một mực muốn in phần Thư Căn[41]. Sau này hễ in sách, đều cần phải in chữ nơi phần Thư Căn để tiện kiểm tra phòng ngừa sách bị mất trang. Cách ấy chính là cách tốt đẹp để bảo tồn sách vở vậy. Cao Tăng Truyện còn phải đợi ba năm nữa mới khắc ván được, năm năm nữa mới in ra sách được! Trong sách ấy bị sai ngoa rất nhiều vì Dụ Muội Am nghề nghiệp bận bịu, cậy người khác biên soạn giùm; khi biên chép, trình bày đều không giảo duyệt tường tận. Ông ta lại đôi ba lần cậy Quang giảo chánh, nhưng Quang quả thật suốt ngày không có lúc rảnh rỗi. Hôm nay ông ta gởi thư đến nói: “Dù phải chậm trễ ba năm cũng không đáng lo ngại!” Nhưng các sách [ông ta] đã đọc phần nhiều đều là các tỉnh phủ huyện chí, những sách được liệt kê tuy không nhiều lắm, nhưng những sai sót trong ấy cố nhiên chẳng ít. Ông đáng gọi là bậc đọc rộng rãi các sách, phàm những điều nào không có trong các truyện về những bậc cổ đức lỗi lạc xin hãy đều sao ra, phán đoán thời đại của các vị ấy để lúc khắc ra sẽ tùy theo từng loại mà ghép vào phần trước hay phần sau [bộ sách này].

Hơn nữa, tập sách này không có lời bình luận, Quang tính thỉnh ông Hứa Chỉ Tịnh viết lời bình luận [dưới mỗi truyện] cho giống với thể tài của ba tập trước. Hơn nữa, ba tập [cao tăng truyện các đời] Lương – Đường – Tống đều có thiếu sót. Nếu ông đọc các sách cổ thấy có vị cổ đức lỗi lạc nào mà trong Cao Tăng Truyện chưa có thì cũng nên sao ra để soạn thành phần Bổ Di[42] in kèm sau sách. Ông Hứa Chỉ Tịnh bút lực vượt trỗi vạn người, văn chương lừng lẫy một thuở, hiện đang biên soạn bộ Quán Âm Cảm Ứng Tụng cho Quang. Phần chánh văn đã biên soạn xong, Quang bảo ông ta viết thêm lời chú, sẽ hoàn tất vào tháng Ba năm sau thì ân trạch của Đại Sĩ sẽ được thấm nhuần khắp hoàn vũ vậy!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Châu Quần Tranh

      Hòa Thượng Liễu Thanh đưa thư của ông cho tôi đọc, cảm kích sâu đậm tấm lòng chân thật vì pháp của cư sĩ. Ông yêu mến tôi tới tột bậc, nhưng chẳng biết cách yêu mến, nên chẳng thể không trình bày đại khái để dứt nghi tình. Bộ Phật Môn Vựng Tải được biên soạn nhằm chấn hưng pháp đạo, chỉ dạy kẻ ngu mê, nếu [tác phẩm nào] lý không đạt tới mức uyên thâm, bút mực không siêu diệu như biển rộng trời cao, vàng rung, ngọc chạm, khiến cho người khác vừa đọc sẽ sanh lòng tỉnh ngộ mạnh mẽ như trong đêm tối nghe tiếng chuông sẽ tỉnh ngay giấc mộng hư huyễn thì làm sao đáng đưa vào trong ấy! Ấn Quang là một ông Tăng tầm thường, trăm sự chẳng làm được một, mắt lại còn bị tật đã lâu, chẳng thể đọc khắp các kinh luận, lại trọn chẳng có tánh nghe, nghe xong liền quên sạch, trọn chẳng nhớ được tí ti nào! Làm sao có thể dự vào trong hội tốt lành ấy cho được? Trong mấy chục năm qua, không có chuyện gì [cần thiết] thì tôi chẳng gần gũi bút mực. Úy Như sưu tập những bản văn hủ bại đem khắc ván là đã quá phận rồi, huống chi nay lại giao cho Thời Sự Tân Báo Quán ư?

Tục ngữ có câu: “Không gạo không sao nấu cơm được!” Không phải là Quang chẳng muốn được thể diện, nhưng do không có gạo nên chẳng thể đem đất, đá, trấu, tấm giả làm món ăn ngon lành khiến cho người khác chê cười! Đối với dòng họ ngoài đời, năm tháng xuất gia, những chỗ đã trụ, những chuyện đã làm, đấy chính là những dữ liệu về bậc đại thông gia có công đối với pháp đạo nên được người đời sau sao chép để nêu gương nhằm phát khởi cái tâm kính ngưỡng, mong mỏi, hâm mộ của người khác nên không thể nào chẳng làm như vậy. Còn như Quang là một ông Tăng tầm thường, ngoài chuyện ăn ngủ ra, trọn chẳng biết gì cả, trọn chẳng làm được gì! Sao đáng để noi theo khuôn sáo ấy? Dùng khuôn sáo ấy sẽ trở thành khắc phân người giả làm Chiên Đàn, đẹp thì đẹp mặt thật đấy, nhưng chỉ thối tha, không thơm tho gì! Cũng giống như đem đất, gỗ giả làm vàng ngọc, choáng lộn thì choáng lộn thật đấy, nhưng chỉ có sắc chứ chẳng thể tỏa sáng được! Khi chưa xuất gia, Quang đã coi chuyện hư trương thanh thế là điều đáng thẹn, huống chi nay đang muốn theo gót các vị thượng thiện nhân ưu du trong thế giới An Dưỡng! Há chịu biến không thành có để lừa đời, dối mình ư?

      Một câu Nam Mô A Di Đà Phật chỉ cần niệm cho thuần thục thì thành Phật còn có thừa, không học Mật pháp nào phải áy náy gì? Mỗi ngày niệm Phật ba chục vạn câu thì ý căn lẫn thiệt căn đều nhạy bén, nhưng đừng chỉ hâm mộ niệm cho nhiều! Hãy nên dốc sức nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối mà thôi! Hơn nữa, những kẻ tu hành phù phiếm, hời hợt hiện thời phần nhiều đều chẳng tu hành chân thật, chỉ mong được hư danh. Quang từng thấy rất nhiều kẻ công khóa hằng ngày niệm Phật tới mười vạn câu Di Đà, nhưng đều là phô phang thanh thế sáo rỗng nhằm dối mình lừa người mà thôi! Hễ nhiễm phải thứ tập khí ấy thì sẽ chỉ nhọc nhằn chứ không có công hiệu gì đâu! Nhỏ thì sẽ biến không thành có, lớn thì đem phàm lạm thánh, chẳng những không có công lao gì mà tội lỗi cũng chẳng thể nói trọn hết được!

      Hiện nay tăng nhân tuy nhiều, nhưng kẻ có thể hoằng pháp thật ít. Do thỉnh pháp sư chẳng dễ, cho nên đến nỗi như thế. Nhưng nghe kinh giống như tu trì Tịnh nghiệp, hễ nêu rõ nguyên do của tự lực và tha lực thì sẽ có lợi lớn lao. Nếu chỉ cầu thông đạt giáo nghĩa, chẳng chú trọng Tịnh Độ thì sợ rằng sẽ không có sức đoạn Hoặc chứng Chân. Muốn đới nghiệp vãng sanh mà lại chẳng sanh tín nguyện thì tuy có Phật lực nhưng không có cách nào nương cậy, sẽ trở thành kẻ có nhân không quả, nghiệp thức mờ mịt! Cần biết rằng: Những giáo pháp được nói trong suốt một đời đức Phật đều thuộc về pháp môn tự lực, chính là giáo lý theo đường lối thông thường; còn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt, hoàn toàn cậy vào Phật lực. Nếu có thể đoạn Hoặc chứng Chân ngay trong đời này thì chẳng cậy vào Phật lực cũng chẳng mắc lỗi gì! Chứ nếu đã không thể đoạn Hoặc chứng Chân ngay trong đời này mà lại chẳng cậy vào Phật lực thì nếu không ngu ắt cũng là cuồng! Những bậc đại thông gia hiện thời thường là như thế đấy, buồn thay!

      Người học đạo chuyện gì cũng phải noi theo thật tình, cuối thư há nên dùng chữ “trăm lạy” sáo rỗng? Chắc là ông nghĩ khuôn phép sáo rỗng ấy là cung kính đấy chăng? Từ nay về sau đừng nên như thế nữa! Chỉ nói “đảnh lễ” là được rồi!

      Thư của Lâm Tâm Liên hỏi về Lý Trác Ngô. Người này cũng thuộc hạng “tưởng chừng là đúng mà thật ra là sai!” Xét ra, ông ta xuất gia nhưng không thọ giới, liền tự nói pháp, tới khi người trong vùng chê là tà thuyết, ngông cuồng, trái nghịch, bèn đội mũ làm nhà Nho. Xét theo học thức của Trác Ngô, làm sao có thể phô bày, đề cao tâm pháp của Thích – Nho được? Ông ta đột ngột hoàn tục tức là hành vi không có đường lối nhất định, cứ làm bừa theo ý mình. Há còn đáng gọi là bậc quân tử hiểu lý, thấu hiểu tận cùng tánh hay chăng? Cuốn Cư Sĩ Truyện[43] đặc biệt viết truyện về ông ta, quả thật là đề cao quá đáng! Sợ ông Lâm vẫn chẳng chấp nhận lời Quang là đúng, vì thế tôi viết kèm thêm vào thư gởi cho ông.

      Ông muốn xuất gia đã lâu, chẳng biết khẩn thiết như thế nào? Nay thấy [cách xử sự khi] ông ở chùa Thái Bình thì cũng là phường hời hợt, hờ hững. Tức là ông muốn xuất gia chỉ nhằm cầu được thanh nhàn, tự tại mà thôi! Nếu thật sự muốn tu trì sẽ chẳng đến nỗi thong dong, lửng lơ như thế!

      Kinh Lăng Nghiêm có gì mà chẳng thể nghiên cứu được! Nhưng cần phải lấy Tịnh Độ làm chủ thì hết thảy kinh sẽ xiển dương lợi ích của Tịnh Độ. Phần mở đầu kinh Lăng Nghiêm gạn hỏi cái tâm khó khăn như thế thì biết chúng sanh đời Mạt nếu cứ muốn nghiên cứu [kinh điển xuông] để giải quyết sự việc thì sẽ tự lầm, lầm người lớn lao! Huống chi trong phần Hai Mươi Lăm Pháp Viên Thông, kinh xếp pháp Viên Thông của ngài Thế Chí trước pháp Viên Thông của ngài Quán Âm, hàm ý lấy Tịnh Độ làm [pháp môn] chủ yếu cũng lớn lao thay! Đến phần giảng rõ về cảnh Ngũ Ấm Ma, [Phật dạy] kẻ phá được hai ấm Sắc và Thọ mà vẫn còn có chuyện bị ma dựa, đủ thấy sự khó khăn khi dùng tự lực để liễu sanh tử, sự dễ dàng khi dùng Phật lực để liễu sanh tử. Nghiên cứu được như thế thì sẽ có lợi ích lớn lao.

Phàm khi nghiên cứu, ắt phải lắng lòng, dứt bặt suy nghĩ, ngưng thần đọc kỹ thì sẽ như vào trong đảo châu báu lớn, ắt sẽ có thu hoạch. Nếu chỉ mong đọc ào ào cho nhanh, hận chẳng vừa đọc là xong ngay, thì chẳng những không hiểu được nghĩa lý của kinh mà lâu ngày chắc sẽ bị bệnh đến nỗi tổn khí, thổ huyết v.v… Người khéo được lợi ích, không gì chẳng tạo lợi ích; kẻ cam chịu tổn hại, không gì chẳng phải là tổn hại! Kinh Lăng Nghiêm quả là bản kinh mầu nhiệm để hoằng dương Tịnh Độ, nhưng kẻ chưa hiểu pháp môn Tịnh Độ thường do kinh Lăng Nghiêm mà ngược ngạo coi thường pháp môn Tịnh Độ. Đấy gọi là “kẻ nhân thấy là nhân, kẻ trí thấy là trí”, do chính mình chưa có đủ chánh nhãn, cứ cậy vào ý kiến của chính mình để hiểu ý kinh mà ra!

Lăng Nghiêm quán nhiếp[44] khá rõ ràng, nhưng giải thích kinh văn dễ dàng, rõ ràng nhất thì không gì bằng sách [Lăng Nghiêm] Chỉ Chưởng; nhưng đa số những chỗ trọng yếu trong Chỉ Chưởng lại không theo sát kinh văn, đấy là do mỗi người khéo hiểu mà thôi! Thoạt đầu cần phải nghiên cứu Tịnh tông đến chỗ không còn bị dao động, mê hoặc thì mới có thể đọc rộng rãi các kinh luận. Nếu chưa hiểu rõ Tịnh tông, hễ đọc rộng rãi các kinh luận sẽ khó khỏi bị kinh giáo hoặc lời lẽ của tri thức xoay chuyển, ngược ngạo gác bỏ Tịnh Độ ra ngoài. Người đời nay hễ hiểu kinh giáo đôi chút bèn chú trọng nơi nghiên cứu, hễ hơi hiểu Thiền ý bèn chú trọng nơi tham cứu. Nguyên nhân nói chung là do họ không biết chính mình là nghiệp lực phàm phu chẳng thể tự chứng giải thoát được! Cái cực thâm diệu nằm ở chỗ cực bình thường! Ví như một câu Phật hiệu vốn cực bình thường, nhưng niệm tới cùng tột thì trăm ngàn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa đều có thể hiểu được! Lại như gốc cây, vốn cực bình thường, nhưng sanh rễ, nẩy mộng, đâm cành, trổ nhánh, nẩy lá, đơm hoa, kết quả, thật mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn! Vì thế, kẻ biết nhìn vào, biết thực hiện cái bình thường thì chính mình mới thật sự có sở đắc. Nếu chỉ biết thâm diệu thì phần nhiều khó thể tận tụy thực hiện được, trở thành kẻ chỉ biết nói những lời lẽ thâm diệu mà thôi!

      Lệnh hữu bị bệnh, chỉ nên khuyên ông ta trở về nhà dưỡng bệnh. Vàn muôn phần chớ nên để ông ta tới Phổ Đà; do ông ta quen thói kẻ cả, thức ăn phải nấu nướng khéo léo, nhà cửa phải lộng lẫy, người hầu hạ phải lanh lợi, hễ gặp một chuyện gì không vừa ý liền sanh phiền não! Ở Pháp Vũ chẳng có một điều nào hợp ý ông ta được đâu! Huống chi ông ta tự cao tự đại, trọn chẳng có tín tâm, tuy anh ông đã ghi tên xin quy y giùm ông ta, thế mà khi Quang đến Thượng Hải, ông ta trọn chẳng có một lần nào đến thăm hỏi (Quang không trách ông ta bất kính, nhưng do vậy biết ông ta tự đại cũng như thiếu hẳn tín tâm). Làm sao tới núi dưỡng bệnh cho được? Nếu chẳng nói rõ những chuyện này, chắc ông ta sẽ nghe theo lời hai anh em ông khuyên, đường đột chẳng nghĩ thân phận, tánh tình của mình như thế nào, Pháp Vũ là nơi chốn như thế nào để rồi đến ngay, sẽ trở thành chướng ngại, không bao lâu sẽ phải bỏ đi, đâm ra bị tổn hại vô ích! Ngàn vạn phần đừng khuyên ông ta tới núi kẻo đến nỗi đôi bên đều bất an.

      Sư Hoằng Nhất chỉ muốn làm một gã tự giải thoát, muôn phần chẳng thể đảm nhiệm sự việc được! Do thầy ấy tâm hạnh tỉ mỉ, tinh tế, hễ phải đảm nhiệm công việc sẽ bị tổn thương, hễ bị tổn thương sẽ phải bỏ cuộc giữa chừng. Nếu tự mình dụng công thì sẽ được yên vui.

      Mua loài vật phóng sanh, nếu dựa theo lý rốt ráo “tự thương, thương người” để luận, [khi con vật bị chết trước lúc được phóng sanh] cố nhiên nên đem chôn, chớ nên đổ xuống nước khiến xác con vật đã chết trôi lềnh bềnh trong nước, rốt cuộc chẳng phải là kế sách tốt đẹp! Nếu bảo là vì nó đã chết, liền đem cho người khác ăn và thí cho người nghèo ăn thì cũng không phải là không được. Hãy nên bảo người ăn niệm Phật cho con vật đã chết ấy thật nhiều bởi nó là con vật được phóng sanh; nếu không, ăn vào sẽ bị mắc tội. Nếu có thể niệm Phật cho nó thì đôi bên đều được lợi ích. Dùng điều này để khuyên bảo thì cũng có thể dẫn dụ người ăn kia gieo được chút thiện căn. Dẫu chưa thể thả được sanh vật thì đối với những thức ăn do chính mình sắm sửa, hãy nên niệm Phật cho nó thì đôi bên cũng đều được lợi ích. Ông chấp chặt hẹp hòi như thế, cho rằng đã nói quy y niệm Phật thì không được ăn, tức là dạy kẻ ăn thịt nhất loạt chẳng niệm Phật! Những kẻ ăn thịt ấy chỉ biết thịt là thứ có vị ngon, chẳng biết sau này khi chính mình cũng sẽ là thức ăn có vị ngon để cho người khác giết ăn thì trong tâm họ mới cảm thấy khó chịu. Kẻ ấy đã chẳng hiểu sự việc như thế thì đành để mặc cho kẻ ấy sau này đợi người khác giết ăn là được rồi; cần gì phải phí sạch tâm tư khuyên nhủ hắn! Hắn đã mong cầu được người khác ăn hắn, ông khuyên hắn đừng muốn tìm cầu sự khổ ấy, đâm ra trong tâm hắn lại chẳng yên vui! Cứ để mặc hắn đi, để cho hắn đem thân làm món ăn cho người khác; đến lúc ấy, dẫu tâm can đau xé cũng vô ích. Khi ấy hắn sẽ tự hiểu sự sai lầm trong lúc này và lời ta đã nói với hắn chẳng phải là dọa dẫm thì cũng đã muộn rồi!

      Thuốc là vật dùng để trị bệnh, hễ bị bệnh do nghiệp gây ra thì thuốc men chẳng làm gì được cả! Huống hồ sắp chết thì thuốc có thể hồi sanh được hay chăng? Dẫu không phải là do nghiệp gây ra mà chí tâm niệm Phật thì cũng sẽ tự chẳng sanh bệnh. Mắc bệnh thì uống thuốc cũng được! Nếu chuyên trông cậy vào thuốc thì nhà phú quý, nhà thầy thuốc sẽ không có ai bệnh tật, đều trường thọ cả rồi!

Những kẻ ăn thịt kia do tâm tham sai khiến, muốn bảo họ đừng ăn thì phải từ nhân quả báo ứng và nỗi đau khổ, oán kết phát sanh vì bị giết hại mà nói thì mới dễ lay động lòng người được! Nếu chỉ biện minh là tịnh hay bất tịnh thì đấy chỉ là sự việc nơi cành nhánh. Hơn nữa, người ta đã muốn ăn thì đâu cần bận tâm thịt là thứ bất tịnh! Trước kia, có một vị đại cư sĩ hoằng pháp mấy chục năm, nhưng hằng ngày vẫn ăn thịt (tên của vị này Quang chẳng nói, ông cứ suy ra là biết liền), huống chi những kẻ hời hợt, hờ hững ư? Nếu ông thật sự muốn làm lợi người khác, hãy nên lưu truyền những lời răn dạy cực thống thiết của cổ nhân. Còn như trong bài văn ông đã soạn, ông nêu ý nghĩa “một người phóng sanh thì mười nhà được hưởng lợi ích” và thuyết “những thứ ấy chẳng phải là tam tịnh[45] nhục” thì đấy chính là những nghĩa lý chi ly, vụn vặt, phiền phức của các vị giảng sư. [Nghe nói về những nghĩa ấy], kẻ có tín tâm thì còn sanh được thiện tâm, chứ kẻ không có lòng tin chắc sẽ phỉ báng.

Tôi đã nhận được bài văn Mười Thứ Lợi Ích, đem tặng hết rồi. Suy nghĩ cặn kẽ thì thấy những điều được nói trong bài văn ấy sẽ có thể khiến cho những gã đứng ngoài cửa dấy lên lời dị nghị, hễ tặng hết bài văn ấy xong hãy đừng in nữa thì hơn. Tôi chẳng bảo những lời ông nói không đúng, chỉ là chưa nói được cương lãnh trọng yếu. Cương lãnh trọng yếu là ở chỗ nào? Chính là ở chỗ [sát sanh] sẽ kết oán thù triền miên, đời đời kiếp kiếp tàn sát lẫn nhau. Ông chỉ nên chí tâm niệm Phật để làm phương kế siêu thoát cho những kẻ giết chóc và những con vật bị giết chóc thì sẽ có lợi ích lớn lao. Nếu khăng khăng đem bài văn ấy đăng trong các tờ báo Phật giáo thì rốt cuộc có được mấy ai xem? Vợ và em gái ông nhất định muốn dùng thịt để đãi khách, hai người ấy chết đi chắc chắn phải biến thành lợn, dê, gà, vịt, tôm, cá. Nếu chẳng biến thành những thứ bị người khác giết để ăn thì trời đất cũng sẽ đổi vị trí, mặt trời, mặt trăng sẽ xoay sang phương Đông. Vì sao vậy? Do nhân như vậy nên phải cảm quả như vậy. Xin hãy đem lời này của Quang đưa cho họ xem, chắc còn có thể cứu được! Nếu không, chắc họ sẽ thường biến thành món ăn ngon nhất cho người ta đãi khách, chẳng biết họ sẽ vừa lòng thỏa ý hay đau khổ mong mỏi được cứu nhưng vạn phần chẳng có cơ duyên được cứu? Trong cõi đời, những người ăn chay phần nhiều khỏe mạnh, những ai ăn thịt thường lắm bệnh tật. Do ăn thịt trược ác nên dễ sanh dục tâm, ăn chay thanh tịnh nên dục tâm nhẹ ít. Kẻ ngu chẳng hiểu lý, tưởng ăn thịt để bổ dưỡng con người, đấy là muốn cho cả mình lẫn người sẽ đều biến thành súc sanh trong đời kế tiếp và đời sau, chẳng đáng buồn ư?

      Ông nay muốn cầu được vãng sanh Tây Phương ngay lập tức, ý niệm ấy cũng tốt, nhưng chỉ nên thuận theo nhân duyên của chính mình. Nếu đặc biệt khởi lên cái tâm quyết liệt, cứ mong được vãng sanh ngay thì sẽ trở thành cái gốc để bị ma dựa đấy! Cái họa mai sau làm sao tưởng tượng được! Sách Trung Dung có câu: “Quân tử tố kỳ vị nhi hành. Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn” (Quân tử hành xử theo đúng địa vị; gặp cảnh hoạn nạn bèn cư xử theo đúng cảnh hoạn nạn). Cách cư xử theo đúng cảnh hoạn nạn ấy nay ông hãy nên bắt chước làm theo. Gặp cảnh tật bệnh, phiền não bèn cư xử theo đúng cảnh tật bệnh, phiền não, coi chính mình là kẻ thường bị bệnh tật thì không có cái tâm bộp chộp mong gấp được lành, cứ nhất tâm niệm Phật thì mới chóng lành. Thấy quyến thuộc đáng giận hay đáng yêu liền nghĩ những người ấy chính là hòn đá thử vàng để ta trui luyện công phu nên đặc biệt đối với kẻ đáng giận sẽ chẳng sanh lòng giận, đối với kẻ đáng yêu sẽ chẳng sanh lòng yêu. Đấy gọi là “chuyển phiền não thành Bồ Đề, chuyển bệnh khổ thành an lạc”. Nhất tâm niệm Phật cầu mau được vãng sanh. Nếu như chẳng thể vãng sanh được ngay, chớ nên khởi lên tâm niệm bộp chộp, mong gấp đạt được thì bệnh khổ sẽ tự tiêu diệt, quyến thuộc sẽ tự hòa thuận tốt lành. Xin ông hãy suy nghĩ sâu xa. Bệnh chưa hoàn toàn bình phục hẳn, trọn chớ nên gần nữ sắc!

      Hiện thời trừ đề xướng nhân quả báo ứng và giáo dục trong gia đình ra, sẽ chẳng thể nào cứu vãn được đâu! Giáo dục trong gia đình phải rất chú trọng tới nhân quả báo ứng. Các vị Lưu, Trì đáng gọi là biết bệnh, biết thuốc, nhưng chưa đề cập đến giáo dục trong gia đình thì vẫn chưa thể viên mãn đầy đủ. Xin hãy nói tường tận với các vị ấy.

      Đức Như Lai thuyết pháp đều thuận theo tình người, chẳng ép người khác làm chuyện khó khăn. Như kẻ thọ giới Ưu Bà Tắc, hoặc thọ một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn điều, hoặc thọ trọn đủ, đều tùy theo ý muốn của con người. Ngay như giới dâm, kẻ xuất gia phải đoạn hoàn toàn, chứ với người tại gia chỉ ngăn cấm tà dâm. Bởi lẽ, nam nữ lập gia đình có quan hệ lớn với luân thường nên chẳng ngăn cấm; nhưng đã thọ giới nhà Phật thì ắt phải tiết dục. Nếu chẳng vì [có người nối dòng để] thờ phụng tổ tiên, chỉ mong vui sướng, tuy chẳng phạm giới vẫn phạm lỗi lớn; chẳng qua so với tà dâm thì giảm nhẹ hơn mà thôi! Bồ Tát sống trong cõi tục tuy cũng có vợ con nhưng không có dục niệm, cũng vì thuận theo tình cảm con người mà có lúc làm chuyện vợ chồng, bởi phàm phu chẳng thể vô tình. Nếu muốn trọn chẳng thân ái, chắc sẽ tạo thành oán hận đến nỗi khởi lên họa hại hủy báng Phật pháp. Chẳng những không thể tăng trưởng thiện căn mà còn tạo thành nghiệp hủy báng, đọa lạc trong ác đạo. Vì thế, trước hết phải dùng dục để lôi kéo, sau mới làm cho con người tiến nhập Phật trí. Đấy chính là lòng đại từ bi uyển chuyển thuận theo tình cảm của con người, khéo bày phương tiện. Chỉ nên tiết dục, bất tất phải tuyệt dục. Mỗi quý (ba tháng) gần gũi một lần, ngõ hầu vợ chẳng đến nỗi mang nỗi khổ oán vọng mà sự tu trì của ông cũng chẳng bị trở ngại, lại còn có thể dẫn dụ vợ tu trì Tịnh nghiệp.

Hãy nên nói: “Nếu chẳng tu hành Tịnh nghiệp sẽ vĩnh viễn tuyệt giao!” Cô ta sẽ gắng sức thực hành. Đối với chuyện có sanh con hay không, chẳng cần phải bàn đến nữa! Bởi lẽ anh em ông thật đông con, há cứ cần chính mình phải có con thì mới chẳng tuyệt dòng nối dõi tổ tiên ư? Ấy là vì vợ chồng ăn ở với nhau bởi có túc duyên. Chẳng thể làm cho vợ mình gieo thiện căn, nỡ lòng bỏ mặc cô ta đọa trong ác đạo ư? Kinh Thi có câu: “Thê tử hảo hợp, như cổ cầm sắt. Huynh đệ ký hấp, hòa lạc thả trạm. Nghi nhĩ thất gia, lạc nhĩ thê noa” (Vợ con hòa hợp, như gảy đàn cầm, như đánh đàn sắt. Anh em hòa thuận, vui sướng, yên ổn. Gia đình êm ấm, vợ con vui vầy). Khổng Tử nói: “Phụ mẫu kỳ thuận hỹ hồ!” (Cha mẹ đẹp lòng vậy thay). Ông nhất ý tu hành, đoạn tuyệt dục sự, chắc cô ta sẽ oán hận triền miên, hoặc đến nỗi uất ức mà chết. Nếu ông quả thật đạt được Thượng Phẩm Thượng Sanh thì không bị trở ngại lớn lao gì. Nếu không, sẽ mắc lỗi trái ý cha mẹ, trở thành kẻ oán đối của vợ thì cũng là phiền lụy lớn lao, so với nỗi phiền lụy do nới lỏng dục sự đôi chút thì sẽ sâu đậm hơn nhiều lắm! Quang là Tăng nhân, trọn chẳng khuyên người khác tạo nghiệp. Người ta đã đem thân giao phó cho ông thì hãy nên trọn hết đạo vợ chồng. Chuyện này chính là nghĩa trọng yếu trong đường tu hành, là điều chí tình nơi luân thường. Xin ông hãy phát Bồ Đề tâm, dẫn dắt cô ta là kẻ chẳng biết “dục chính là cội khổ” cùng sanh về thế giới Cực Lạc vô dục, ngõ hầu chẳng phụ đời trước có duyên với nhau, đời này làm vợ chồng vậy!

      Lại nữa, nếu vợ sanh con thì sẽ là phiền lụy lớn lao. Không con thì sẽ yên vui tột bậc! Nhưng cháu cả một bầy, chứ đâu phải chẳng có đứa con nào! Luận sát sao theo sự thật thì ông có phước thù thắng hơn anh em ông nhiều lắm, nhưng người đời phần nhiều chẳng thấy được điều này, nên suốt cả đời làm đầy tớ cho con cái. Thử suy nghĩ sẽ thấy quả thật là một điều may mắn lớn lao! Lời này tuy trái nghịch tình cảm, nhưng thật ra là chí lý chí tình.

      Bảy anh em của ông nội lệnh hữu do cùng một cha sanh ra, con cháu của ông nội thứ năm[46] đều là hậu duệ của cùng một ông cố. Vì hai gian nhà cho thuê thâu nhập hơn ba trăm đồng liền muốn kiện nhau nơi cửa quan, chắc sẽ tốn bộn tiền. Chuyện kiện tụng chỉ là khoe tài cãi lý, muốn biến vô lý thành chuyện hữu lý! Nếu họ khởi lên ác tâm, thốt ra lời ác [chửi bới, tranh chấp nhau], sẽ khiến cho người chung quanh cũng như người đời xầm xì: “Nhà ấy tổ đức đã suy nên lũ con cháu trong cùng một nhà tranh chấp lẫn nhau, anh em bêu riếu nhau!” Nhục lây đến tổ tiên, tội không chi lớn hơn nữa! Chuyện nhỏ tí tẹo trong gia đình, hãy nên nghĩ đến ân đức tổ tiên mà đặc biệt rộng lượng, chớ nên [xử sự] giống như tranh chấp cùng người đời! Dẫu là đối với người trong cõi đời đi nữa, vẫn nên làm chuyện nghĩa, chỉ mong cho ai nấy được sống yên vui, dẫu ngàn vàng cũng chẳng nuối tiếc! Huống chi [ai nấy] đều là hậu duệ của cùng một cụ cố hay sao?

Bảy chi họ đều có sản nghiệp, chi dụng trong nhà cố nhiên chẳng cần phải nhờ vào mối thu nhập ấy để sống còn, sao lại ăn thua đủ với nhau, chẳng ai chịu nhường ai? Vì tranh chấp món tiền mấy chục đồng ấy mà kiện nhau ra cửa quan, chưa chắc bảy chi họ đã khỏi phải tốn một đồng nào! Dẫu chẳng phải tốn một đồng nào đi nữa, không gì bằng chôn vùi tổ đức, nỗi nhục ấy còn quá bại gia phá sản! Chỉ vì một chi họ tuy vẫn đủ ăn, nhưng toan độc chiếm tài sản chung do tổ tiên để lại, đến nỗi sáu chi họ kia cùng dấy lên cái tâm bất bình, tức là đã vứt bỏ tổ tiên ra ngoài, chỉ muốn mưu tính cho con cháu [của chi họ mình] được giàu có, trái nghịch tổ đức, phạm các điều ác! Đừng nói là hơn ba trăm đồng, dẫu cho ba trăm vạn đồng đi nữa cũng chẳng phải là điều phước cho con cháu mà chính là chuốc họa cho con cháu để mong cho chúng bị tuyệt diệt đấy! Đọc sách hiểu lý, sao lại tăm tối đến như thế?

Hãy thử xét xem: Xưa nay những ai giúp người lợi vật, tôn kính tổ tiên, thương yêu cho dòng họ, con cháu không ai chẳng nắm địa vị cao, hưởng phước dầy, đời đời kế thừa tổ đức triền miên chẳng dứt? Kẻ chỉ biết lợi mình, chẳng đoái hoài tổ tông, đất nước, nhân dân, không ai ba đời chẳng nối tiếp nhau tuyệt diệt hay chăng? Vì sao vậy? Do căn bản tâm địa đã hoại, giống như dùng nước có chất độc để tưới tắm cây hoa, lúa, đậu, chẳng những vô ích mà còn có hại! Nếu một chi họ đã như vậy thì sáu chi họ kia há nên bắt chước ăn thua đủ, cứ muốn “cá đối bằng đầu” với họ, trọn chẳng muốn chiếm địa vị cao cả, cứ nhất quyết phải cùng với họ chen chân vào chốn hèn hạ ô uế ư?

Hãy nghĩ xem: Nếu tổ tiên chẳng để lại căn nhà ấy thì có còn làm người được hay chăng? Lại may mắn là tổ tiên để lại lắm của cải, chứ nếu nghèo trắng tay thì sẽ tranh giành với ai? Suy nghĩ đến điều ấy thì nhường cho bọn anh em trong họ mấy chục đồng có gì mà không được? Phạm Văn Chánh (Phạm Trọng Yêm) còn tậu nghĩa điền cho cả họ, huống là anh em cùng một nhà ư? Họ Phạm từ đầu đời Tống cho đến cuối đời Thanh đỗ đạt chẳng dứt, ấy là do đức dầy của Văn Chánh Công và con cháu đời đời vâng giữ, tu tập tổ đức mà ra. Bọn anh em cùng một chi họ của lệnh hữu đều là con em nhà thư hương, dẫu chẳng nghe tới đạo lý rất sâu của Phật pháp, nhưng những chuyện ấy (tức gương tốt đẹp của Phạm Trọng Yêm) chắc đã từng nghe, sao chẳng “thấy người hiền mong được bằng” để chú trọng vun bồi tổ đức? Xin hãy đưa thư này của Quang cho khắp các chi họ của lệnh hữu được xem, chắc ai nấy sẽ nghĩ đến tổ đức, noi theo dấu vết cũ. Nếu không, hãy khuyên lệnh hữu đem món tiền của mình dùng vào việc công để mong chấm dứt được chuyện ấy. Ông ta không có con cái, vẫn nên [coi như] dùng [món tiền ấy] cho con cái mình thì sẽ rạng rỡ tổ đức, rạng rỡ pháp đạo. Mai sau được tốt đẹp như thế nào chẳng phải là điều Quang có thể biết được nổi!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ nhất)

Nhận được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Quang là ông Tăng chỉ biết cơm cháo, trừ mặc áo, ăn cơm ra, chẳng làm được gì khác! May là vẫn chịu học theo thói ngu phu ngu phụ nên chẳng đến nỗi than thở xuông, chẳng biết làm sao! Các hạ muốn thọ Tam Quy Ngũ Giới, sao chẳng chọn vị nào đạo đức học vấn cao siêu, lại chọn một ông Tăng chỉ biết cơm cháo thì các hạ cũng muốn dự vào đội ngũ ngu phu ngu phụ, chẳng muốn gia nhập hàng ngũ của những vị cao siêu, lạ lùng, đặc biệt ư? Tuy nhiên, đang trong thời thế này, hành theo ngu phu ngu phụ vẫn thực tế hơn! Nếu kẻ cao siêu kỳ đặc chịu buông xuống những chuyện cao siêu, lạ lùng, đặc biệt, ắt sẽ có kết cuộc cao siêu, lạ lùng, đặc biệt lớn lao! Nếu không chịu buông xuống thì cũng chỉ đạt được kết cuộc là hư danh cao siêu, lạ lùng, đặc biệt, quyết chẳng đạt được sự cao siêu, lạ lùng, đặc biệt thật sự. Pháp Niệm Phật lý cực cao sâu, sự thật bình thường, muốn cầu tâm tương ứng với Phật thì điều thứ nhất là phải chí thành khẩn thiết, điều thứ hai là [lắng] nghe. Quay trở lại nghe nơi tiếng niệm Phật, cùng giữ được lòng thành và lắng nghe thì sẽ tự trừ được hôn mê tán loạn!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ hai)

      Nhận được thư, biết cư sĩ tự đảm nhiệm và quyên mộ người khác đảm nhiệm in Đại Sĩ Tụng, lấy hai ngàn bộ làm chuẩn, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Cư sĩ cảm khái vì lòng người chẳng bằng thuở trước, biếu tặng thiện thư rất ít đạt hiệu quả, nhưng người trong nước ta gần đến năm vạn vạn người! Trước đây, Quang đã cho khắc ván An Sĩ Toàn Thư, sau đấy lại bảo Trung Hoa [Thư Cục] sắp chữ ấn hành, quyên mộ chỉ được bốn vạn cuốn. Trung Hoa Thư Cục in kèm và in riêng tổng cộng được một vạn hai ngàn bộ. Nếu luận về hiệu quả thì cũng chỉ được một hai phần! Ấy là vì con người chưa suy xét kỹ, đa số không biết. Quan Quýnh Chi tin tưởng Phật pháp là do bản khắc ván của An Sĩ Toàn Thư phát khởi; Chí Viên giảng thuyết cho ông ta nên từ đấy bèn sanh lòng chánh tín. Nếu đất Hỗ (Thượng Hải) không có Quýnh Chi thì sợ rằng cảnh tượng nơi đất Hỗ sẽ kém xa hiện thời!

Chúng ta chỉ cần phát khởi cái tâm làm lành cho người khác, còn người ta có phụng hành hay không thì tùy họ. Ấn Quang sanh lòng tin đối với pháp môn Tịnh Độ là nhờ quyển Hạ của Long Thư Tịnh Độ Văn, đủ biết sách ấy có ích cho con người vừa sâu vừa xa vậy! Quán Thế Âm là chỗ nương tựa cho pháp giới chúng sanh, nếu ai nấy đều biết, sẽ có đông đảo người do vậy mà cầu mong tiêu tai thoát họa cho đến liễu sanh thoát tử. Tiếc cho cõi đời chưa có một bản sưu tập đến nỗi những kẻ chẳng tu tập Phật pháp đều chẳng được biết. Đấy chính là nguyên do vì sao Quang thỉnh ông Hứa Chỉ Tịnh soạn sách Đại Sĩ Tụng này vậy!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ ba)

      Hôm trước, sư Minh Đạo đến đây, cho biết đã đưa bộ Đại Tạng Kinh bản đời Tống của ông qua chùa Hiển Ninh, công đức vô lượng. Thầy ấy chẳng lượng sức, tiếp nhận bốn ngôi chùa hoang tàn ở Hàng Châu, đều do các vị cư sĩ đất Hỗ và thầy của ông ta giúp đỡ duy trì. Về sau, Tam Thánh Đường ở trên núi [Phổ Đà] bị hỏa hoạn, cháy rụi một nửa, vị thầy ấy không thể lo liệu thêm các nơi khác được. Hiện thời còn thiếu tiền công thợ và các hóa đơn phải chi phí hơn ba ngàn đồng, không làm cách nào được. Những khoản tiền dư ra ở chỗ Quang phần lớn đều để giúp cho hai chùa Linh Nham và Thọ Lượng, cũng chẳng thể giúp đỡ thầy ấy! Thầy ấy chỉ mong các vị đã bỏ tiền làm công đức trước kia mỗi người sẽ cho mượn ba trăm đồng, nhưng sợ chưa thể lo liệu mỗi việc vẹn toàn được! Nếu cư sĩ chịu giúp cho sự cấp bách cháy mày này thì trong năm sau vẫn còn tiến hành [sửa chữa cho xong] được. Nếu không, chắc là phải bỏ cuộc giữa đường, há có phải là thất bại khi sắp thành công hay chăng?

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ tư)

Những lời nói trong nhà Thiền tốt nhất là chỉ nên bỏ mặc, đừng bàn đến! Nếu muốn biết hiểu rõ ý nghĩa nguyên do của những lời lẽ ấy thì phải ngộ đôi chút. Nếu không, dẫu có đọc sách Thiền thì cũng như nói chuyện với người ngoại quốc, hoàn toàn chẳng thấu hiểu được cái hay trong ấy. Huống chi ông tuổi đã cao rồi, thời thế lại như thế này, há nên dùng thời gian đáng quý báu nhất để nghiên cứu những câu nói không thể suy luận ấy ư? Thường có những kẻ ở trong nhà Thiền mấy chục năm vẫn chẳng hiểu được những câu nói ấy có ý nghĩa gì! Dẫu có dùng ý tưởng để suy đoán đi nữa thì cũng là nói mớ trong mộng mà thôi! Xin hãy bỏ ý niệm ấy đi! Hãy nhất tâm niệm Phật, niệm đến mức Phật lẫn tâm đều mất thì vừa nhìn vào những câu nói ấy sẽ khôn ngăn bật cười. Nếu chẳng được như thế thì chỉ cần vãng sanh vẫn có thể đích thân chứng được lý ấy, huống là hiểu được những lời lẽ ấy ư? Nếu chẳng coi lời Quang là đúng, cứ suốt ngày đọc ngữ lục nhà Thiền thì Tông cũng chẳng thể thông mà Tịnh cũng chẳng chú trọng. Khi sanh tử xảy đến, chỉ đành theo nghiệp thọ sanh!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ năm)

      Hôm qua nhận được thư, biết Thánh Định đã vãng sanh Tây Phương, lâm chung chánh niệm, chết rồi đảnh đầu vẫn ấm, vẻ mặt càng đẹp, đang lúc nắng gắt mà chẳng hôi thối. Chỉ ngay từ mấy tướng lành ấy đã có thể quyết đoán bà ta được vãng sanh. Còn về phẩm vị vãng sanh thì nói chung là Trung Phẩm. Do Trung Phẩm đều là phẩm vị vãng sanh của người trọn vẹn điều lành nơi giới và điều lành thế gian; cũng chẳng cần phải nói cho dễ nghe, cứ khăng khăng bà ta Thượng Phẩm vãng sanh. Dẫu cho Hạ Phẩm Hạ Sanh thì nghiệp đã vượt trỗi chư thiên trong tam giới rồi, huống hồ vãng sanh trong bậc Hạ thuộc Trung Phẩm ư? Bốn mươi chín ngày không ngớt tiếng niệm Phật, chẳng những hữu ích cho người đã khuất mà quyến thuộc hiện tại cũng được lợi ích lớn lao!

Linh Nham theo lệ không niệm kinh, bái sám, phóng Diệm Khẩu, làm pháp sự hệ niệm, làm đàn Thủy Lục, truyền pháp, thâu nhận đồ đệ, giảng kinh, truyền giới, làm pháp hội. Công khóa hằng ngày giống như Phổ Thông Phật Thất. Chỉ những ai có tín tâm, chẳng chú trọng màu mè, hoa dạng, xin mở Phật thất thì liền chấp nhận. Nếu chèo kéo thân hữu rộng rãi và dẫn nữ quyến trẻ tuổi đến trước hôm mở thất và xong thất mới đi thì cũng không chấp nhận. Năm Dân Quốc 17 (1928), Trương Minh Kỳ (là đệ tử quy y) mở Phật thất bốn mươi chín ngày, không một ai bỏ đi. Năm Dân Quốc 18 (1929) cũng mở Phật thất hai mươi mốt lần, cũng không một ai bỏ đi. Năm Dân Quốc 19 (1930), có hai mươi mấy lần mở Phật thất cũng không quá năm sáu gia đình đến dự, nhưng cũng chỉ ở một hai ngày hoặc đôi ba ngày mà thôi. Năm Dân Quốc 20 (1931) do người đông phòng hẹp, liền cho xây cất lớn, Phật thất càng đông hơn. Nay gởi cho ông một tờ sao bài bi ký, ông đọc sẽ biết.

Nếu ông muốn tạo lợi ích giúp cho Thánh Định, do bà ta lúc sống thường ăn chay, khi làm ma chay chắc ông cũng chẳng đến nỗi dùng rượu thịt. Trong khi tang ma và cúng giỗ sau này, xin ông hãy bảo lệnh lang đừng bắt chước thói tục. Trong khóa tụng sáng tối, lúc hồi hướng Quang sẽ đọc pháp danh của bà ta để hồi hướng trong hai mươi mốt ngày cho trọn hết tình thầy trò.

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ sáu)

     Ông nói trong khi làm việc cũng không quên niệm Phật, ấy là tướng cái tâm niệm Phật thuần thục, sao lại bảo là hôn trầm, thuộc về vô ký (không thiện, không ác)? Nhưng cũng chưa phải là “vô niệm mà niệm”, mới chỉ có hơi hướng của “vô niệm mà niệm” đó thôi! Nếu tưởng đấy chính là “vô niệm mà niệm” thì sẽ giống như dùi gỗ thấy khói bốc lên liền bảo là đã được lửa, thôi không dùi nữa, sẽ không có cách nào được lửa cả! Ông công phu khá tốt, đạt đến cảnh giới ấy cũng chẳng phải là dễ dàng, nhưng cần phải chuyên tinh dụng công, đừng học theo thói ham cao chuộng xa, thấy lạ nghĩ khác của con người hiện thời thì tương lai sẽ đạt được lợi ích, sẽ tự có những điều chẳng thể nghĩ bàn. Nhưng đấy là chuyện thuộc về Hạnh môn, chứ trong Tín Nguyện môn càng phải nên dốc sức ngõ hầu quyết định đạt được lợi ích sâu xa do niệm Phật. Nếu bắt chước các tông khác, chuyên chú trọng vào công phu, bỏ mặc tín nguyện chẳng nhắc tới thì sẽ trở thành pháp môn cậy vào tự lực, mất mát lớn lắm!

      “Tam luân thể không” chính là chẳng cậy công, chẳng nghĩ đó là đức. Nếu như lời ông nói thì sẽ thành hỗn độn, vô tri. Thế nào gọi là “Thể không”? Nói “Thể không” nghĩa là rành rẽ phân minh, phân biệt rõ [đối tượng nhận lãnh] đáng nên bố thí hay không nên bố thí, nhưng chẳng thấy mình có công đức đối với người ta, cũng chẳng thấy người ta nhận lãnh ân đức của mình. Kinh Kim Cang dạy: “Chẳng chấp vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để bố thí” chính là nhằm diễn tả ý này vậy! Nếu chẳng phân biệt kẻ tốt lẫn người xấu, cứ tận lực thí cho người xấu thì sẽ khiến cho kẻ ấy tạo nghiệp, sẽ trở thành tội lỗi, chẳng gọi là công đức được!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ bảy)

      Phật pháp rộng lớn vô lượng vô biên. Chúng ta mang tư cách kẻ phàm phu sát đất, muốn ngay trong đời này giải quyết xong xuôi chuyện khó thể giải quyết trong trăm ngàn vạn ức kiếp thì phải trù tính sức lực của chính mình nhỏ hay lớn để tu tập, đừng lầm lạc ngỡ mình là thông gia! Đối với pháp này còn chưa thật sự hiểu chắc mà lại đi nghiên cứu dùi mài trong những tông khác đến nỗi ngược ngạo coi chuyện dễ được lợi ích nhất này như chuyện thừa thãi, vặt vãnh thì trong trăm ngàn vạn kiếp vẫn y như cũ, chẳng thể liễu thoát được!

Phật pháp giống như hư không, trọn không có Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới! Nói Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới là ước theo địa vị chính mình đang đứng để nói. Chính mình đã chẳng thể khế hợp với thái hư thì ắt phải luận theo địa vị nơi mình đang đứng; chẳng ngại gì ở trong nơi không có Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới mà ước theo Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới do chính mình đã định. Thiền Tông, Tướng Tông, Mật Tông không một tông nào chẳng hay, nhưng là người niên kỷ đã ngoài năm mươi, có được pháp cậy vào Phật lực để phàm phu dầy dẫy triền phược có thể liễu sanh tử mà lại dốc sức nơi pháp môn cậy vào tự lực thì tuy có thể giúp cho sự thấy hiểu Tịnh nghiệp một cách viên thông, nhưng tôi thật sợ ông tâm lực chẳng đủ, sẽ lấy pháp đó làm chánh, coi pháp này là lệ thuộc không quan trọng, chắc sẽ khó đắc lực!

Chẳng phải là Quang cự tuyệt không cho người ta nghiên cứu những tông khác, chỉ vì có những kẻ chẳng thông cảm nên mới giáng cho Quang những lời chê bai ngặt nghèo, bảo Quang cấm ngặt người khác không được nghiên cứu những tông khác! [Bị gieo tiếng ác như vậy] thì Quang sẽ ngấm ngầm được phước, còn đại chúng cho Quang là kẻ oan gia nơi cửa Phật. Xin ông hãy tự cân nhắc để quyết định!

Thêm nữa, sau khi viện Mồ Côi ở Nam Kinh được thành lập, ông bỏ ra ba trăm đồng, nhưng trong năm ấy viện vẫn chưa hoạt động, đến năm sau mới hoạt động, cho nên vẫn chưa nhận tiền thêm. Nghe nói năm trước ông vẫn bỏ ra ba trăm đồng, năm ngoái lại gởi thư nói sẽ quyên tặng riêng, cho nên năm nay cũng chẳng dám gởi thư tới nữa. Trước kia, ông Dư Trĩ Liên có cho biết tính xin ông quyên tặng suốt năm, hoặc mấy chục đồng, hoặc một trăm đồng, tùy ý. Từ năm ngoái tới nay, học sinh chùa Pháp Vân ngày càng chăm chỉ tiến bộ. Có Vương Kiến Bình là một thương nhân tài sản chưa hơn ba vạn mấy đồng, nhưng nghe nói tới viện Mồ Côi chùa Pháp Vân liền tới thăm, hết sức vui thích, bèn may quần áo, mền đắp cho các học sinh. Tất cả những em học sinh nào đủ trình độ có thể ra đời mưu sinh được, ông ta liền đỡ đầu giới thiệu tới làm việc trong các tiệm buôn [bởi lẽ] những môn sinh của ông ra mở tiệm có đến hai ba chục người cũng như ông ta có các bạn bè khác [trong nghề kinh doanh]. Vì thế, ông ta nhận lãnh trách nhiệm nặng nề ấy. Từ năm ngoái cho đến mùa Hạ năm nay đã giới thiệu bốn mươi tám em. Thế mà vẫn có người cần [xin thêm], do có những em trình độ quá yếu, ông ta không bằng lòng cho đi. Vì thế, số học sinh tăng lên đến một trăm sáu mươi em. Tất cả những phòng ốc cũ chẳng đủ dùng, lại phải cất thêm mười mấy gian nữa để làm xưởng thợ. Vương Kiến Bình còn bảo thợ làm khuy trong tiệm ông ta đến viện Mồ Côi dạy nghề, không lấy tiền học. Học sinh học được nghề sẽ liền dựa theo số lượng hàng làm ra để trả tiền công. Đường lối này chẳng cần tiền vốn, khá hữu ích. Hơn nữa, những món đồ do Pháp Vân Tự làm ra ai nấy đều tranh nhau mua, bởi chúng chắc chắn, sử dụng được. Tuy vậy, trong mấy năm gần đây, dẫu có thêm những người đảm nhận quyên tặng, nhưng do những người đã quyên tặng trước kia hoặc chuyển đi phương xa, hoặc có người đã qua đời, kinh phí trong viện tốn kém hơn trước, cảm thấy khá tốn sức.

     

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ tám)

      Pháp môn vào buổi cuối Thu, sai ngoa quá nhiều, nhưng chỉ nên sanh lòng chánh tín, trì các tịnh giới thì là đã đạt được căn bản, còn những thứ cành nhánh khác hãy để thong thả. Nếu một mực noi theo lối cổ thì người đời nay đã không thông hiểu sâu xa những cấm chế của đức Phật, mà mỗi một việc làm trong hiện thời đều chẳng thể theo đúng như lời Phật dạy, sẽ trở thành ngôn luận cự tuyệt người khác bước vào Phật pháp. Nếu mỗi một việc đều phải theo đúng như cấm chế của đức Phật thì tăng nhân hiện thời đều là kẻ bạch y học đạo, chưa chắc mỗi một điều đều có thể hợp pháp, hợp luật, huống là hai chúng tại gia ư?

Hơn nữa, cấm chế nhà Phật cũng có lệ tùy theo nơi chốn, tùy theo thế tục để lập. Ngay như tăng y ngày nay cũng đâu phải là tăng y đã được chế định tại nước Phật; nhưng do được lưu hành đã lâu bèn coi là đúng pháp. Vả nữa, Phật quy định Tăng luôn để đầu trần, chân đất. Để đầu trần thì mùa Hạ tuân theo được, chứ mùa Đông mà tuân theo sẽ chẳng được mấy ai! Đi chân đất càng khó thấy mấy ai tuân theo! Do vậy, chớ nên cố chấp những điều cành nhánh để luận, hãy nên nương theo cội nguồn để tu thì sẽ có ích. Nếu mỗi một điều đều chuẩn theo nguyên tắc như trong thời Phật thuở trước thì những kinh hiện thời đều chẳng nên thọ trì, mà phải thọ trì những kinh văn tiếng Phạn được viết trên lá bối thì mới là chẳng trái nghịch Phật pháp vậy!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ chín)

      Đại Tạng Kinh bản đời Tống ở Linh Nham là do Quang thỉnh. Còn Đại Tạng Kinh ở chùa Phật Nhật là do một đệ tử ở Thiên Tân thỉnh cho Linh Nham, nhưng vì Linh Nham đã có, nên giao về chùa Phật Nhật. Một đệ tử ở Phước Kiến cậy Quang thỉnh cho ngôi chùa trong làng ông ta một bộ Đại Tạng Kinh. Tới khi thỉnh xong, đã giao tiền (đã ước định sẵn phải thanh toán trọn vẹn trước) ông ta hỏi một người bạn thì biết [chùa ấy] đã thỉnh rồi nên bộ Đại Tạng Kinh do Quang thỉnh giùm cho ông ta được giao về chùa Long Cư.  (Trước khi thỉnh kinh cho chùa Phật Nhật), Quang đã tự bỏ tiền thỉnh hai bộ, bộ ở Pháp Vân Tự do ông Lý Kỳ Khanh thỉnh, còn [bộ để] ở Phật Quang Xã thuộc Giang Loan, tỉnh An Huy cũng có người thỉnh rồi. Nếu ông bằng lòng gởi bộ Đại Tạng Kinh của ông đi nơi xa thì xin đợi hơn một tháng nữa để Quang hỏi thăm một hai chỗ. Nếu họ đã có thì chẳng gởi sang. Nếu không, sẽ gởi đi.

Hôm trước thầy Đương Gia chùa Linh Nham nói chùa hiện có hơn năm mươi vị đang trụ, người đến niệm Phật có bốn mươi vị, những người khác đều có công việc. Phật Thất chỉ thỉnh bốn mươi người hoặc ba mươi bốn người đều được cả. Thêm nữa, thầy Minh Đạo lại tiếp nhận chùa Hiển Ninh, phong cảnh rất đẹp (cách chùa Phật Nhật bảy tám dặm), hòa thượng Chân Đạt tính dưỡng lão tại đó, chắc sẽ gởi kinh sang nơi ấy sẽ đỡ tốn công. Nếu gởi sang nơi đó thì xin đợi tới khi thầy Minh Đạo trở về; sẽ bảo thầy ấy thỉnh bộ kinh đã được gởi tới đây đưa sang chùa Thái Bình. Sau này, nếu tái bản sẽ bảo Ấn Kinh Hội đem bản kinh của ông cúng dường tặng cho chùa Thái Bình. Kinh ở hai chỗ Phật Nhật và Long Cư đều đưa sang chùa Thái Bình. Long Cư là đạo tràng cổ, Tăng chúng sống ở đó không kham được bèn đem bán cho trường học. Hai ba vị tín sĩ ở địa phương chẳng nỡ, ép một vị Tăng ở Giang Tây tiếp nhận. Vị này đối với Phật pháp chưa hiểu rõ ràng, do vậy, thỉnh vị Tăng từng sống tại chùa Báo Quốc trước đây là Liễu Nhiên về cùng ở đó. Vì vậy, Quang đem bộ kinh do vị sư ở đất Mân đã thỉnh đưa sang đó. Trước kia, thầy Liễu Nhiên chú trọng tu Thiền, mười năm gần đây lại chuyên đề xướng Tịnh Độ.

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Lý Tông Bổn

      Ông học Phật pháp sao lại học thói khoa trương rỗng tuếch, hời hợt của bọn thương nhân trong thế gian? Ông nói gởi một hộp bánh là được rồi, há nên nói thật bùi tai như thế? Quý trọng như vậy mà lại bảo Quang nếu cần nữa hãy viết thư xin gởi thêm, đúng là ông coi Quang như đứa trẻ nít. Ông chẳng hiểu việc đời quá mức! Từ nay phải ngăn dè thói xấu hèn khoa trương rỗng tuếch hời hợt kiểu đó thì niệm Phật sẽ được lợi ích thật sự. Nếu không, dẫu có tu trì cũng đều bị thói khoa trương rỗng tuếch hời hợt chôn vùi hết sạch. Rốt cuộc chẳng giúp được gì mà vẫn chẳng biết là tự chuốc lấy họa, ngược ngạo đổ thừa Phật chẳng từ bi, Phật pháp không linh! Chẳng biết là do chính mình khoe khoang mà cảm thành, buồn thay! Quang già rồi, mục lực chẳng đủ nên cự tuyệt hết thảy thư từ. Nay xem thư ông, khôn ngăn đau lòng. Ông đọc thư tôi, nếu sửa được lỗi trước thì mai sau nhất định được vãng sanh. Nếu không, cứ theo thói hư giả thì làm sao đạt được lợi ích thật sự? Nghe theo hay không tùy ông, tôi chỉ trọn hết tấm lòng tôi mà thôi!

Ông nói đến chứng Miêu Ôn[47], không biết là bệnh gì, cũng chẳng biết thuốc nào trị được! Hãy nên bảo gia đình người ấy chí thành niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, kiêng giết, ăn chay thì sẽ có hiệu quả. Từ nay về sau chớ nên gởi thư đến nữa, cũng đừng giới thiệu người khác quy y. Nếu gởi thư đến quyết định chẳng trả lời, do mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ. Những điều đã nói trong Một Lá Thư Trả Lời Khắp bất luận hạng người nào cũng đều có thể nương theo đó để hành và truyền cho con cháu. Nếu có thể hành theo đó thì gia đạo sẽ được hưng thịnh, con cháu sẽ hiền thiện. Nếu coi đó là những lời bàn hủ bại viễn vông của một ông Tăng già nua mà muốn chấn chỉnh thanh danh gia đình sẽ như phá băng để tìm lửa, quyết chẳng có hy vọng gì cả!

 

  1. Thư gởi hòa thượng Diệu Chân

      Trưa hôm qua, Vương Ấu Nông tới nói: Hôm trước ông ta qua nhà ông Lý Bách Nông bảo: “Linh Nham muốn dựng Niệm Phật Đường”. Bách Nông nói: “Đang gặp Tuế Sát[48] chớ nên kiến tạo!” Nhân thời cuộc, Quang nói: “May mà chưa khởi công xây dựng đại điện chùa Pháp Vân, hãy đợi đến khi thời cuộc bình yên”. Ấu Nông nói: “Linh Nham chớ nên xây cất. Dẫu có nên xây đi nữa thì trong thời cuộc thế này cũng nên để thong thả!” Nay gỗ dùng để xây dựng đã đưa đến, hãy nên chất quanh nền nhà phía sau Niệm Phật Đường. Cần phải dùng đá xếp cao hai thước [để làm bệ lót] ngõ hầu gỗ chẳng bị ẩm thấp mục nát. Hai mặt gỗ đều phải để cho nắng dọi vào, trên mặt mỗi phiến gỗ đừng phủ cỏ, phủ cỏ sẽ vĩnh viễn ngăn che ánh mặt trời. Hãy mua mấy tấm liếp tranh lớn che phía trên. Lời của Bách Nông và Địch Dân nói tuy đều có lý, nhưng do ảnh hưởng bởi thời cuộc, cố nhiên nên nghe theo lời Ấu Nông. Đợi tới mùa Thu năm sau mới khởi công so ra sẽ ổn thỏa, tốt lành hơn. Xin hãy sáng suốt suy xét thì may lắm thay!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (thư thứ nhất)

      Nhận được thư, biết tâm ông mộ đạo khá chân thật, thiết tha, ý muốn quy y, nhưng Quang là một ông Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo, quả thật chẳng đáng làm thầy một ai! Nhưng nếu có thể chuyên chí tu trì, y theo những lời Quang đã nói để hành thì cố nhiên chẳng có chuyện gì ông không được mãn nguyện. Ví như kẻ không chân ngồi ở ngã ba đường, có người hỏi nẻo về nhà liền chỉ thẳng nên đi theo đường nào. Quyết đừng vì kẻ ấy không thể đi được mà chẳng chịu nghe lời để rồi tự mình lạc mất lối về! Nay đặt pháp danh cho ông là Tông Tịnh. Tông là chủ, Tịnh là hiện thời tu tập pháp môn Tịnh Độ, trong tương lai sẽ vãng sanh Cực Lạc Tịnh Độ. Pháp môn Tịnh Độ là pháp rộng lớn hết sức giản tiện, hết sức sâu xa trong Phật pháp. Nếu nương theo các pháp khác để tu trì thì ai có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh ngay trong đời này? Nếu y theo pháp môn Tịnh Độ, chỉ cần có đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, không một ai chẳng được vãng sanh. Đấy chính là nghĩa lý lớn lao phải nên chuyên chú nơi pháp môn Tịnh Độ vậy!

      Hơn nữa, phàm muốn học Phật thì tâm địa phải thanh tịnh. Phàm hết thảy những tâm bất thiện đều là cấu nhiễm, ắt phải dọn trừ sạch sành sanh. Phàm hết thảy thiện tâm ắt phải mở rộng ra, tức là: Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn chay, niệm Phật, tự hành như thế mà dạy người khác cũng như thế. Đối với người trong cõi đời còn nên khuyên bảo rộng khắp, huống là cha mẹ, vợ con v.v… há chẳng làm cho họ được thấm gội Phật ân, vẫn luân hồi y như cũ, lỗi đạo làm con, làm cha, làm chồng lắm thay! Thế đạo hiện thời đã loạn đến cùng cực, nguồn cội đều do con cái từ thuở bé chẳng được cha mẹ khéo dạy dỗ về nhân quả báo ứng, cũng như “lợi người chính là lợi mình, hại người chính là hại mình”. Hãy nên nói tường tận lợi – hại với vợ để cô ta sẽ tận tụy giáo huấn con cái, đừng mặc cho chúng quen thói khiến tật xấu trở thành tánh đến nỗi gây hại cho gia đình, cho đất nước, cho thiên hạ vậy!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (thư thứ hai)

      Trước kia đã nhận được thư ông hỏi về chuyện quyên mộ đúc chuông, do bận bịu nên không thể trả lời ngay được. Tôi chuyển thư ông cho Mai Tôn, ông ta cực lực tán thành. Lại gởi thư bàn định về kích thước của cái chuông đồng tính đúc. Do thầy Diệu Liên sang Xích Sơn nên phải chậm mất hai mươi mấy ngày. Mai Tôn gởi thư cho tôi biết: “Thoạt đầu do thầy Diệu Liên đi vắng, nay phải bàn bạc cho thỏa đáng sử dụng loại đồng nào và kích thước của chuông thì mới có thể gởi thư xin thầy soạn sớ”. Hôm qua nhận được thư ông, biết ông còn chưa biết rõ chuyện này, ắt là phải nói rõ chuông nặng bao nhiêu cân và dùng loại đồng nào. Loại đồng ấy mỗi cân phải tốn bao nhiêu tiền thì mới làm cho người khác tin tưởng được. Phàm đúc chuông, nên dùng loại hưởng đồng[49] thì âm thanh mới hay. Hưởng đồng rất đắt, nếu chẳng thể sử dụng hoàn toàn thì cũng nên dùng một nửa. Uớc chừng tính gộp chung tiền công và vật liệu thì mỗi cân phải tốn một đồng trở lên. Nếu ông thấy khó khăn quá thì hãy bãi bỏ ý định này. Nếu như dù tốn đến hai ba ngàn đồng cũng vẫn phải đúc thì đợi khi Nam Kinh gởi thư đến sẽ viết sớ gởi cho ông.

Cháu ông chẳng biết nỗ lực làm người, ấy là do chẳng được dạy dỗ từ bé mà ra. Lúc bé không được dạy dỗ thì lớn lên sẽ khó trở thành người đàng hoàng được! Ông gặp cảnh ngộ như thế chỉ nên thường nghĩ nhớ tới cha mẹ ông và anh của ông, đừng sanh phiền não, hãy sốt sắng niệm Phật, cầu Phật gia bị cho nó, ngõ hầu nó sẽ hiểu biết, tự có thể làm người tốt. Nếu chính mình sanh phiền não thì vô ích cho nó lẫn thân ông cũng như công lao nuôi dạy đứa cháu đều bị tổn hại. Nếu ông chí thành niệm Phật và niệm Quán Âm, nhất tâm khẩn cầu [Phật, Bồ Tát] gia bị cho nó, lòng Thành đến cùng cực đá vàng cũng phải nứt, dần dần nó sẽ chuyển biến thành người tốt, chẳng đến nỗi cứ mãi là gã lãng tử hoặc kẻ vứt đi. Hãy nên đừng phân biệt, hãy nghĩ [đứa cháu ấy] giống như đứa con bất tài của chính mình, chỉ cầu Phật, Bồ Tát xót thương, gia bị. Đấy chính là diệu pháp độc nhất vô nhị để chuyển biến.

Tôi sẽ gởi hai bài văn do Sa cư sĩ soạn sang Thượng Hải Tịnh Nghiệp Xã để họ đăng trên tờ nguyệt san. Bài văn khuyên kiêng giết ăn chay của Quang có phạm vi khá rộng. Ông Nhiếp Vân Đài từng chiếu theo đó in thành truyền đơn để tặng cho người khác, Quang cho đăng kèm sau cuốn Long Thư Tịnh Độ Văn. Ông ta in ba ngàn cuốn Long Thư Tịnh Độ Văn, có giữ lại bản in, nhưng in lần ấy đắt quá, mỗi bộ tốn hơn ba cắc; sau này in lại sẽ giảm được chi phí một nửa. Quán Âm Tụng có hơn bảy vạn bộ, Văn Sao cũng cho sắp chữ riêng. Bài văn ấy tuy văn chương không hay nhưng đã nói rất rõ hết thảy những lý do vì sao không nên giết chóc.

Lạy kinh được lành bệnh chính là điềm lành chứng tỏ nghiệp tiêu, tai diệt. Chuyện đi qua Thân Giang (Thượng Hải) thì do thời cuộc không yên, tính đợi tới tháng Chín, tháng Mười, hoặc sang năm sau. Đại Sĩ Tụng vẫn chưa sắp chữ, tôi muốn qua Thân Giang chính là vì chuyện này. Nếu thời cuộc biến động, sợ sẽ bị lỡ làng; vì thế chẳng dám cho sắp chữ. Nếu cho sắp chữ ngay thì tối thiểu cũng phải tới khoảng tháng Mười mới in ra sách được! Nếu sách được in ra sẽ gởi cho ông và ông Sa. Các ông Phạm và Lý chẳng cần phải nói nữa!

Quan Đế quy y với Trí Giả đại sư (dưới thời Tùy Văn Đế) mở ra đạo tràng núi Ngọc Tuyền, chuyện này được chép trong sách Phật Tổ Thống Kỷ. Phật giáo coi Quan Đế là thần hộ trì già-lam cũng vốn vì lẽ này. Đợi khi nào rảnh rỗi, tôi sẽ đem bài văn ấy thuật rõ. Ăn chay chẳng khó, khó là vì chẳng chịu bỏ cái tâm tham sung sướng bụng miệng! Nếu chẳng tham thỏa thích bụng miệng thì ăn chay có bất tiện chi đâu? Tuy thỉnh thoảng ăn chay, nhưng trong những ngày không ăn chay cũng phải ít ăn mặn đi, bởi hết thảy loài vật đều tham sống sợ chết, đều biết đau đớn, khổ sở, chỉ vì miệng chẳng thể nói được, nên phải làm thức ăn cho con người. Nếu chúng nói được thì nỗi niềm bi ai, oán hận của chúng khi sắp bị giết há còn nỡ nghe ư? Nghĩ đến điều này thì sẽ chẳng nuốt thịt xuống khỏi họng được! Lạy kinh niệm Phật nên lấy cung kính chí thành làm gốc. Cung kính lớn lao thì công đức, lợi ích lớn lao, cung kính nhỏ nhoi công đức, lợi ích sẽ bé tẹo. Nếu chẳng cung kính, chỉ làm ra vẻ đạo mạo thì chính là tự dối mình, chứ muốn dối người cũng không được, huống là dối Phật, Bồ Tát ư? Xin hãy chân thật cung kính hành trì thì lợi ích sẽ không chi lớn bằng!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (thư thứ ba)

      Chuyện đúc chuông đã nói với ông Mai Tôn, bảo ông ta châm chước kích thước lớn – nhỏ, nhưng chưa thấy gởi thư tới. Hôm qua, tôi sang lầu chuông của Phật Đảnh Sơn, thấy chuông ở chỗ ấy cũng không lớn lắm. Họ nói nặng hơn bốn ngàn cân, như vậy thì chuông chùa Pháp Vân cũng nên nặng ba ngàn cân. Huống chi mỗi cân Hưởng Đồng ước chừng hơn một đồng. Ông phát tâm quyên mộ cũng không nhất định [phải đủ số], nhiều cũng hay, ít cũng được. Hễ được nhiều thì đúc thêm khánh, báo chung, hỏa bản[50], ít thì sẽ quyên góp thêm tại đất Nam Kinh. Do vậy, không nhất định phải hoàn toàn là [quyên góp sao cho] không thừa không thiếu! Họ đã không gởi thư tới, chắc là ước chừng ba ngàn cân, đợi sau này khi [thật sự] đúc mới lại định chuẩn cân lượng. Tôi sẽ viết lời tựa. Mồng Một tháng Tám, Quang sẽ xuống núi sang Thượng Hải, đến ngụ tại chùa Thái Bình nơi bến Trần Gia. Ước chừng phải hai ba chục ngày mới trở về được, [qua đấy] để tìm cách in Đại Sĩ Tụng. Công nhân của Trung Hoa [Thư Cục] bãi công, nếu chẳng tìm cách chẳng biết sẽ phải chờ đến khi nào!

Chuyện thả lợn trước đây đã được ông Mai Tôn gởi thư cho biết rồi. Sẽ gởi cho Tịnh Nghiệp Xã để đăng tải trên tờ nguyệt san ngõ hầu mọi người đều sanh lòng kinh sợ. Lý Trọng Hòa đã muốn quy y thì chẳng ngại đặt pháp danh cho ông ta. Ông ta tên là Thọ Bình; phàm cái thật sự thọ (sống lâu) thì chỉ có tự tánh. Tánh ấy nếu chẳng có trí sẽ chẳng hiển được, có trí ấy thì sẽ biết nhất niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh và tam thế chư Phật, lục đạo chúng sanh thảy đều bình đẳng. Cái trí bình đẳng ấy thật sự là tối thượng, tối diệu. Nay đặt pháp danh cho ông ta là Trí Thượng, dùng cái trí tối thượng ấy để tự hành, dạy người tu trì Tịnh nghiệp, ngõ hầu hết thảy chúng sanh cùng sanh về Tây Phương, cùng chứng được cái vốn sống mãi bình đẳng vô nhị ấy. Đấy chính là chuyện quan trọng nhất, làm được như thế sẽ chẳng thẹn là đệ tử của Như Lai, xin hãy nói với ông ta.

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (thư thứ tư)

      Nhận được thư, biết cả nhà niệm Phật, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Lúc niệm Phật đột nhiên khởi vọng tưởng, chỉ cần chẳng xoay chuyển theo vọng niệm ấy, lâu dần nó sẽ tự chẳng dấy lên nữa! Không nói dối cũng phải luyện tập dần dần, lâu ngày sẽ tự chẳng còn nữa! Nói đến ảnh chụp thì Quang một mực chẳng thích chụp hình vì chỉ hao tốn tiền bạc, trọn chẳng có ích gì! Nếu cứ muốn có thì tôi sẽ sang Thượng Hải chụp rồi gởi tới. Ở đây đã qua kỳ dâng hương, không có thợ chụp ảnh. Nay gởi cho ông một gói Văn Sao, xin hãy trao cho Lý Miễn và con ông ta. Chỉ chịu nương theo sách này để tu tập sẽ tự có thể siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nếu chỉ nhìn vào mặt văn chương thì thật là gai mắt, chẳng thể đạt được lợi ích thật sự!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (thư thứ năm)

      Lúc này không rảnh rỗi để viết lời tiểu dẫn cho Phật thất! Đợi tới tháng Sáu, sớm muộn gì cũng sẽ gởi tới. Có lẽ nên cử hành [Phật thất] vào đầu mùa Đông vì khi ấy gặt hái đã xong, ai nấy đều nhàn rỗi thì người niệm Phật sẽ nhiều, nhưng chỉ nên chú trọng niệm Phật, chớ nên bày vẽ phô trương, thêm thắt lung tung v.v… Nói tới chuyện đến núi [Phổ Đà] dâng hương thì hãy nên thôi đi, bởi lẽ nhà ông không dư dả lắm, lại còn phải làm việc dưới quyền người khác, đi về hơn cả tuần, tốn kém mấy chục đồng mà vẫn chẳng thể tùy ý làm công đức khiến cho những người mình giao thiệp đều sanh hoan hỷ. Quán Thế Âm Bồ Tát chỗ nào cũng có, há chỉ ở tại Phổ Đà ư? Nếu chưa từng đến thì tới chiêm ngưỡng đạo tràng một lần, chứ đã tới rồi mà nhà nghèo, lắm việc, chẳng cần phải tới nữa! Con trai ông đã sẵn có túc duyên với ông, hãy nên khéo dạy dỗ. Đừng mặc cho nó quen thói kiêu căng đến nỗi thành phường hư hỏng. Những đứa con em không ra gì trong cõi đời đều là do cha anh chẳng khéo nuôi dạy mà ra!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (thư thứ sáu)

Nhận được thư, biết cư sĩ [Sa] Kiện Am quy Tây, khôn ngăn mừng cho cư sĩ, nhưng lại than cho dân vùng Như Cao (đã mất bậc hướng dẫn). Tôi thấy cụ Sa Kiện Am bình sanh có tín tâm, lâm chung chánh niệm. Tuy chưa nghe cụ nói thấy Phật, nhưng có thể thầm niệm theo người nhà thì cụ cũng được sanh Tây. Do xưa kia, đức Phật có lời thề: “Nếu có chúng sanh chí tâm tin ưa, muốn sanh về nước ta, thậm chí mười niệm, nếu chẳng được sanh, sẽ chẳng lấy ngôi Chánh Giác”. Lại còn: “Mười phương chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu các công đức, chí tâm phát nguyện, muốn sanh về cõi ta. Nếu lúc lâm chung, ta không cùng đại chúng vây quanh hiện diện trước mặt người ấy thì sẽ chẳng lấy ngôi Chánh Giác”. Cư sĩ Kiện Am suốt đời tu trì, lâm chung chánh niệm, đủ để vãng sanh. Huống chi lại có những chuyện như mùi hương lạ, đỉnh đầu vẫn còn ấm để làm chứng ư? Đây là do nương theo Phật lực vãng sanh, vãng sanh tức là đã liễu sanh thoát tử rồi. Đấy là chuyện quyết định, trọn chẳng hàm hồ! Nếu tu các pháp môn khác, đừng nói có các cảnh tượng như thế vẫn chẳng thể liễu sanh tử; dẫu là bậc có đại trí huệ, có đại thần thông, muốn đi liền đi, muốn tới liền tới thì người chẳng thể liễu sanh tử vẫn chiếm hơn một nửa! Do vậy phải chuyên chí tu trì pháp môn Tịnh Độ.

Tôi tính dựa trên tình hình thực sự như trong bài viết đã gởi tới để viết một bài khác đăng kèm vào sau bộ Văn Sao trong ấn bản mới. Hãy nên nói với con ông cụ sớm đem tờ cáo phó gởi tới. Có những chuyện gì tôi chọn lọc được sẽ trích lược để dùng. Hơn nữa, cụ vẫn áy náy vì chưa từng gặp được Quang, nay tôi ghép sự tích của cụ vào trong Văn Sao cũng nhằm cởi gỡ nỗi áy náy ấy! Trong khi hồi hướng vào khóa tụng sáng tối, Quang còn đọc tên hồi hướng cho cụ trong hai mươi mốt ngày nhằm trọn hết tình giao du với nhau trên mặt tinh thần trong pháp môn.

Văn Sao ấn bản mới có thể in thành sách trong tháng Ba hoặc tháng Tư. Ông hãy bảo con cụ Sa chịu đảm nhiệm in chừng đó bộ để thí tặng cho những người có tín tâm, thông văn lý, một là cởi gỡ nỗi tiếc nuối của cha, hai là có thể lưu truyền sự tích của cha. So với những kẻ in ra những tờ thiệp gởi cho người khác, [người ta] xem xong liền quăng đi, sẽ vượt trội vạn lần! Nếu chịu phát tâm thì hãy mau báo cho biết để tiện viết tên vào sau sách. Bản in lần này nhiều hơn những lần trước một trăm ba mươi trang, tổng cộng là bốn trăm ba mươi trang. Nay đang đợi tới khi Thọ Khang Bảo Giám sắp chữ xong (sẽ cho in đồng thời) sẽ ngưng không đưa thêm bài vào [Văn Sao] nữa! Vì thế, vẫn chưa thể ấn định chuẩn xác số trang. Lần này sẽ in một vạn bộ. Sau này sẽ để cho Thư Cục tự in, tự bán. Nếu thỉnh từ Thư Cục sẽ mắc hơn lần này. Ước chừng mỗi bộ trên dưới tám cắc, Quán Âm Tụng hai trăm mười trang còn phải tốn ba cắc bốn xu [mỗi bộ]. Đây là ước định theo giá hồi tháng Tám năm trước. Gần đây, do chiến sự, giấy đắt hơn nhiều lắm.

Hơn nữa, cư sĩ Kiện Am thông hiểu Nho lễ sâu xa. Năm trước, Trần Chánh Hữu đã gởi cho tôi bài cụ viết bàn về tệ dùng rượu thịt trong tang lễ, đọc thật thống khoái; biết cư sĩ hoàn toàn lấy việc [bảo tồn] đạo Nho làm trách nhiệm của chính mình. Huống chi gần đây lại tin tưởng Phật pháp sâu xa, chuyên chí tu trì. Con cụ Sa hãy nên vâng nối chí và đạo của cha, nhất loạt chẳng noi theo thói tục dùng rượu thịt nhằm mãn chí nguyện của cha. Nếu cứ làm theo thói tục, không những chẳng tương ứng Phật pháp mà còn chống đối cha nữa! Xin hãy nói với các con của cụ, nếu không, sợ rằng họ sẽ bị những kẻ vô tri mê hoặc, lay động thì đâm ra chẳng tốt đẹp gì!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (thư thứ bảy)

      Bài văn ông yêu cầu viết tôi đã soạn xong rồi, đặt tên là Phổ Khuyến Giới Sát Khiết Tố Vãn Hồi Kiếp Vận Thuyết[51] (khuyên khắp mọi người kiêng giết, ăn chay nhằm vãn hồi kiếp vận), nói trọn khắp những chuyện cúng tế trời đất, Khổng Tử, Quan Đế, tổ tông, phụng dưỡng cha mẹ, đãi khách, tự cung phụng v.v… đều chẳng nên sát sanh, ăn thịt! Lại còn nói kèm chuyện cưới vợ, sanh con, chúc thọ cũng chớ nên sát sanh, ăn thịt. Chánh văn hơn hai ngàn sáu trăm chữ, in kèm vào cuối quyển nhất sách Quán Âm Tụng (do quyển này có đoạn liên quan đến chuyện Đại Sĩ thị hiện trong loài vật) vừa đúng ba trang, đã gởi cho Trung Hoa Thư Cục cho họ sắp chữ. Sắp chữ xong, in ra, sẽ gởi sang cho ông xem. Quán Âm Tụng in hai vạn bộ, mỗi trang ba mươi đồng, khoản tiền này ông không cần phải bù. Ông nguyện in năm chục bộ tức là mười bảy đồng (mỗi bộ ba cắc bốn xu, thêm vào mười mấy trang đó thì thêm một xu vẫn thiếu, phải tăng thêm một xu nữa), ông muốn bù đắp cho khoản tiền in những trang này thì hãy chịu trách nhiệm in hai trăm hoặc ba trăm bộ Quán Âm Tụng nữa là được rồi. Nếu muốn lưu hành rộng rãi bài văn này mà ấn hành riêng thì cũng vô ích; hãy nên in kèm vào sau cuốn Đại Sĩ Tụng. Nếu Đại Sĩ Tụng in được mười vạn cuốn thì bài văn này cũng được in mười vạn lần. Nếu ông chịu bỏ tiền, cứ [tăng thêm] một trang cho hai vạn bộ [sẽ tốn thêm] ba mươi đồng, hai trang là sáu mươi đồng. Nếu ông không có sức thì cũng chẳng cần phải bỏ tiền ra. Tôi sẽ tự lo liệu được, lại đưa kèm vào trong Văn Sao thì in bao nhiêu bộ Văn Sao, bài văn này cũng có bấy nhiêu, sẽ thực hiện trong đầu tháng Giêng, đừng lo!

 

  1. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (thư thứ tám)

      Mồng Ba tháng này nhận được thư của Lý Trọng Hòa và thư của ông, do bận bịu không rảnh rỗi nên chưa trả lời. Hôm qua mới soạn xong bài ký về sự vãng sanh của Sa cư sĩ, nay gởi cho ông một bản, xin hãy đưa cho Sa Quân Nghị và Hạng Tử Thanh xem. Trong bản cáo phó và tờ ai khải (báo tin buồn) do ông, Trọng Hòa, Tử Thanh cùng với con ông ta hợp soạn đều chẳng ghi tên, lại còn trọn chẳng nhắc tới hành trạng của cụ Sa lúc đương thời. Nay tôi dựa theo những lời ông Hạng, lời ông cùng lời Trọng Hòa đã kể để suy theo tình, dựa theo lý, lược thuật những nét đại lược. Tuy các ông chưa nói, Quang trọn chưa được gặp gỡ Sa cư sĩ lần nào, nhưng dùng tâm ý để nhìn thì cũng biết được. Những sự lý được trình bày [trong bài ký về sự sanh Tây của cụ Sa do Quang soạn] trọn chẳng phải là bỗng dưng hư cấu. Nếu có chỗ nào sai lầm, xin hãy mau chỉ cho biết để tiện sửa đổi cho đúng. Nếu không, tôi sẽ xếp bài viết này[52] vào Văn Sao để mong lưu truyền rộng rãi khuôn mẫu tốt đẹp khiến cho những kẻ câu nệ hẹp hòi trong mai sau sẽ do đấy mà bỏ được tri kiến lầm lạc, đạt được chánh tri kiến. Triệu Tôn Nhân cũng soạn một bài ký. Ông Phác muốn soạn truyện thì được, nhưng toan dựng tháp thì chớ nên. Cư sĩ tại gia chỉ nên xây mộ, huống chi đang lúc con người đa số làm càn, chẳng tuân giữ bổn phận này, nếu xướng suất như thế thì sẽ phá hoại khuôn mẫu trong pháp môn. Xin hãy nói với ông Phác.

[Về chuyện ấn hành] Văn Sao thì do Thượng Hải trong thời gần đây xảy ra chiến sự nên không mua được giấy Mao Thái, còn giấy Mao Biên thì trước kia Trung Hoa Thư Cục ước lượng giá phải hơn một đồng (tạm thời tính  in [mỗi bộ] bốn trăm trang thì sẽ tốn hơn chín cắc. Ước chừng sắp chữ xong, nói chung sách sẽ gồm hơn bốn trăm hai mươi trang, do vậy giá thành [của mỗi bộ] phải hơn một đồng). Đấy vẫn là giá in dành cho năm ngàn bộ. Nếu in ít hơn sẽ càng mắc hơn, do họ đem các thứ tiền công chế bản sắp chữ, Chỉ Bản và bản kẽm tính luôn vào trong ấy. Gần đây, nghe nói quân đội phương Bắc đã rút, nếu không đánh nhau thì giấy Mao Thái sẽ tiếp tục được chuyển đến. Hễ có giấy Mao Thái sẽ nhất định dùng giấy Mao Thái, đỡ tốn tiền hơn! Ông Sa Quân Nghị muốn chịu tiền in một trăm bộ thì hãy gởi một trăm đồng sang xưởng chính của Trung Hoa Thư Cục nằm trên con đường chùa Tịnh An, Thượng Hải, giao cho tiên sinh Du Trọng Hoàn thâu nhận. Ông ta nhận được sẽ gởi biên lai ngay. Đợi khi sách được in ra, sẽ căn cứ theo số tiền [đã giao] để gởi sách.

Nếu dùng giấy Mao Thái sẽ gởi được [mỗi gói] ba bộ, còn dùng giấy Mao Biên chỉ gởi được hai bộ [cho mỗi gói]. Theo quy định gởi sách bằng thư bảo đảm của thư cục (mỗi gói là một cắc năm xu, gởi thư bảo đảm năm xu nữa nên thành hai cắc. Thư cục quy định gởi sách bằng thư bảo đảm để ngừa tệ nạn kẻ giao sách lén đem sách bán đi. Gởi thư bảo đảm sẽ có chứng từ, họ không giở trò tồi tệ được! Vì thế bất luận bưu kiện lớn hay nhỏ, thư cục đều gởi thư bảo đảm) thì bưu phí của năm mươi gói sẽ mất mười đồng. Nếu có thể cậy ai ở Thượng Hải lãnh giùm đem đi thì sẽ đỡ tốn tiền nhiều lắm. Nếu chậm lại đôi chút chờ giấy Mao Thái được chuyển tới thì giá sách lẫn bưu phí đều đỡ tốn tiền.

Ông Hạng muốn quy y, sao chẳng chọn bậc đạo đức cao siêu để làm thầy, cứ muốn tôn Quang là một ông Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo làm thầy? Chủ kiến đã sai lầm, nhưng sợ nếu không chấp thuận, sẽ bảo Quang là kẻ chẳng biết đếm xỉa tới tình người! Nay bèn đem lầm đáp lạc, đặt pháp danh cho ông ta là Trí Nguyên. Ông ta tên là Bổn Nguyên, nay đặt pháp danh là Trí Nguyên. Cần biết rằng: Trí Nguyên (nguồn trí) chính là Chân Như Phật tánh của chính mình, hết thảy phước đức trí huệ đều phát xuất từ cái nguồn này. Người đời mê trái bổn tánh nên chân trí chẳng thể hiển hiện được! Tất cả tri kiến đều thuộc suy tính vọng tưởng; nếu thật sự biết được cái nguồn này, niệm niệm phản chiếu thì sẽ dứt lòng tà, giữ lòng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính mình để khôi phục lễ nghĩa, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, lại còn tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương thì trong đời hiện tại sẽ dự vào bậc hiền thánh, lúc lâm chung quyết định vãng sanh cõi Cực Lạc. Như thế thì sẽ có thể gọi là bậc đại trượng phu đệ tử thật sự của đức Phật. Những điều khác đã được nói tường tận trong Văn Sao, ở đây không viết cặn kẽ. Xin hãy đưa thư này cho ông ta đọc. Nếu chẳng nghĩ như vậy là đúng thì cũng chẳng quan trọng, khẩn yếu chi hết!

 

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên

Quyển 4

(Phần 4 hết)

 

[1] Nguyên văn “hạ vấn”, đây là cách nói khiêm hư, ngụ ý Tổ chẳng có học vấn gì, không hiểu biết gì mà ông Đinh Phước Bảo vẫn hạ mình hỏi ý kiến.

[2] Lục Quang Tổ (1521-1597), tự Dữ Thằng, hiệu Ngũ Đài Cư Sĩ, người Bình Hồ, tỉnh Chiết Giang, đỗ Tiến Sĩ năm Gia Tĩnh 26 (1547), làm quan tới chức Lại Bộ Thượng Thư. Ông tánh tình trung trực, cứng cỏi, nên va chạm rất nhiều với những gã xu nịnh trong triều, thường phải xin về nghỉ nhiều lần. Trong thời gian xin về nghỉ, ông chuyên tâm nghiên cứu Phật học, phát nguyện hoằng pháp, chẳng màng tiếng khen chê. Ông từng phát tâm quyên mộ khắc in bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên, trùng tu tháp chùa Dục Vương, cũng như xướng suất khắc Đại Tạng Kinh theo kiểu rút nhỏ. Về già, ông chơi rất thân với đại sư Tử Bách, tu tập Niệm Phật tam-muội. Đến lúc mất, tay kết ấn, chú tâm niệm Phật, an nhiên vãng sanh.

[3] Phùng Mộng Trinh (1548-1595), tự Khai Chi, quê ở Tú Thủy (Gia Hưng, Chiết Giang), là một danh sĩ đời Minh, hiếu học, thông thạo rộng rãi kinh sử, trước tác rất nhiều. Ông đỗ Tiến Sĩ năm Vạn Lịch thứ năm (1577), giữ chức Hàn Lâm Biên Tu. Về già, ông lập biệt thự tại Tây Hồ, đặt tên là Tây Hồ Thảo Đường, thường thích đọc kinh Phật, ngao du thăm viếng những chùa miếu quanh vùng Tây Hồ. Những trước tác nổi tiếng nhất của ông như Khoái Tuyết Đường Tập, Khoái Tuyết Đường Mạn Lục, Lịch Đại Cống Cử Chí đều được đưa vào Tứ Khố Tổng Mục thời Minh.

[4] Tích Sa Tạng là bản Đại Tạng Kinh được khắc từ năm Thiệu Định thứ hai (1229) đời vua Tống Lý Tông nhà Nam Tống cho đến năm Chí Trị thứ hai (1322) đời vua Nguyên Anh Tông, tổng cộng gồm 592 hòm, tức 6.362 quyển, gồm tất cả 1.532 bộ kinh. Do kinh được khắc in ở chùa Tích Sa Diên Thánh Viện thuộc Trần Châu, phủ Bình Giang (nay là Ngô Huyện tỉnh Giang Tô) nên bản in này được gọi là Tích Sa Tạng.

[5] Độ Điệp (度 牒): Giấy chứng minh một vị Tăng đã thật sự thọ Cụ Túc Giới (đắc độ) trong một giới đàn được triều đình công nhận, tuân thủ đúng theo quy chế thọ giới của nhà Phật. Độ Điệp thường do triều đình cấp. Quy chế này được lập ra từ thời Bắc Ngụy. Đến đời Đường, vào năm Khai Nguyên 17 (729) triều đình hạ lệnh tăng ni trong toàn quốc cứ mỗi ba năm phải đăng ký vào sổ bộ. Đến năm Thiên Bảo thứ sáu (747), nhà Đường lập riêng chức quan Công Đức Sứ trực thuộc Thượng Thư Tỉnh để trông coi việc cấp chứng minh thư cho tăng nhân. Đến năm Đại Trung thứ 10 (856), Độ Điệp được gọi là Giới Điệp và theo những quy định rất ngặt nghèo. Tăng nhân không có Giới Điệp sẽ không được triều đình thừa nhận, có thể bị bỏ tù bất cứ lúc nào! Dưới đời Minh để được cấp Độ Điệp, tăng nhân phải thi đậu kỳ khảo hạch về kinh điển mới được phép xin thọ Cụ Túc Giới. Mỗi một lần truyền giới phải được triều đình chấp thuận. Ai tự tiện mở giới đàn không xin phép triều đình, cho dù là quốc sư, cũng sẽ bị phạt vạ rất nặng.

[6] Phùng Đạo (882-954), tự Khả Đạo, hiệu Trường Lạc Lão, người huyện Cảnh Thành, Doanh Châu (nay là huyện Giao Hà, tỉnh Hà Bắc), làm Tể Tướng trải suốt năm triều đại, tám dòng họ, phục vụ mười ba vị vua, thường bị các sử gia coi là một gã hoạt đầu chính trị bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa. Trong bộ Tư Trị Thông Giám, Tư Mã Quang đã miệt thị Phùng Đạo là “gian thần bậc nhất”; còn Âu Dương Tu thì phê phán nặng hơn: “Chẳng biết liêm sỉ là vật gì!” Thoạt đầu, ông ta vốn là thủ hạ của Lý Tồn Úc. Khi Lý Tồn Úc diệt Hậu Lương, lập ra nhà Hậu Đường (năm 923), liền cho Phùng Đạo giữ chức Hộ Bộ Thị Lang, rồi thăng lên làm Tể Tướng dưới đời vua Hậu Đường Minh Tông (Lý Tự Nguyên). Tuy là Tể Tướng, nhưng tới khi Lý Tùng Kha (con nuôi của Mẫn Đế) dấy loạn đoạt ngôi vua của Đường Mẫn Đế (Lý Tùng Hậu), trở thành Đường Mạt Đế (Xuất Đế), Mẫn Đế phải chạy sang nương tựa Thạch Kính Đường, ông ta không thèm theo vua hộ giá, mà lại thống lãnh bá quan tiếp rước tân hoàng đế. Tới khi Thạch Kính Đường diệt nhà Hậu Đường, lập ra nhà Hậu Tấn (năm 936), với tài luồn lọt, Phùng Đạo lại trở thành Tể Tướng của nhà Hậu Tấn. Tới năm 946, quân Khiết Đan dưới sự thống lãnh của Gia Luật Đức Quang của nhà Liêu kéo quân xuống phía Nam, sát nhập lãnh thổ Hậu Tấn vào Đại Liêu, Đức Quang vẫn cho Phùng Đạo giữ chức Thái Phó. Không lâu sau, bộ hạ cũ của Thạch Kính Đường là Lưu Trí Viễn chiếm lại lãnh thổ nhà Hậu Tấn, đuổi quân Liêu về Bắc, lập ra nhà Hậu Hán (năm 947). Nhờ khéo luồn lọt, Phùng Đạo lại được Lưu Trí Viễn phong làm Thái Sư. Bốn năm sau, bộ hạ của Lưu Trí Viễn là Quách Oai soán ngôi, lập ra nhà Hậu Châu, Phùng Đạo vẫn được Quách Oai cho giữ chức Thái Sư Trung Thư Lệnh cho đến khi mất. Trong suốt thời gian làm Tể Tướng, Phùng Đạo chỉ đóng góp được mỗi một việc có ý nghĩa cho cõi đời là ra lệnh khắc ván quy mô chín bản kinh điển trọng yếu của Nho Gia dưới sự bảo trợ của triều đình.

[7] Phạn bản theo nghĩa thông thường có nghĩa là nguyên văn chép bằng tiếng Sankrit (tiếng Bắc Phạn), nhưng từ ngữ này được dùng ở đây để chỉ một lối in kinh. Trong cách in kinh này, mỗi trang gồm mười hai dòng, mỗi dòng độ 17 chữ, được chia thành hai nửa trang, có vạch phân cách chính giữa, nhưng vẫn chỉ đánh số như một trang (chỉ in một mặt giấy). Do vậy khi xếp lại thành quyển để đóng gáy, hai mặt giấy trắng đâu lưng vào nhau, mỗi một trang giấy của quyển sách đã đóng chỉ là nửa trang giấy ban đầu (tức mỗi trang chỉ gồm sáu dòng; đúng ra phải gọi là cột), cứ mỗi hai mặt của một trang giấy đã xếp ấy mới gọi là một trang (vì thế lối in này còn gọi là Chiết Tử). Đây là cách in mô phỏng lối chép kinh theo hàng ngang trên lá bối của Ấn Độ nên gọi là Phạn Bản. Đôi khi có những bản in như Thục Bản lại được in theo lối Quyển Tử, tức mỗi trang được in trên một tờ giấy dài, mỗi một tờ như vậy gồm hai mươi ba hàng, mỗi hàng mười sáu hay mười bảy chữ, một bộ kinh in xong được cuốn thành cuộn chứ không xếp giấy đóng thành sách. Về sau này, tuy kỹ thuật ấn loát tiến bộ hơn, đã in được cả hai mặt giấy, nhưng nếu mỗi trang bị cắt ra như vậy thì bản in ấy vẫn gọi là Phạn bản. Còn Phương Sách chính là lối in sách theo truyền thống Trung Hoa, mỗi mặt giấy được tính là một trang gồm năm hay sáu dòng, mỗi dòng là mười sáu chữ, sách luôn được xếp giấy đóng gáy như mọi sách vở trong cõi đời.

[8] Đức ý (德意): Ý nguyện cao đẹp hoằng pháp lợi người.

[9] Tức trình bày kinh Phật theo lối Phương Sách như đã nói trong chú thích trên đây.

[10] Lăng Nghiêm Hội Giải (gọi tên đầy đủ là Lăng Nghiêm Kinh Viên Thông Hội Giải Sớ) do thiền sư Duy Tắc soạn vào đời Nguyên, chọn lọc tất cả những chú giải kinh Lăng Nghiêm của các vị cổ đức từ thời Đường, Tống, Nguyên, thêm phần bình chú của chính mình mà soạn thành. Thiền Sư Duy Tắc (?-1354) thuộc tông Lâm Tế, quê ở Cát An (tỉnh Giang Tây), hiệu Thiên Như, lúc bé xuống tóc ở Hòa Sơn, sau sang núi Thiên Mục nhập chúng, đắc pháp với thiền sư Trung Phong Minh Bổn, được ngài Trung Phong chọn làm pháp tự. Sư chấn hưng Tông phong, hoằng dương pháp Thiền mạnh mẽ, nhưng lại chuyên tu Tịnh nghiệp, soạn sách Tịnh Độ Hoặc Vấn để phá trừ các nghi hoặc về Tịnh Độ. Sư được Nguyên Thuận Đế ban mỹ hiệu “Phật Tâm Phổ Tế Văn Huệ Đại Biện Thiền Sư”, tặng y kim lan. Ngoài hai bộ sách nói trên, Sư còn có những tác phẩm nổi tiếng khác như Ngữ Lục, Thập Phương Giới Đồ Thuyết v.v…

[11] Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao (tám mươi quyển): Thoạt đầu, ngài Thanh Lương Trừng Quán soạn Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ từ năm Hưng Nguyên nguyên niên (784) đến năm Trinh Nguyên thứ ba (787) gồm 60 quyển nhằm giảng giải kinh Hoa Nghiêm. Sau đấy, các đệ tử của Ngài như Tăng Duệ v.v… hơn một trăm người soạn Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao (gọi tắt là Diễn Nghĩa Sao, gồm 90 quyển) nhằm giải thích bộ sớ này. Đến đời Tống, Tịnh Nguyên mới phối hợp chánh kinh với lời sớ, tạo thành bộ Hoa Nghiêm Sớ Chú gồm 120 quyển. Sau đấy, người ta mới ghép Sớ và Sao chung thành một bộ, lược bớt những ý kiến trùng lặp trong phần Sao, tạo thành bộ Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao gồm tám mươi quyển.

[12] Đài Đầu là cách viết theo lối cổ nhằm thể hiện ý tôn kính. Nếu nói chi tiết thì có hai cách dùng:

1) Na Đài: Phía trước tên người được xưng hô sẽ bỏ một ô trống. Cách này vẫn còn sử dụng trong những văn kiện chánh thức của Đài Loan.

2) Bình Đài: Nhằm thể hiện ý tôn trọng tột bậc. Mỗi khi gặp danh xưng của một người liền xuống hàng, bắt đầu một dòng mới bằng danh xưng ấy.

[13] Nguyên văn “Vạn quân cửu thân hàm trượng” (ông Vạn đích thân dạy học đã lâu). Chữ Hàm Trượng (函 丈) vốn là một từ ngữ để gọi thầy dạy học một cách cung kính. Quan Huyền khi chú giải sách Lễ Ký đã giảng câu: “Nhược phi ẩm thực chi khách, tắc bố tịch, tịch gian hàm trượng” (Nếu không phải là khách đến ăn uống thì trải chiếu, chiếu được trải trong khoảng một trượng) như sau : “Người giảng và kẻ nghe giảng ngồi cách nhau trong vòng một trượng nên gọi là Hàm Trượng”.

[14] Đảnh Cách (頂 格) là in một cột chữ cao hơn những cột khác một chữ. Cách này thường áp dụng để nhấn mạnh phần chánh văn trong một bài viết nhằm chú giải một đoạn kinh hay một thiên sách nào đó.

[15] Đây là bốn câu trong Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn không được Châu An Sĩ giải thích chi tiết: “Vu công trị ngục đại hưng tứ mã chi môn, Đậu thị tế nhân cao triết ngũ chi chi quế, cứu nghị trúng Trạng Nguyên chi tuyển, mai xà hưởng Tể Tướng chi vinh” (Vu công coi ngục cửa công đường to lớn, rộn ràng xe tứ mã, họ Đậu cứu người bẻ năm cành quế trên cao, cứu kiến đậu Trạng Nguyên, chôn rắn được hiển vinh làm Tể Tướng). Tổ Ấn Quang đã ghi phần bổ khuyết như sau: “An Sĩ tiên sinh soạn tập cuốn sách này, sự lý, văn nghĩa thảy đều chu đáo. Chỉ có đời cuối cùng của Đế Quân và bốn chuyện Vu Công coi ngục, họ Đậu cứu người, Tống Giao cứu kiến, Thúc Ngao chôn rắn đều chưa từng sao chép. Chắc là do các sách khác đã chép đầy đủ, đời sau đều biết nên lược đi, nhưng kẻ chưa từng đọc rộng rãi sẽ không biết được. Quả thật là một điều đáng tiếc nuối. Do vậy, tôi bèn dựa theo Âm Chất Văn Chú Chứng chép bổ sung vào đây để sự thật được sáng tỏ bởi chẳng tiện sửa đổi nguyên văn….

Đời Hán, Vu Công là người Đông Hải, làm Đề Lại coi ngục. Trong quận có người đàn bà hiếu thảo, ở góa thủ tiết, nuôi mẹ chồng rất chu đáo. Mẹ chồng [thương con dâu còn trẻ], sợ con dâu lỡ dịp đi lấy chồng khác bèn tự thắt cổ chết. Người em chồng liền vu cho nàng dâu đã bức chết mẹ, nàng dâu không biện bạch được. Vu Công bào chữa cũng không được, nàng dâu bị xử tội chết. Xứ Đông Hải liền bị hạn hán ba năm. Về sau, quan Thái Thú đến, Vu Công thưa bày nỗi oan, tế lễ trước mộ người con dâu hiếu thảo, trời liền đổ mưa. Phàm những vụ án do Vu Công xét xử, mọi người đều phục. Cửa công đường hư, dân chúng tính sửa chữa. Ông nói: “Cửa này cao lớn có thể lọt lọng, xe tứ mã được! Ta coi ngục nhiều âm đức mà cũng không oan uổng, con cháu ắt sẽ hưng thịnh”. Sau này, con ông là Định Quốc quả nhiên làm Thừa Tướng, tước phong Bình Tây Hầu. Cháu là Vĩnh Lữ làm Ngự Sử Đại Phu.

Đậu Vũ Quân thời Ngũ Đại, người ở Yên Sơn, ngoài ba mươi tuổi vẫn không con. Mộng thấy ông nội bảo: “Chẳng những ngươi không có con mà còn chẳng thọ! Hãy nên sớm tu đức để xoay chuyển lòng trời”. Do vậy, Vũ Quân tận lực làm lành. Có kẻ ăn trộm hai trăm ngàn đồng, tự viết tờ bằng khoán buộc vào lưng đứa con gái bé, viết: “Bán vĩnh viễn đứa con gái để đền tiền nợ”, rồi bỏ trốn. Ông thương xót, đốt bằng khoán, nuôi lớn đứa bé gái cũng như chọn nơi đàng hoàng gả chồng cho nó. Trong họ nội, họ ngoại, có ai bị tang ma không lo liệu được, ông bèn bỏ tiền chôn cất. Có người có con gái không lấy chồng được [vì thiếu tiền hồi môn], ông bèn bỏ tiền làm đám cưới. Đối với thu nhập mỗi năm, ông tính toán trừ khoản tiền chi dụng ra, [phần còn lại] đều dùng để giúp người khác. Trong nhà chỉ một mực tiết kiệm, thanh bần, chẳng trang sức vàng ngọc, vợ chẳng có quần áo lượt là. Dựng thư viện ở phía Nam nhà mình, chứa mấy ngàn quyển sách, mời thầy dạy dỗ trẻ nghèo hèn bốn phương, chu cấp tiền cho học trò. Không lâu sau, sanh được năm đứa con trai, đều thông minh, tuấn tú, khôi ngô, lại mộng thấy ông nội bảo: “Mấy năm qua, công đức ngươi rộng lớn, tên đã được ghi trên thiên tào, được tăng thọ ba kỷ (một kỷ là mười hai năm). Năm đứa con trai đều vinh hiển. Ngươi hãy càng thêm cố gắng, đừng biếng nhác cái tâm ban đầu”. Về sau con trưởng là Tử Nghi làm Thượng Thư bộ Lễ, con thứ là Tử Nghiễm làm Thị Lang bộ Lễ, con thứ ba là Tử Khản giữ chức Tả Bổ Khuyết, con thứ tư là Tử Xưng làm Hữu Gián Nghị Đại Phu Tham Đại Chánh, con thứ năm là Tử Hy làm Khởi Cư Lang. Tám đứa cháu nội đều quý hiển. Ông thọ tám mươi hai tuổi, không bệnh, nói cười qua đời. Phùng Đạo tặng bài thơ: “Yên sơn Đậu Thập Lang, dạy con trọn nhân nghĩa, linh xuân một cội lão, quế đỏ năm cành thơm”.

Đời Tống, Tống Giao, Tống Kỳ cùng học trong trường Thái Học, có một vị Tăng coi tướng bảo: “Tiểu Tống đỗ đầu thiên hạ, Đại Tống chỉ vừa [đủ điểm] khỏi rớt mà thôi!” Mùa Xuân năm sau, thi xong, vị Tăng trông thấy Đại Tống bèn chúc mừng: “Chắc là anh đã từng cứu sống mấy trăm vạn sanh mạng!” Giao cười bảo: “Nhà Nho nghèo làm gì có sức được như vậy”. Tăng nói: “Loài vật cựa quậy đều là sanh mạng”. Giao nói: “Có tổ kiến bị mưa xoáy vỡ, tôi bèn ghép tre bắc cầu cho chúng thoát thân. Chắc là chuyện ấy đấy”. Tăng nói: “Đúng vậy! Năm nay Tiểu Tống sẽ đỗ đầu, nhưng rốt cuộc ông vẫn chẳng thua kém nó đâu!” Đến lúc xướng tên người đậu, quả nhiên Tống Kỳ đỗ Trạng Nguyên; Chương Hiến Thái Hậu bảo: “Em không được vượt anh”, [quan Chánh Chủ Khảo] bèn lấy Tống Giao đỗ đầu, đổi Tống Kỳ thành đỗ hạng mười. Mới tin lời vị Tăng nói chẳng sai.

Tôn Thúc Ngao người nước Sở, thường ra ngoài chơi, thấy rắn hai đầu, bèn giết đem chôn. Lúc trở về, buồn bã không ăn. Mẹ hỏi duyên cớ, khóc thưa rằng: “Con nghe nói thấy rắn hai đầu ắt phải chết. Nay con trông thấy, sợ sẽ phải chết, bỏ mẹ lại”. Mẹ nói: “Rắn nay ở đâu?” Thưa: “Con sợ người khác lại trông thấy đã giết đem chôn rồi”. Mẹ nói: “Không lo gì! Ta nghe nói kẻ có âm đức ắt được thiện báo. Ắt con sẽ khiến cho nước Sở được hưng thịnh”. Về sau, ông Tôn làm Lệnh Doãn (Tể Tướng), chấp chánh nước Sở”.

[16] Xin xem chi tiết những chỗ Tổ phê phán lối chép kinh của bà Ngô Nghệ Anh trong “Thư trả lời cư sĩ Lục Giá Hiên” trong bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên, quyển 1, thư số 77.

[17] Chỉ những vị sư chuyên làm kinh sám, Phật sự, cúng quải theo lời thỉnh cầu của tín chủ (thường gọi là “ứng phó đạo tràng”).  

[18] “Đối sách” chỉ bài viết trong trường thi. Do đề thi thường là một câu nói hay một đoạn văn trích từ kinh điển Nho gia, thí sinh phải viết thành một bài văn giảng giải ý nghĩa câu nói ấy cũng như trình bày quan điểm, sách lược hòng giải quyết vấn đề, nên bài viết ấy thường gọi là Đối Sách. Khi viết Đối Sách, phải viết chữ rõ ràng, đủ nét, thận trọng để tránh phạm húy, lời văn không được có giọng điệu vô lễ, khinh cuồng v.v…

[19] Nữ Huấn là một bài minh do Thái Ung soạn, có nội dung giáo hóa phụ nữ về bổn phận, phẩm đức của nữ giới. Nội dung như sau: “Tâm do thủ diện dã, thị dĩ thậm trí sức yên. Diện nhất đán bất tu sức, tắc trần cấu uế chi. Tâm nhất triêu bất tư thiện, tắc tà ác nhập chi. Phù diện chi bất sức, ngu giả vị chi xú, tâm chi bất tu, hiền giả vị chi ố. Tương hà dung yên? Cố lãm chiếu thức diện, tắc tư kỳ tâm chi khiết dã. Phó chỉ tắc tư kỳ tâm chi hòa dã. Gia phấn tắc tư kỳ tâm chi tiển dã. Trạch phát tắc tư kỳ tâm chi thuận dã. Dụng trất tắc tư kỳ tâm chi lý dã. Lập kế tắc tư kỳ tâm chi chánh dã. Nhiếp mấn tắc tư kỳ tâm chi chỉnh dã.” (Tâm ví như đầu mặt. Do vậy, phải hết sức trau sửa. Mặt một ngày không trau rửa, ắt bụi bám dơ bẩn. Tâm một ngày chẳng nghĩ tới điều lành, ắt tà ác chen vào. Phàm mặt không trang điểm, kẻ ngu chê là xấu. Tâm không tu, người hiền chán ghét. Làm sao chịu đựng được? Do vậy, khi soi gương phải nghĩ xem cái tâm có trong sạch hay chăng? Lúc bôi kem thơm phải nghĩ sao cho cái tâm nhu hòa. Lúc giồi phấn phải nghĩ sao cho cái tâm tốt lành. Lúc làm mượt tóc phải nghĩ sao cho cái tâm an thuận. Khi dùng lược phải nghĩ sao cho cái tâm phù hợp với lý. Lúc búi tóc lên phải nghĩ sao cho cái tâm chánh đáng. Lúc cuộn những sợi tóc mai phải nghĩ sao cho cái tâm được tề chỉnh).

Thái Ung (132-192), tự Bá Giai, là một danh sĩ sống vào cuối đời Hán, học rộng, giỏi thư pháp, từng được cử giữ chức Tả Trung Lang Tướng dưới thời Hán Hiến Đế. Ông là người đầu tiên chỉnh lý kinh điển Nho gia và san định thành một bản tiêu chuẩn. Bài minh trên đây chủ yếu để dạy hai cô con gái của ông. Về sau, nó được coi như một bài minh cần phải thuộc nằm lòng của nữ giới.

[20] Vương Duy (701-761), tự là Ma Cật, người huyện Kỳ, tỉnh Sơn Tây, là một thi nhân nổi tiếng dưới đời Đường, thường được xưng tụng bằng mỹ hiệu Thi Phật do những bài thơ Đường Luật của ông mang đậm sắc thái Thiền vị. Vương Duy tinh thông Phật pháp, đặc biệt hâm mộ kinh Duy Ma Cật nên lấy hiệu là Ma Cật. Ông đậu Tiến Sĩ năm Khai Nguyên thứ 9 (721), làm quan đến chức Thái Tử Trung Doãn, Thượng Thư Hữu Thừa. Ông cũng nổi tiếng về tài hội họa. Những sách viết về hội họa thời cổ như Lịch Đại Danh Họa Ký, Đường Triều Danh Họa Ký v.v… đều đánh giá rất cao tài năng hội họa của ông.

[21] Bùi Hưu (791-864), tự Công Mỹ, người xứ Tế Nguyên, Mạnh Châu (nay thuộc huyện Tế Nguyên, tỉnh Hà Nam), học Phật từ nhỏ, người đời thường gọi ông là Hà Đông Cư Sĩ (vì tổ tiên ông vốn là người Hà Đông). Làm quan đến chức Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự, rồi được bổ làm Tiết Độ Sứ ở nhiều nơi, tánh tình khoan dung, rộng rãi, nghiêm cẩn, cai trị đúng mực, không ra oai mà dân chúng hết sức kính sợ, yêu mến. Ông nổi tiếng về tài thư pháp, văn chương trầm ổn, mạnh mẽ, lay động lòng người. Gia đình ông đời đời sùng Phật, nhưng ông là người tu học Phật pháp nhiệt thành nhất. Ông từng dựng chùa Mật Ấn để làm trụ xứ cho Linh Hựu thiền sư. Về già, dựng am ẩn cư tại làng Quy Sơn ở Hồ Nam.

[22] Nê Lê (Niraya) là tên gọi khác của Địa Ngục (Naraka: thường phiên âm là Nại Lạc Ca hoặc Na Lạc Già), dịch nghĩa là Bất Lạc, Khả Yếm (đáng chán), Khổ Cụ, Khổ Khí, Vô Hữu.

[23] Ý nói nếu chú giải mà không nêu được ý chỉ viên dung, chỉ khiến cho người đọc chấp vào Lý Tánh, bác bỏ Sự Tu, thiên chấp đề cao Thiền Tông, bài xích, miệt thị các tông khác thì đã trái nghịch với ý chỉ viên đốn của Tổ. Chú giải như vậy sẽ có hại hơn là có lợi, thà cứ để nguyên không chú giải cho người đọc tự lãnh hội ý Tổ thì hay hơn.

[24] Tiếng gọi học trò của người khác một cách trang trọng.

[25] Tam Muội Luật Sư (1580-1654), người huyện Quảng Lăng, năm 21 tuổi, xin xuất gia với pháp sư Tịnh Nguyên tại Di Đà Am trong làng, rồi thọ Cụ Túc Giới tại chùa Cam Lộ ở Nhuận Châu vào năm 29 tuổi, y chỉ Huệ Vân Luật Sư để chuyên tâm nghiên cứu Luật Tông, nghiêm trì tịnh giới, rất được ngài Huệ Vân coi trọng, thường sai thay mặt Huệ Vân diễn giảng. Sau đấy, Sư bế quan ba năm tại núi Cửu Tử. Sau khi xuất quan, Sư chủ trì pháp hội Long Hoa tại Ngũ Đài Sơn, cảm được Văn Thù Bồ Tát phóng quang, hiện thân cưỡi sư tử trên hư không. Năm 1639, khi ngồi thuyền trở về Thạch Tháp, đi ngang Long Đàm, thuận chân viếng thăm núi Bảo Hoa (huyện Cú Dung, tỉnh Giang Tô) thấy tổ đình điêu tàn, Sư liền phát tâm trùng tu chùa này. Năm sau, Sư chống tích trượng sang Bảo Hoa, sai học trò là Kiến Nguyệt làm Giám Viện, mỗi năm tổ chức truyền giới đàn hai lần. Ngày Hai Mươi Sáu tháng Sáu năm 1654, sau khi truyền giới xong tại giới đàn chùa Tam Tháp (Thiệu Hưng), Sư trở về Bảo Hoa, bảo học trò trong vòng từ ba đến bảy ngày nữa Sư sẽ vãng sanh. Ngày Mồng Một tháng Sáu nhuận, Sư giao phó chùa Bảo Hoa cho Kiến Nguyệt. Mồng Bốn tháng Sáu, Sư tự tắm rửa, ngồi xếp bằng trong nước, mỉm cười qua đời trong tiếng trợ niệm Phật hiệu của môn nhân.

[26] Ý nói: Thuận theo thế để diệt trừ, ví như vung đao chém xuống, do đà đi của lưỡi đao, vật sẽ bị cắt đứt không cần phải ra sức bổ xuống. Cũng giống như vậy, hễ chứng ngộ, phiền não sẽ đoạn diệt, không cần phải chú tâm dụng công. Thật ra vẫn là dụng công, nhưng không còn phân biệt đối đãi nên giữ giới, diệt phiền não không cần phải hết sức chú tâm dụng công. 

[27] Kim Cang Trí (Vajrabodhi, 671-741) là vị Tổ phó pháp thứ năm của Mật Tông Ấn Độ, được coi  là Sơ Tổ Mật Tông Trung Hoa (theo truyền thống Kim Cang Giới). Sư xuất thân từ giai cấp Bà La Môn, năm lên mười tuổi xuất gia ở chùa Na Lan Đà, hai mươi tuổi thọ Cụ Túc, nghiên cứu tu tập rộng rãi các kinh điển Đại Tiểu Thừa. Năm ba mươi mốt tuổi, theo học Mật giáo với ngài Long Trí. Nối gót ngài Thiện Vô Úy, Sư dẫn đệ tử là Bất Không theo đường biển đi qua Tích Lan, Sumatra, tới Quảng Châu của Trung Hoa vào năm Khai Nguyên thứ bảy (719) đời Đường, kiến lập đạo tràng Quán Đảnh Đại Mạn Noa La, hóa độ tứ chúng. Năm Khai Nguyên thứ tám (720), Sư lên Lạc Dương rồi qua Trường An, lo phiên dịch kinh điển Mật giáo và truyền thụ bí pháp quán đảnh. Ngài dịch được các bộ Kim Cang Đảnh Kinh, Du Già Niệm Tụng Pháp, Quán Tự Tại Du Già Pháp Đệ Bát Bộ… Sư cùng với Bất Không và Thiện Vô Úy được cõi đời xưng tụng là Khai Nguyên Tam Đại Sĩ. Sư tính trở về Ấn Độ, nhưng rồi thị hiện bệnh nhẹ, viên tịch tại chùa Quảng Phước, Lạc Dương, thụy hiệu Đại Hoằng Giáo Tam Tạng. Những vị đệ tử người Trung Hoa nổi tiếng nhất của Sư là Nhất Hạnh, Huệ Siêu, Nghĩa Phước, Viên Chiếu v.v…

[28] Thiện Vô Úy (Śubhakara-simha, 637-735). Đôi khi còn dịch là Tịnh Sư Tử, cũng được coi là Sơ Tổ của Mật Tông Trung Hoa (tùy theo hệ thống truyền thừa là Thai Tạng Giới hay Kim Cang Giới mà sẽ coi ngài Thiện Vô Úy hay ngài Kim Cang Trí là Sơ Tổ). Sư vốn người nước Ô Trà (Odra, Đông Ấn Độ), thuộc giai cấp Sát Đế Lợi, hậu duệ của Cam Lộ Phạn Vương (Cam Lộ Phạn Vương là chú của Phật Thích Ca). Sư nối ngôi vua năm mười ba tuổi, do gặp nội loạn, Sư bèn nhường ngôi đi xuất gia. Đến bờ biển Nam Ấn, Sư thấy ngôi chùa thờ Phật thù thắng bèn ngộ được Pháp Hoa Tam Muội. Ngài đến chùa Na Lan Đà ở Trung Ấn theo học với ngài Đạt Ma Cúc Đa (Dharmagupta), nghiên cứu Du Già Tam Mật, lãnh hội rốt ráo, được ngài Đạt Ma Cúc Đa truyền quán đảnh. Năm Khai Nguyên thứ tư (716) đời Đường, tuân theo lời thầy truyền, Sư theo ngả Trung Á đến Trường An, được vua Huyền Tông tôn làm quốc sư, trụ tại chùa Hưng Phước. Năm sau, Sư phụng chiếu dịch kinh tại chùa Bồ Đề, dịch các bộ Hư Không Tạng Bồ Tát Năng Mãn Chư Nguyện Tối Thắng Tâm Đà La Ni Cầu Văn Trì Pháp, Đại Nhật Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh (những lời giảng về kinh Đại Nhật của Ngài được Nhất Hạnh biên tập thành bộ Đại Nhật Kinh Sớ), Tô Bà Hô Đồng Tử Kinh, Tô Tất Địa Yết La Kinh. Do những kinh này thuộc hệ thống Thai Tạng Giới trong Mật thừa nên Sư được coi như Sơ Tổ Mật Tông Trung Hoa (nếu xét theo hệ thống Thai Tạng Giới). Sư là người chủ xướng việc để nguyên những bài thần chú bằng tiếng Phạn, dùng những chữ Hán có âm đọc gần giống với Phạn âm để ghi cách đọc, khiến cho Phật giáo Trung Hoa dấy lên phong trào nghiên cứu chữ mẫu tự Tất Đàm (Siddham). Do rất khéo tay, Ngài cùng các đệ tử tự chế tạo các hình mạn-noa-la (mandala), tượng, pháp khí, tháp bằng đồng. Năm Khai Nguyên 20 (730), Sư xin trở về Ấn Độ, nhưng không được vua chấp thuận. Sư thị tịch năm Khai Nguyên 23, thọ chín mươi chín tuổi. Huyền Tông hết sức thương tiếc truy tặng tước Hồng Lô Khanh, chôn ở chùa Quảng Kỷ tại núi Long Môn. Các đệ tử đắc pháp gồm Bảo Tư, Nhất Hạnh, Huyền Siêu, Nghĩa Lâm, Trí Nghiêm, Hỷ Vô Úy, Bất Khả Tư Nghị (người Đại Hàn), Đạo Từ (người Nhật)…

[29] Phần nêu những nguyên tắc biên soạn và trình bày tự điển, như nguyên tắc tra chữ, cách sắp xếp hệ thống phân loại từ ngữ, cách đánh số ghi chú và bản thư mục trích dẫn, cách ghi tắt từ loại (chẳng hạn bên cạnh một chữ mở ngoặc ghi một chữ “danh” trong ngoặc thì từ ấy là một danh từ), tên những tác phẩm trích dẫn thường được ghi tắt bỏ trong ngoặc vuông, chẳng hạn trích từ quyển 2, phẩm Thuần Đà, kinh Niết Bàn thì ghi là [Niết – Thuần Đà – q.2] v.v…

[30] Di Lặc Bồ Tát hóa thân làm Bố Đại Hòa Thượng ở huyện Phụng Hóa vào đời Minh. Hình tượng Di Lặc Bồ Tát thường được thờ hiện thời ở Trung Hoa chính là hình trạng của Bố Đại Hòa Thượng: Bụng to, mặt lớn, tai dài, luôn mỉm cười, tay luôn cầm một chiếc túi vải.

[31] Từ Lăng (507-583), tự Hiếu Mục, người Đông Hải Đàm (nay thuộc huyện Đông Đàm, tỉnh Sơn Đông), là một văn nhân nổi danh thời Trần – Tùy. Được ca ngợi là “tám tuổi thông văn chương, mười hai tuổi thông hiểu Lão – Trang, đến lớn đọc khắp các sử sách, biện tài vô ngại”. Ông từng giữ chức Đông Các Học Sĩ, làm thầy dạy học của Lương Giản Văn Đế (Tiêu Cương) khi vua còn là Thái Tử.

[32] Pháp Hoa Tôn Giả (?-680) là cao tăng đời Đường, pháp danh là Trí Oai. Sư là người xứ Tấn Vân, Xử Châu (nay là Chiết Giang). Thuở nhỏ học Nho, tới năm mười tám tuổi đã giữ chức Đường Trưởng trong quận ấy. Cũng trong năm đó, tuân theo lời cha mẹ, Sư trở về quê nhà lo cưới vợ, giữa đường chợt gặp một vị Phạm tăng cật vấn: “Sao ông lại bội nghịch lời trọng thệ khi xưa?” Vị Phạm tăng cho biết Sư đời trước là Từ Lăng, từng nghe tổ Trí Giả giảng kinh Pháp Hoa, liền phát nguyện đời sau xuất gia từ bé để hoằng dương tông Thiên Thai. Do vậy, Sư bèn sang chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, thờ ngài Quán Đảnh làm thầy. Sau khi thọ Cụ Túc liền được thầy truyền tâm yếu, Định – Huệ trọn đủ, chứng được Pháp Hoa tam-muội. Năm Thượng Nguyên nguyên niên (674), Sư rời Quốc Thanh, vào núi Thương Lãnh Phổ Thông ẩn cư, tuyên giảng kinh Pháp Hoa. Do cuộc đất chật hẹp, Sư bèn dời sang ngọn núi Hiên Viên Luyện Đan, chặt phá gai góc, đặt tên nơi ấy là Pháp Hoa. Ngày diễn giảng, đêm hành Thiền. Đạo chúng theo học đông dần, Thiền tập đến ba trăm người, thính chúng hơn bảy trăm người. Tôn giả biện tài uyên bác, văn chương lưu loát, soạn rất nhiều văn bia. Người đời tôn xưng Sư là Pháp Hoa Tôn Giả. Sư thân cao lớn, khi lên giảng tọa thường có áng mây tím che trên đỉnh đầu. Từ chỗ Sư ẩn cư đến chỗ Thiền hội, thọ trai xa cả tám chục dặm, nhưng Sư chưa hề chậm trễ vắng mặt nên mọi người đều nói là Sư có Thần Túc Thông. Sư từng được vua phong tước Triêu Tán Đại Phu. Sau này, Ngô Việt Vương dâng tặng thụy hiệu Huyền Đạt Tôn Giả. Đệ tử nối pháp có ngài Huệ Oai cũng rất nổi tiếng nên người đời thường gọi hai thầy trò là Nhị Oai.

[33] “Chó rơm” (Sô Cẩu: 芻 狗) vốn là con chó bện bằng rơm thường dùng để cúng tế cho người chết trong thời cổ. Sau khi cúng xong sẽ đốt hoặc vứt đi nên từ ngữ Sô Cẩu thường dùng để chỉ những vật vô ích. Ở đây, Tổ dùng từ ngữ này để sánh ví Văn Sao, sau khi đã hoàn thành vai trò dẫn nhập kẻ sơ cơ thâm nhập pháp môn Tịnh Độ thì chẳng cần đến Văn Sao nữa cũng không sao!

[34] Kim Nê (金 泥): Hòa thủy ngân lẫn với bột vàng (hoặc kim loại), đem nung nóng thành chất bột sền sệt thì gọi là Kim Nê. Kim Nê thường dùng trong kỹ thuật đúc ấn hoặc niêm phong. Thuở trước, người ta làm khuôn bằng sáp rồi in vào chất bột kim nê để lấy dấu. Hiện ở Tây Tạng vẫn còn dùng phương cách tương tự để đúc những bức tượng nhỏ gọi là melting wax technique.

[35] Lương Cung Thần (1814-?), quê ở Phước Châu, tỉnh Phước Kiến, là một văn học gia nổi tiếng về tài làm câu đối dưới đời Thanh. Cung Thần là con trai thứ ba của đại văn học gia Lương Chương Cự. Những trước tác nổi tiếng nhất của Lương Cung Thần là Bắc Đông Đường Bút Ký, Doanh Liễn Tứ Thoại, Xảo Đối Tục Lục…

[36] Nguyên văn “Kinh bích”, chỉ viên ngọc của Biện Hòa (Kinh là tên gọi khác của đất Sở, tức Hồ Nam). Biện Hòa tìm được một khối đá có ngọc dâng lên vua Sở, thợ ngọc lười, chỉ chặt một góc rồi bảo là đá thường. Vua tức giận chặt một chân Biện Hòa. Một thời gian sau, vì tiếc ngọc quý không ai dùng đến, Biện Hòa lại đem khối đá ấy dâng lên vua, thợ ngọc lại phạt một góc khác, bảo chỉ là đá. Vua tức giận, ra lệnh chặt nốt chân còn lại của Biện Hòa. Biện Hòa ôm phiến đá ngồi khóc ngoài đồng. Có viên quan thương tình tâu lên vua. Vua sai xem xét cẩn thận, quả nhiên bên trong có viên ngọc quý giá vô cùng. Về sau, Tần Thủy Hoàng cướp lấy viên ngọc này để làm ấn truyền quốc. Chữ Kinh Bích về sau thường dùng như một từ ngữ phiếm chỉ các loại ngọc quý.

[37] Theo Hiện Báo Tùy Lục (quyển 1) của pháp sư Giới Hiển, ở Ninh Ba có một kẻ thường dân sống nhờ trong nhà kho của một vị Thượng Thư họ Thôi, bện hài bằng cỏ Bồ để bán kiếm sống. Ông ta thích tu hành, ăn chay trường, niệm Phật. Mỗi khi niệm Phật cứ niệm xong một xâu chuỗi lại lấy một cọng cỏ Bồ bỏ vào giỏ tre để nhớ số. Đến hôm Ba Mươi tháng Chạp mỗi năm sẽ đem đốt số cỏ ấy nơi Địa Tạng Điện. Làm như vậy được mấy năm, chợt Thôi Thượng Thư bị nhọt mọc trên lưng, chết xuống âm phủ. Diêm Vương trừng mắt, tra hỏi sự thiện – ác lúc còn sống. Ông Thôi thưa: “Nếu ngài cho con được sống lại, con sẽ một mực tu phước nghiệp chuộc tội được chăng?” Diêm Vương nói: “Tiền của nhà ngươi đã tích trữ đều là do tạo nghiệp mà có, không dùng được ở nơi này. Gã thường dân Trương Bân ở đậu nhà ngươi có trữ tiền vàng cả mấy kho ở đây. Hãy đem tiền thật đổi lấy một vạn tiền cõi Âm thì sẽ tiêu được tội!” Họ Thôi đáp: “Chỉ cần con về lại dương gian thì sẽ làm chuyện ấy dễ dàng. Nhưng Trương Bân nghèo kiết xác, sao lại được như thế?” Diêm Vương nói: “Phàm người giữ trai giới chí tâm niệm Phật một tiếng, dẫu cho tán tâm niệm Phật một tiếng cũng để dành được một đồng bằng bạc. Trương Bân chí tâm niệm Phật, dùng cỏ Bồ để ghi số, đã tích được mấy kho tiền rồi”. Ông Thôi sống lại, gọi Trương Bân bảo: “Ông tích trữ được mấy kho tiền ở Âm Phủ, có thể đổi cho ta một vạn được chăng”. Ông Trương sững sờ, câm lặng! Họ Thôi bảo: “Ông dùng cỏ Bồ để nhớ số câu niệm Phật, đem thiêu trong lò đốt giấy tiền ở miếu Địa Tạng, chính là khoản tiền ấy đấy”. Trương đáp: “Nếu thật sự như vậy, nếu quả thật hữu dụng, xin tùy ý Ngài”. Ông Thôi bèn sai viết bằng khoán, đem một vạn bạc thật để đổi lấy tiền cõi Âm, thỉnh họ Trương đốt bằng khoán tâu với Âm Phủ, quả nhiên lành bệnh. Trương Bân nói: “Tôi tuổi đã già rồi, chẳng dùng tiền để làm gì”, bèn đem số bạc ấy dựng một cây cầu lớn, tốn đến mấy vạn bạc, lại dựng một cái am cho người khác tu tập. Do ông Đinh Phước Bảo dẫn câu chuyện này nên tổ Ấn Quang khuyên ông Đinh hãy ghi thêm lời chú thích hoặc giảng giải cặn kẽ kẻo người đọc chỉ lo niệm Phật hòng trữ tiền trong cõi Âm, không cầu được vãng sanh.

[38] Ưu Ba Đề Xá (Upadeśa) là một thể tài trong kinh điển, còn được phiên âm là Ô Ba Đệ Thước, dịch nghĩa là “chỉ thị, hiển thị, tuyên thuyết, luận nghị” hoặc “chú giải chương cú kinh”, đều hàm nghĩa: Đây là những trước tác của các đệ tử Phật hoặc các luận sư đời sau nhằm chú giải, diễn giảng những lời Phật đã nói.

[39] Tức cuốn Ấn Quang Đại Sư Truyện do Mã Khế Tây soạn.

[40] Tức cuốn Thông Kiểm Bản Tam Tạng Pháp Số do Đinh Phước Bảo soạn. Ông Đinh dựa theo Đại Minh Tam Tạng Pháp Số và Giáo Thừa Pháp Số chọn lọc lấy những danh từ Phật học thông dụng nhất để giải thích.

[41] Tức phần in tên sách, số quyển, số chương, số trang trong mỗi trang sách.

[42] Bổ Di (補 遺): Phần bổ sung nhằm bù đắp những chỗ thiếu sót trong phần sách chính.

[43] Cư Sĩ Truyện (56 quyển) do Bành Thiệu Thăng (Bành Tế Thanh) soạn, chép về ngôn hạnh của hơn hai trăm vị cư sĩ ngoại hộ Phật pháp từ đời Hậu Hán cho đến niên hiệu Càn Long nhà Thanh được sưu tập từ các bộ sử truyện, văn tập của các vị danh sĩ cho đến những sách chuyên viết về Phật giáo như Hoằng Minh Tập, Quảng Hoằng Minh Tập, Phật Pháp Kim Thang Biên, Truyền Đăng Lục, Ngũ Đăng Hội Nguyên, Phật Tổ Thống Kỷ, Phật Tổ Thông Tải v.v… Sách được khởi đầu bằng các vị Mâu Dung, An Huyền, Trúc Thúc Lan v.v…. Hai vị cuối cùng là Châu An Sĩ và Tri Quy Tử.

[44] Quán nhiếp: Nói tắt của “quán thông nhiếp thọ” (貫 通 摄 受), tức gồm thâu, thâu nạp xuyên suốt, không để sót điều gì. Ý nói kinh Lăng Nghiêm dạy về lý tánh lẫn sự tu rất rõ ràng, chỉ vì người đọc do chấp trước quá nặng nên không thể hiểu viên dung ý Phật.

[45] Theo Thập Tụng Luật, quyển 37, có ba thứ thịt cho phép người có bệnh được ăn, gọi là “tịnh nhục”: Chẳng chính mắt thấy giết, chẳng nghe tiếng giết, chẳng vì ta mà giết.

[46] Đây là cách gọi theo lối xưa, gọi anh em ruột của ông nội mình theo thứ tự, ông nội thứ năm (Ngũ Tổ) chính là ông chú hay ông bác đứng hàng thứ năm trong các anh em của ông nội.

[47] Miêu Ôn (Feline Distemper) là một chứng bệnh dịch của mèo do loại virus Canine Parvovirus type 2 gây ra. Khi bị virus này tấn công sẽ ho hen, chảy mũi, nhiều đờm rãi, đau cổ họng, ói mửa, thổ tả, sốt cao. Mèo bị nhiễm căn bệnh này có tỷ lệ tử vong rất cao (75-90%). Căn bệnh này có thể lây cho người.

[48] Tuế Sát (歲 煞) là một hình thức khắc kỵ trong cách bói toán năm xung tháng hạn theo cổ lịch. Theo Thần Xu Kinh của Đạo Giáo, có Tam Sát phải kiêng kỵ trong khi xây cất là Kiếp Sát, Tai Sát và Tuế Sát. Sách ấy giảng: “Tuế Sát nghĩa là âm khí rất độc, nên gọi là Sát, xảy ra khắp bốn mùa, nên còn gọi là Âm Khí của bốn mùa, trôi nổi khắp bầu trời. Cuộc đất nào bị trúng hạn Tuế Sát, không được động thổ, xây cất. Nếu phạm thì con cháu, lục súc (gia súc) sẽ bị tổn thương, tử vong”. Ở đây, chữ Tuế Sát được dùng với nghĩa bóng: “Thời cuộc bất ổn, chiến tranh hoành hành”.

[49] Hưởng Đồng (Bell bronze, hoặc bell metal) là một loại hợp kim gồm đồng, chì, thiếc phối hợp theo một tỷ lệ nhất định (thông thường tỷ lệ đồng và thiếc là 3:1). Hưởng Đồng thường dùng để chế các loại nhạc khí có độ ngân vang như chuông, khánh, linh, cồng, chiêng, thanh la, não bạt, lục lạc v.v… Tùy theo cách chế tạo của từng vùng, đôi khi còn thêm vào các thành phần khác như manganese, bạc hay vàng (nhưng do tỷ trọng khác biệt, lượng vàng hay bạc hòa tan vào hợp kim sẽ chiếm một số lượng rất nhỏ) .

[50] Đối với Phật môn Trung Hoa, Khánh (磬) là từ ngữ chỉ chung cho các loại nhạc khí bằng đồng để gõ làm hiệu, có hình bát ngửa lên, được đặt trên đệm hoặc có cán cầm; chẳng hạn chuông gia trì (chuông dùng để tụng kinh) gọi là Đại Khánh, khánh nhỏ cầm tay (thủ khánh, hay dẫn khánh) để làm giữ nhịp dẫn lễ v.v… Chỉ những loại có hình quả chuông treo mới được gọi là “chung”. Riêng ở miền Bắc Việt Nam lại thường gọi loại nhạc khí có hình dạng đĩa phẳng, trông như một đám mây cuộn, đúc bằng đồng, gõ như chiêng trong các buổi lễ là Khánh. Loại này thường được Phật môn Trung Hoa gọi là Vân Bản.

Báo Chung là loại chuông cỡ vừa, thường được treo trong Thiền Đường, Tăng Đường, hoặc Trai Đường dùng với mục đích báo hiệu bắt đầu thọ trai, niệm Phật, nghỉ ngơi hay thức dậy. Báo Chung còn dùng để ra hiệu cho đại chúng cất giọng tán xướng trước khi ngồi Thiền hay thụ trai. Riêng trong Thiền Đường và Trai Đường Trung Hoa, Báo Chung luôn đi kèm với Bản (板, còn gọi là Chung Bản, là một tấm gỗ hình chữ nhật được treo phía dưới Báo Chung, khác với một loại bản khác treo gần Chung Bản, gọi là Thôi Bản, chỉ đánh để làm hiệu lệnh bắt đầu chạy hương; Thôi (推) có nghĩa là thúc giục). Tùy theo mỗi tông phái mà quy tắc đánh chung bản được quy định khác nhau, nhưng thông thường, đánh Bản trước khi khởi Báo Chung, đánh thành ba hồi, trước chậm sau nhanh dần để đại chúng có đủ thời gian vân tập.

Hỏa Bản (Tuần Hỏa Bản) đúc bằng đồng hay thau, thường được vị chịu trách nhiệm hộ liêu vừa đánh vừa lắc Hỏa Linh (một loại chuông lắc nhỏ) trong lúc đi tuần phòng sau khi hiệu lệnh Chỉ Tịnh (nghỉ ngơi) đã đánh lên, nhằm nhắc nhở đại chúng đề phòng hỏa hoạn, dập tắt củi lửa, hương đèn v.v…

[51] Bài viết này được đánh số 10 trong phần Tạp Trước của Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên, quyển 4.

[52] Đây chính là “bài Ký về sự vãng sanh của cư sĩ Sa Kiện Am” được đánh số 36 trong phần Ký thuộc quyển thứ tư của bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên.

Tin liên quan